All Quiet on the Western Front
Friday, November 22, 2013 6:33:37 PM
All Quiet on the Western Front
Translated from the German by A. W. WHEEN FAWCETT CREST
This book is to be neither an accusation nor a confession, and least of all an
adventure, for death is not an adventure to those who stand face to face with it. It
will try simply to tell of a generation of men who, even though they may have
escaped its shells, were destroyed by the war.












Minhcineenebo # Friday, November 22, 2013 6:47:36 PM
Từ khi chúng tôi đến đây, cuộc sống cũ thế là bị cắt đứt hẳn, mặc dầu chúng tôi chẳng làm gì để cắt đứt nó cả. Nhiều lần, chúng tôi thử tìm nguyên nhân và cắt nghĩa tại sao, nhưng cũng không có kết quả mấy. Đối với bọn hai mươi tuổi chúng tôi, cái gì cũng rất là mơ hồ: với Cốp, Muynlơ, Lia và tôi, với tất cả bọn tôi mà lão Căngtôrec gọi là tuổi trẻ gang thép.
Bọn lính nhiều tuổi hơn còn gắn bó chặt chẽ với quá khứ. Họ có một cơ sở, họ có vợ, có con, có nghề nghiệp, có những sợi dây ràng buộc khá vững chắc mà chiến tranh cũng không cắt đứt nổi. Nhưng chúng tôi, với cái tuổi hai mươi, chúng tôi chỉ có cha mẹ và một vài đứa trong bọn, có người yêu. Chẳng có gì đáng kể. Dù cái tuổi chúng tôi, quyền lực của cha mẹ chẳng còn được là bao, mà phụ nữ cũng chưa chi phối được chúng tôi nữa. Ngoài cái đó ra, những cái khác chẳng có gì đáng kể. Một chút mơ mộng viễn vông, vài cái ngông rởm và nhà trường; cuộc sống của chúng tôi chưa đi đến đâu.
Và bây giờ chẳng còn lại cái gì của cuộc sống ấy nữa. Căngtôrec đã nói rằng chúng tôi đang bước vào ngưỡng cửa của cuộc đời. Đúng là như vậy . Chúng tôi đã là bọn trên không chằng, dưới không rễ, chiến tranh như một con sông đã cuốn chúng tôi theo dòng của nó. Với những người nhiều tuổi hơn, chiến tranh chỉ là một sự gián đoạn. Họ có thể nghĩ đến một cái gì vượt ra ngoài phạm vi của nó.
Nhưng chúng tôi, chúng tôi đã bị chiến tranh tóm lấy: và không biết về sau ra làm sao nữa. Hiện giờ, chúng tôi chỉ biết rằng mình đã trở nên cục súc một cách kỳ quái và đau đớn, dù rằng nhiều khi chúng tôi không còn đủ sức để cảm thấy buồn phiền nữa.
Tuy Muynlơ thèm muốn đôi ủng của Kemơrich, nhưng nó vẫn thương bạn, không kém gì một người khác mà cảnh đau xót có thể ngăn chặn những ý nghĩ tương tự. Có điều là nó biết nhận ra chỗ khác nhau.
Nếu đôi ủng ấy còn được đôi chút ích lợi cho Kemơnch thì Muynlơ thà dẫm chân không lên dây thép gai còn hơn là nghĩ cách chiếm đoạt lấy nó. Đằng này đôi ủng chẳng còn dính dáng đến sức khỏe Kemơrich nữa, trong khi nó rất có thể được việc cho Muynlơ.
Kemơrich chết đến nơi, ai thừa hưởng đôi ủng ấy mà chả thế. Vậy tại sao Muynlơ lại không có thể lấm lét một tí. Hẳn là Muynlơ có quyền hơn một gã y tá chứ. Chờ đến lúc Kemơrich chết thì muộn quá. Chính vì vậy mà ngay từ lúc này, Muynlơ đã mở mắt thao láo ra mà theo dõi. Chúng tôi đã mất ý thức về mọi kiểu quan hệ khác vì chúng đều giả tạo; chỉ có thực tế mới đáng kể và có tầm quan trọng đối với chúng tôi. Và những đôi ủng tốt thì hiếm lắm.
Không phải một ngày mà đẻ ra điều đó. Khi đến sở mộ binh chúng tôi chỉ mới là một lớp học gồm hai mươi cậu trai trẻ, đầy hãnh diện, cùng đi cạo trọc đầu một loạt (với nhiều đứa, đó là lần đầu tiên) trước khi bước vào sân trại lính. Chúng tôi chưa đứa nào có dự định rõ ràng về tương lai cả; rất ít đứa có ý nghĩ hẳn hoi về nghề nghiệp làm ăn sinh sống sau này. Trái lại, đầu óc chúng tôi đầy những ý nghĩ lông bông, gán cho cuộc đời và cho cả chiến tranh nữa, một tính chất lý tưởng và gần như lãng mạn.
Thời gian luyện tập quân sự kéo dài mười tuần lễ và số ngày ấy đủ thay đổi chúng tôi một cách căn bản hơn là mười năm trên ghế nhà trường. Chúng tôi đã học được rằng một cái cúc áo đánh bóng cẩn thận còn quan trọng hơn là cả bốn tập sách Scôpenhacơ. Lúc đầu chúng tôi ngạc nhiên, rồi đến bực bội, sau cùng là mặc kệ, chúng tôi nhận thấy không phái trí tuệ có vẻ chiếm phần ưu thế, mà là cái bàn chải đánh xi, không phải tư tưởng mà là "quy tắc”, không phải sự tự do mà là cách luyện tập. Chúng tôi đã đi lính với tất cả lòng hào hứng và tự nguyện, nhưng người ta đã làm đủ thứ để chúng tôi chán ngán. Sau ba tuần lễ, chúng tôi đã hiểu rất rõ rằng một gã phu trạm đeo lon có uy quyền đối với chúng tôi hơn cả bố mẹ chúng tôi trước kia, hơn cả những người dạy dỗ chúng tôi, hơn tất cả những bậc thiên tài của nền văn hóa, từ Platông cho đến Gợt. Với những cặp mắt non trẻ và rất linh lợi, chúng tôi nhìn thấy cái khái niệm cổ điển về tổ quốc mà các thầy giáo trước kia nhồi cho chúng tôi, bây giờ tới đây đã đạt đến chỗ tước đoạt nhân cách mà người ta chẳng bao giờ dám làm đối với cả những người đầy tớ hèn hạ nhất.
Chào, đứng nghiêm, đi nghiêm, bồng súng, quay bên phải, hoặc quay bên trái, đập gót chân, chịu dựng những lời sỉ vả, va vấp hàng nghìn chuyện, thật thế, trước đây chúng tôi đã nghĩ đến cái sứ mệnh của chúng tôi với một ý nghĩ khác hẳn, thế mà nay chúng tôi thấy người ta chuẩn bị cho chúng tôi trở nên những bậc anh hùng y như người ta tập ngựa trong rạp xiếc vậy.
Nhưng rồi cũng quen thôi. Thậm chí chúng tôi cũng biết rằng một phần của những cái đó là cần thiết, nhưng cái phần còn lại kia thì thật là thừa. Con nhà lính rất tinh đối với những chuyện như thế.
Lớp học của chúng tôi bị chia thành từng nhóm ba người, bốn người, đợi đưa vào các phân đội: chúng tôi cùng ở với những anh thuyền chài, những anh nông dân, những anh thợ nhà máy, những anh thợ thủ công người xứ Fridơ, . . . và chúng tôi rất chóng thân nhau. Cốp, Muynlơ, Kemơrich và tôi được điều đến phân đội thứ chín, đứng đầu là Himmenxtôt.
Hắn nổi tiếng là tay "hắc xì dầu', đểu nhất trại, và hắn lấy làm hãnh diện về cái đó. Một con người béo lùn, đi lính đã mười hai năm, râu mép đỏ hoe, cong vểnh lên, nguyên là phu trạm lúc còn ở ngoài.
Đối với Cốp, Jađơn, Vethut và tôi, hắn giám sát một cách đặc biệt vì hắn cảm thấy bọn tôi có vẻ bướng ngầm đối với hắn. Một buổi sáng, tôi phải dọn giường cho hắn đúng mười bốn lần, lần nào hắn cũng không vừa ý, rồi lại rũ tung ra. Trong hai mươi giờ liền tất nhiên cũng có những lúc nghỉ, tôi đã phải đánh mỡ một đôi ủng rắn như đá và đã làm cho nó mềm nhũn ra, đến nỗi chính Himmenxtôt không còn kêu vào đâu được nữa. Theo lệnh hắn, tôi phải kỳ cọ cả căn phòng cho sạch như mới, bằng một chiếc bàn chải đánh răng. Cốp và tôi bắt đầu chấp hành cái mệnh lệnh phải quét tuyết ngoài sân doanh trại bằng một cái bàn chải cầm tay và một cái cào. Nếu không có một viên trung uý tình cờ đi đến đuổi chúng tôi về và xạc cho Himmenxtôt một trận nên thân thì chúng tôi còn phải làm cho đến lúc chết cóng. Khốn nỗi, hậu quả của việc này là Himmenxtôt ngày càng hằn học đối với bọn tôi. Tôi phải nhận phiên gác bốn ngày chủ nhật liền và trong thời gian ấy cũng phải "cấm phòng” luôn. Với toàn bộ quân trang vũ khí, tôi đã phải tập những động tác sau đây trên một bãi đất hoang trơn nhảy và ướt át: "Nhảy", "Nằm", "Nhảy", "Nằm!”, cho đến khi tôi biến thành một đống bùn nhoe nhoét và quỵ xuống vì kiệt sức. Bốn giờ sau tôi đã phải đến trình diện Himmenxtôt cùng với tất cả đồ lễ đã cọ rửa tinh tươm. Quả thực hai bàn tay tôi tóe máu vì phải kỳ cọ nhiều quá. Cùng với Cốp, Vethut và Jađơn, tôi đã phải đứng nghiêm trong mười lăm phút, không đeo bít tất tay giữa lúc trời rét khủng khiếp, ngón tay trần áp vào nòng súng. Trong khi ấy bọn Himmenxtôt đi bách bộ xung quanh bọn tôi mắt gườm gườm nhìn xem bọn tôi có cựa quậy tí nào không để bắt lỗi. Hai giờ đêm chỉ phong phanh cái áo lót mà tôi phải chạy liền tám lần, thật nhanh, từ tầng gác trên của doanh trại xuống tận dưới sân, chỉ vì tội để quần đùi chờm vài phân ra ngoài mặt ghế đẩu, nơi mọi người phải xếp gói quần áo của mình theo đúng quy cách. Thầy cai trực tuần -Himmenxtôt - vừa chạy đến bên vừa mắng nhiếc.
Trong buổi tập đâm lê, bao giờ tôi cũng phải đấu với Himmenxtôt; hắn bắt tôi cầm một cái gậy bắt nặng chình chích, còn hắn chỉ cầm một cái gậy gỗ xử dụng thuận tiện, thành thử hắn có thể dễ dàng đâm vào cánh tay tôi làm cho tím bầm nhiều chỗ. Nói của đáng tội, một lần tôi nổi hung lên, nhắm mắt xông bừa vào hắn, và thọc cho một cú vào bụng, mạnh đến nỗi hắn ngã quay lơ ra. Khi hàn định kiện thì viên chỉ huy đại đội lại chế giễu hắn và bảo từ nay phải cẩn thận hơn, thế thôi. Ông ta đã biết tỏng Himmenxtôt rồi và lấy làm thú vị về cái chuyện hắn bị một vố như vậy. Tôi đã trở nên một tay xuất sắc về môn leo xà ngang và dần dần tôi chẳng hãi một địch thủ nào trong môn co đầu gối. Nghe thấy tiếng Himmenxtôt là bọn tôi cung đủ phát run lên, nhưng cái con ngựa trạm đã thành man rợ ấy đừng hòng làm cho bọn tôi phải hạ cờ khuất phục.
Một ngày chủ nhật, Cốp và tôi, hai đứa cầm gậy kéo lê qua sân trại những thùng phân của nhà xí; đúng lúc ấy, Himmenxtôt tạt qua đó, áo quần bảnh chọe, sắp sửa đi chơi. Hắn dừng lại trước mặt chúng tôi hỏi xem làm thế có thích không. Thế là mặc kệ, muốn ra sao thì ra, chúng tôi giả vờ trượt chân một cái hất cả thùng phân vào chân hắn, hắn phát điên phát cuồng lên, nhưng vố ấy thật là đích đáng.
- Phải cho chúng mày ra tòa án binh? - Hắn thét lên.
Cốp đã chán ngấy cái giọng ấy, trả lời:
- Nhưng trước hết sẽ có một cuộc thẩm vấn, khi ấy chúng tôi sẽ nói toạc móng heo...
- Chúng mày dám nói với thầy cai như thế hả? - Himmenxtôt gầm lên. - Chúng mày điên rồi hả? Đứng đấy tao hỏi đã. Chúng mày định làm gì hả?
- Chúng tôi sẽ nói toạc hết mọi chuyện về thầy cai, - Cốp trả lời, ngón tay đặt trên nẹp quần.
Himmenxtôt hiểu ngay tình thế, cút thắng, chẳng ho he gì nữa.
Nói cho đúng thì lúc sắp đi, hắn cũng còn lầu bầu:
- Rồi chúng mày sẽ biết tay ông.
Nhưng thế là bao nhiêu uy tín của hắn đi đời nhà ma. Một lần khác hắn còn bắt chúng tôi tập ở bãi hoang, vẫn những động tác "Nằm", "Nhảy", "Nằm", "Nhảy"! Thực tình, chúng tôi vẫn tuân theo, vì mệnh lệnh là mệnh lệnh, nhưng chúng tôi làm một cách chậm chạp đến nỗi Himmenxtôt phải tuyệt vọng.
Chúng tôi bình thản nhích đầu gối lên, rồi đến hai tay, và cứ thế tiếp tục; trong lúc đó hắn phát khùng lên, đã ra một lệnh khác rồi. Trước khi chúng tôi toát mồ hôi, thì hắn đã khản đặc cả tiếng.
Sau đó, hắn để chúng tôi yên. Kể thì hắn vẫn xạc chúng tôi là "đồ lợn", nhưng xem ý đã có vẻ nể.
Nhiều thầy cai khác tỏ ra đã biết điều hơn và rất phải chăng. Họ cũng là số đông nữa. Nhưng trước hết thầy nào cũng muốn giữ cái chân "dạy dỗ" ở hậu phương càng lâu càng hay, mà muốn thế thì phải hắc với lính mới.
Thực ra, chúng tôi đã hiểu một cái bãi tập của trại lính có thể lịch sự đến mức nào rồi: và nhiều phen chúng tôi đã phải điên cuồng gào thét lên.
Nhiều đứa trong bọn tôi đã phát ốm, thậm chí thằng Vôn đã chết vì sưng phổi, nhưng nếu chúng tôi đầu hàng thì người ta sẽ cho chúng tôi là đám hèn.
Chúng tôi trở nên khắc khổ, đa nghi, tàn nhẫn, hay hằn thù, cục súc, mà như thế cũng tốt thôi, vì chính chúng tôi đang thiếu những đức tính ấy. Giả dụ người ta điều ngay chúng tôi đến các chiến hào, mà không có thời kỳ huấn luyện ấy, chắc hẳn nhiều đứa trong bọn tôi sẽ phát điên.
Như thế chúng tôi đã dược chuẩn bị cho những gì đang chờ đợi mình.
Chúng tôi không bị quật ngã. Trái lại chúng tôi thích ứng được với hoàn cảnh. Cái tuổi hai mươi của chúng tôi, tuy non nớt đối với nhiều việc khác, lại được cho chúng tôi về việc này. Nhưng điều quan trọng nhất là một tình cảm vững chắc về đoàn kết đã trỗi dậy trong chúng tôi, tình cảm đó ở ngoài mặt trận làm nảy nở cái quý nhất mà chiến tranh tạo nên, đó là tình đồng đội.
Tôi ngồi cạnh giường Kemơrich. Mỗi lúc nó thêm nguy ngập. Chung quanh chúng tôi, om sòm, rầm rĩ.
Một chuyến tàu y tế vừa mới đến và người ta lựa những thương binh còn có thể chuyên chở được. Người thầy thuốc di qua giường Kemòlich, ông ta chẳng buồn nhìn nó nữa.
- Chắc là đến lượt sau. Phăng ạ. - tôi nói với nó.
Nó chống khuỷu tay lên, giữa những cái gối dựa.
- Họ đã cưa chân mình rồi, - nó nói.
Thế là bây giờ nó đã biết. Tôi gật đầu và trả lời:
- Cậu nên mừng là được thoát như thế.
Nó im lặng.
Tôi lại tiếp:
- Đáng lẽ bị cả hai chân cơ , Phăng ạ.
Veghêlơ đã mất cánh tay phải. còn khổ hơn chứ. Mấy lại cậu sẽ được về nhà cơ mà.
Nó nhìn tôi:
- Chắc không?
- Hẳn thế chứ lị.
Nó nhắc lại:
- Chắc không ?
- Nhất định thế Phăng ạ. Có điều là sau khi giải phẫu, cậu cần phải lại sức đã.
Nó ra hiệu bảo tôi lại gần. Tôi cúi người sát vào nó và nó thì thầm:
- Mình không tin thế đâu.
- Phăng. Đừng có nói vớ vẩn; chỉ vài ngày là cậu sẽ biết thôi. Một một chân thì có sao đâu. Ở đây, người ta còn chữa được những ca nặng gấp mấy ấy chứ.
Nó giơ bàn tay lên:
- Cậu nhìn những ngón tay đây này.
Do giải phẫu đấy thôi. Cố ăn uống đi, rồi cậu sẽ mau khỏi. Các cậu ăn uống có: khá không? Nó chỉ cho tôi cái ớ a còn lưng một nửa. Tôi gần như gắt lên:
- Phăng, cậu phải ăn đi chứ, ăn là chính đấy. Ở đây cũng khá đấy chứ.
Nó xua tay, không đồng ý với tôi. Một lúc sau, nó nói thong thả:
- Trước kia mình cũng muốn đi làm kiểm lâm.
- Thì cậu vẫn có thể đi làm chứ sao. - tôi nói dể an ủi nó. - Hiện nay có những loại chân tay giả tuyệt lắm, lắp vào chính cậu cũng không thấy là mình thiếu một chân cơ, ăn khớp với các bắp thịt ghê lắm. Lắm lúc một bàn tay giả, người ta có thể cử động cả ngón tay, có thể làm lụng viết lách được nữa kia. Mấy lại, ngày càng có nhiều phát minh mới lạ chứ.
Nó im một lúc rồi nói:
- Cậu có thể lấy đôi ủng của mình cho thằng Muynlơ.
Tôi gật đầu và cố nghĩ xem có thể tìm được câu gì nữa để động viên nó không. Đôi môi của nó khuất đi, cái miệng trở nên rộng hơn, răng nhô ra hơn, trông như cục phấn, da thịt tiêu đi đâu cả, cái trán dô ra nhiều hơn, gò má lồi lên... Bộ xương đang hiện hình. Mắt dã trũng xuống. Chỉ vài giờ nữa là hết chuyện.
Không phải tôi trông thấy nó lần đầu, mà hai đứa đã cùng lớn lên với nhau . Thế mà bây giờ trông nó thật là khác hẳn. Tôi đã từng cóp bài của nó. Ở trường, nó thường mặc bộ quần áo màu hạt dẻ có thắt lưng, hai cái khuỷu tay bóng lên vì mài trên bàn. Ngoài ra, trong bọn tôi, chỉ có mình nó biết chơi quay thẳng tay trên xà đơn. Lúc ấy, tóc nó xõa xuống mặt trông như tơ vậy. Về chỗ này, lão Căngtôree lấy làm hãnh diện vì nó; nhưng lão ta lại không chịu được mùi thuốc lá. Da nó rất trắng.
Trông nó có cái vẻ gì của con gái.
Tôi nhìn xuống đôi ủng của tôi; đôi ủng mới to và thô làm sao; cái quần nhét vào đấy, phồng ra; khi đứng dậy, hai cái ống quần thùng thình trông người có vẻ đô lắm. Nhưng khi chúng tôi đi tắm, chân và vai đột nhiên lại còm nhom di. Khi ấy chúng tôi không còn là lính nữa, mà hầu như là những thằng bé con, không ai tin là chúng tôi có thể đeo ba lô được. Lúc chúng tôi cởi trần, thật là ngộ nghĩnh; chúng tôi là những gã thường dân, và chúng tôi cũng cảm thấy na ná như vậy.
Phăng Kemơrich lúc đi tắm, trông gầy bé như một đứa trẻ con, thế mà bây giờ nó nằm dài ở đây, tại sao lại thế nhỉ? Người ta cần phải dẫn tất cả nhân loại đến trước giường nó mà nói to lên rằng: "Này đây là Phăng Kemơrich, mười chín tuổi rưỡi, nó không muốn chết, xin đừng để nó phải chết .”
Những ý nghĩ của tôi trở nên lộn xộn. Cái không khí đầy mùi phê nôn và máu mủ hôi thối này làm tắt cả phổi, đó là một thứ hồ đặc quánh làm cho người ta ngạt thở.
Bóng tối tràn đến. Khuôn mặt Kemơrich xanh nhợt đi. Khuôn mặt nhô ra giữa hai cái tai và nhợt nhạt đến nỗi như nó lóe ra một ánh sáng yếu ớt. Cái miệng cử động nhè nhẹ. Tôi lại sát bên nó. Nó thì thầm: "Nếu cậu tìm thấy cái đồng hồ của mình, thì gửi về nhà hộ mình".
Tôi không phản đối gì cả. Bây giờ thật vô ích.
Không còn cách nào làm cho nó yên tâm được nữa. Sự bất lực dày vò tôi.
Trời! Cái trán với hai thái dương lõm sâu vào kia, cái mũi đã teo đi kia! Lại còn bà cụ khóc lóc ở nhà, mà tôi phải viết thư về! Chao ôi, giá cái thư ấy đã viết rồi! Bọn y tá xách chai, xách thùng đi qua. Một người trong bọn bước lại, nhìn Kemơrich có vẻ thăm dò, rồi lảng ra; rõ ràng là hắn đợi. Chắc là hắn đang cần cái giường.
Tôi sát lại gần Phăng, và nói với nó y như tôi có thể cứu sống được nó:
- Có lẽ người ta sẽ đưa cậu về an dưỡng đường Clôtecbe, chỗ có những biệt thự ấy, Phăng ạ. Ngồi bên cửa sổ cậu có thể nhìn tất cả vùng quê cho đến tận hai cái cây ở phía chân trời. Bây giờ đang là mùa dẹp nhất năm. Lúa sắp chín, buổi chiều, dưới ánh mặt trời cánh đồng chẳng khác gì xà cừ. Lại con đường trồng bạch dương dọc theo khu Clôtecbach mà bọn mình vẫn uống cà phê ngon tuyệt nữa chứ! Lúc ấy, cậu có thể bày một cái chậu thủy tinh và nuôi cá vàng, cậu có thể ra vào tùy ý, chẳng phải phép tắc gì cả, cậu lại có thể chơi đàn dương cầm nữa, nếu cậu thích.
Tôi cúi xuống khuôn mặt của nó đang chìm trong bóng tối. Nó còn thở thoi thóp. Mặt nó ướt đẫm, nó khỏe. Chao ôi, tôi ăn nói thật là vớ vẩn, chẳng ra làm sao!
Tôi quàng lấy vai nó và sát mặt tôi vào mặt nó.
- Bây giờ cậu có buồn ngủ không?
Nó không trá lời. Những giọt nước mắt chảy ròng ròng trên má. Tôi muốn lau cho nó, nhưng cái khăn tay của tôi bẩn qua. Một giờ trôi qua, tôi vẫn ngồi đây, đầu óc căng thẳng và tôi chăm chú theo dõi xem nó có muốn dặn gì nữa không. Giá nó mở to miệng la được và kêu lên! Nhưng nó chỉ khóc, đầu ngoẹo sang một bên. Nó chẳng nhắc gì đến mẹ, đến các anh em, chị em, nó chẳng nói gì cả; có lẽ tất cả những cái đó dã xa xôi đối với nó rồi. Giờ đây nó chỉ còn một thân một mình với cuộc đời hèn mọn, mười chín tuổi, nó khóc vì cuộc đời ấy bỏ nó mà đi.
Đó là cái chết cảm động, đau đớn nhất mà tôi chưa từng thấy, dù rằng lúc trước Tétgien chết cũng buồn lắm, nó khỏe như một con gấu, thét lên gọi mẹ, mắt mở trừng trừng, tay cầm cái lưỡi lê, đầy vẻ hoảng hốt, xua đuổi thầy thuốc ra khỏi giường nó, mãi cho đến lúc nó chết.
Bỗng Kemơrich bắt đầu rền rĩ và thở dốc. Tôi vùng dậy, lảo đảo chạy ra ngoài và hỏi: "Bác sĩ đâu rồi? Bác sĩ đâu rồi?" Chợt thấy cái áo choàng trắng, tôi ch ận lại:
- Ông đến ngay cho, nếu không Phăng Kemơrich chết mất.
Lão ta gỡ ra và hỏi người y tá đứng đấy:
- Cái gì thế?
Gã kia trả lời:
- Giường 26, cưa bắp đùi trên.
Lão thầy thuốc gắt lên:
- Làm thế nào mà hiếu được. Ngày hôm nay tôi cưa những năm cái chân .
Lão đẩy tôi ra và bảo người y tá:
- Đến xem sao! Rồi lão ta lại chạy đến phòng mổ.
Tôi giận điên lên, đi theo gã y tá. Hắn nhìn tôi và nói:
- Hết cưa lại đến cắt: suốt từ năm giờ sáng đến giờ đấy anh bạn ạ, mình nói thật cậu biết, riêng ngày hôm nay thêm mười sáu người chết. Cái thằng của cậu đây là thứ mười bảy. Nhất định là phải đến hai chục.
Tôi tưởng chừng quỵ xuống. Không còn sức đi nữa.
Tôi cũng không muốn nổi nóng nữa. Vô ích, tôi chỉ muốn ngã gục xuống và không bao giờ đứng dậy nữa.
Chúng tôi đến trước giường Kemơrich. Nó đã chết, mặt còn đẫm nước mắt. Mắt nửa nhắm nửa mở…
Gã y tá huých tôi một cái vào sườn:
- Có lấy đồ đạc không?
Tôi gật.
Hắn tiếp:
- Chúng tớ phải mang hắn đi ngay vì cần giường.
Nhiều người khác còn nằm ngoài hành lang kia kìa.
Tôi nhặt nhạnh đồ lề và tháo cái biến căn cước của Kemrich. Gã y tá hỏi quyển quân bạ.
- Không có đấy !Tôi nói có lẽ quân bạ ở văn phòng đại đội và tôi đi .
Đằng sau tôi, họ đã lôi Phăng vất lên một tấm vải bạt.
Bên ngoài bóng tối và gió như giải thoát cho tôi.
Tôi thở thật mạnh, và cảm thấy không khí phớt qua da mặt, nóng ấm và êm dịu hơn bao giờ hết. Đột nhiên tôi nghĩ đến bọn con gái, đến những đồng cỏ nở hoa, đến những đám mây trắng. Đôi chân tôi cứ tự chúng bước trong những chiếc giày; tôi rảo bước, tôi chạy.
Những người lính đi qua bên tôi; những lời họ nói kích động tôi, nhưng tôi chẳng hiểu gì cả. Mặt đất căng đầy sinh lực, xuyên qua bàn chân tràn ngập vào người tôi.
Đêm rung chuyển ngàn tia lửa điện. Đường hỏa tuyến vang động ào ào như một dàn trống hòa với nhau.
Chân tay tôi cử động nhanh nhẹn. Tôi thở và tôi vùng vẫy . Đêm khuya đang sống. Cả tôi nữa, tôi cũng đang sống. Tôi đói, một cái đói cồn cào ghê gớm hơn lúc chỉ đói từ trong bụng.
Muynlơ đứng trước lán. Nó đợi tôi. Tôi đưa đôi ủng của Kemơrich cho nó. Chúng tôi đi vào, nó xỏ thử đôi ủng, thật là vừa khít. Nó lục trong đống lương thực, biếu tôi một miếng xúc xích to. Ngoài ra, lại còn nước chè pha rượu rum, rất nóng.
hết: Chương 2
Minhcineenebo # Friday, November 22, 2013 7:36:29 PM
- Phải đấy Cát ạ, ta lấy một khẩu súng lục.
- Đưa đây, - anh ta nói và dừng lại.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 8:49:14 AM
Chúng tôi đã mất hết cả tình đồng đội. Chúng tôi chỉ thoáng nhận ra nhau khi hình ảnh của người khác đập vào đôi mắt của chúng tôi, của con thú bị săn đuổi. Chúng tôi là những người chết vô tri vô giác, do một thứ phép lạ và một thứ bùa chú nguy hại, còn đủ sức chạy và giết.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 9:07:41 AM
Chúng tôi bơ vơ như những đứa trẻ và thạo đời như những cụ già; chúng tôi thô lỗ, u sầu và hời hợt, tôi cho rằng chúng tôi đã hỏng hết.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 9:13:22 AM
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 9:15:52 AM
chức, hầu như toàn bộ là những cậu trẻ măng thuộc các toán lính mới mộ. Trước khi ra trận, chúng nó chỉ được huấn luyện qua loa, chỉ mới biết những động tác cơ bản. Chắc chúng nó cũng hiểu thế nào là quả lựu đạn, nhưng chúng biết rất ít về cách ẩn nấp, nhất là thiếu sự tinh nhanh. Mặt đất phải gồ lên đến năm mươi phân, chúng nó mới nhận ra.
Dù rằng viện binh đối với chúng tôi là rất cần nhưng những cậu lính mới chỉ tổ làm bận chúng tôi hơn là giúp ích chúng tôi. Trong khu vực chiên đấu ác liệt này, chúng nó bị mất hết tinh thần, ngã như sung rụng (Nguyên văn bản tiếng Pháp: ngã như ruồi). Chiến tranh trận địa ngày nay đòi hỏi người lính phải có kiến thức và kinh nghiệm; phái nắm được địa hình, tai nghe phai biết phân biệt các loại đạn và biết tác hại của chúng; phải biết tính trước viên đạn sẽ rơi xuống đâu, phạm vi phá hoại của nó bao nhiêu, và phải ẩn nấp ra sao.
Dĩ nhiên tất cả những cậu lính trẻ này hầu như chưa biết gì về những cái đó. Các cậu chết nhiều là vì chưa biết phân biệt đạn xì với đạn nổ; chúng nó chết như rạ là vì chúng hốt hoảng chăm chú nghe tiếng gầm của những "hòm than" vô hại và sẽ rơi rất xa còn cái tiếng rì rào, xì xì nhè nhẹ của những con quái vật nhỏ bé, nổ tung ngay sát mặt đất thì chúng nó lại không nghe thấy. Đáng lẽ phải tản ra thì chúng nó lại nép vào nhau như đàn cừu, cả đến những cậu đã bị thương rồi mà vẫn còn để cho tụi phi công bắn chết như bắn thỏ. Chao ôi ! Những bộ mặt khờ dại xám ngoét ấy, những bàn tay co quắp đáng thương ấy, sự can trường thảm hại ấy của những con chó khốn khổ ấy bất chấp sự đời, vẫn xông lên và tấn công; những con chó khốn khổ ấy, những con chó can đảm ấy, bị đe dọa đến nỗi không dám kêu lên và mặc dầu chân, tay, ngực, bụng đã bị rách nát, cũng chỉ dám rên lên khe khẽ gọi mẹ, nhưng khi người ta vừa nhìn chúng thì chúng lại im ngay tức khắc. Những khuôn mặt của chúng nhọn hoắt, đầy lông to và chết cứng, thiếu một cách đáng sợ cái thần sắc của những xác trẻ con.
Chúng tôi nghẹn ngào khi nhìn thấy chúng nó chồm lên, chạy và ngã xuống. Chúng tôi muốn đánh cho chúng một trận vì chúng nó ngu quá, lại cũng muốn ôm chúng vào lòng và mang chúng đi khỏi cái nơi không phải là của chúng. Chúng nó mặc quần áo màu xám, đi ủng lính, nhưng với số đông thì bộ quân phục rộng quá, lật phật quanh tay chân, vai chúng nó gầy quá, mình chúng nhỏ quá, không có thứ quân phục nào vừa cỡ bọn trẻ con ấy cả.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 9:21:38 AM
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 9:23:19 AM
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 9:37:21 AM
Nơi đây chúng tôi thường hay ngồi chơi- ngày ấy lâu quá rồi!
Chúng tôi thường đi trên cầu, ngửi mùi mát rượi và khăm khẳm của mặt nước im lìm. Chúng tôi thường hay cúi xuống ngắm dòng nước bình thản phía bên này cống, nơi bao nhiêu cây leo xanh và rong rêu bám lòng thòng ở chân cầu. và phía bên kia cống, những ngày nóng nực chúng tôi vừa hướng luồng hơi mát rượi của bọt nước bắn tung vừa tán gẫu về chuyện các thầy giáo.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 9:42:22 AM
Thậm chí họ cũng không hiểu nổi những kiểu cách ấy nữa, và họ không thích nhắc đi nhắc lại những cái mà họ đã biết rồi. Khi mẹ tôi nói với tôi: "Con yêu quý của mẹ ơi", thì cũng có nghĩa như một bà mẹ nói những lời đằm thắm cảm động nhất. Tôi biết lọ mứt quất là lọ mứt duy nhất của nhà tôi đã để từ lâu, mẹ đã để phần tôi, cũng như bánh bích quy mà mẹ đang cho tôi ăn bây giờ, cũng đã để từ lâu.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 9:46:43 AM
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 9:54:23 AM
Tôi chỉ thích ngồi một mình, không muốn ai quấy rầy. Vì lúc nào ai cũng chỉ xoay quanh những chuyện: “Gay lắm phải không? Thế nào, khá chứ?”
..
Tôi cảm thấy bứt rứt, nhưng tôi không muốn bứt rứt như vậy, vả lại cũng không nên bứt rứt làm gì. Tôi muốn như trước kia, khi ngồi trước sách vở, vẫn cảm thấy sự hấp dẫn thầm lặng cái tình quyến luyến mạnh mẽ và khó tả. Tôi muốn cái niềm khát vọng trước kia, từ những gáy sách nhiều màu kia lại dâng lên, lại quyện lấy tôi, tôi muốn nó làm chảy tan cái khối chì nặng trĩu trong tôi để đánh thức dậy trong con người lòng nôn nóng về tương lai, cái niềm vui mọc cánh mà thế giới tư tưởng đem đến cho tôi. Tôi muốn nó đem lại cho tôi cái nhiệt tình đã mất đi của thời niên thiếu.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 9:57:08 AM
Điều tôi thèm muốn là căn phòng này phải nói lên với tôi, phải quấn quít lấy tôi phải giữ lấy tôi. Tôi muốn được rung cảm mối tình ruột thịt đối với chốn này. Tôi muốn nghe giọng nói của nó, để khi trở lại tiền tuyến, tôi biết được điều này: chiến tranh sẽ bị xóa nhòa và biến mất khi ta trở về nhà; chiến tranh sẽ chấm dứt; nó không ray rứt ta nữa, nó chỉ có quyền lực đối với ta ở cái vỏ bên ngoài thôi.
Những gáy sách vẫn xếp cạnh nhau, tôi vẫn nhận ra chúng, tôi vẫn còn nhớ cách thức tôi xếp đặt chúng. Tôi đưa mắt van nài chúng: "Hãy nói với ta đi, hãy chào đón ta đi, hãy giữ lấy ta đi, ôi cuộc đời xưa cũ, cuộc đời vô tư và đẹp đẽ, hãy giữ lấy ta..." Tôi chờ đợi, tôi chờ đợi...
Bao nhiêu hình ảnh lướt qua trước mặt tôi, chúng không có chiều sâu, chỉ là những bóng mờ kỷ niệm. Chẳng có gì, chẳng có gì cả.
Tôi càng lo lắng.
Đột nhiên một cảm giác ghê gớm trỗi dậy trong tôi. Ở đây tôi là một kẻ xa lạ. Tôi không thể tìm lại ở đây chỗ ngồi quen thuộc nữa. Chẳng khác gì người ta ruồng bỏ tôi. Tha hồ cho tôi kêu nài, van vỉ, chẳng có gì rung cảm cả. Tôi ngồi đấy, lạnh lùng và buồn bã như một kẻ bị kết án, và quá khứ quay lưng lại với tôi . Đồng thời, tôi sợ không dám gợi nhiều đến quá khứ, vì tôi không biết cái gì sẽ đến. Tôi là người lính, tôi không thể rời bỏ cương vị ấy được.
Tôi uể oải đứng dậy, và nhìn qua cửa sổ. Rồi tôi cầm lấy một quyển sách, mở ra, cố đọc một vài đoạn, nhưng rồi lại vất xuống, và cầm một quyển khác. Có những đoạn gạch dưới; tôi tìm, tôi lật vài trang, rồi tôi lại lấy những quyển khác. Cạnh tôi đã có một đống sách. Những quyển khác tiếp tục, bồi thêm vào cái đằng ấy một cách vội vã hơn; rồi cả những tờ giấy, những quyển vở, những bức thư.
Tôi đứng lặng người trước cái đống ấy, như trước một tòa án. Không chút can đảm.
Những tiếng nói, những tiếng nói, những tiếng nói . . . Chúng không đến với tôi.
Tôi thong thả xếp sách vào chỗ cũ.
Thế là hết.
Tôi bước ra khỏi căn phòng không một tiếng động.
Tôi chưa từ bỏ nó hẳn. Đành rằng tôi không trở lại căn phòng của tôi nữa, nhưng tôi tự an ủi rằng, vài ngày chưa phải là quyết định. Rồi đây, sau này, tôi sẽ có thời gian hàng năm cho cái việc ấy.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 10:02:31 AM
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 10:05:47 AM
- Con có sợ lắm không?
- Không mẹ ạ.
- Mẹ muốn dặn con một điều cuối cùng, con phải coi chừng bọn đàn bà bên Pháp, con nhé. Ở cái xứ ấy chúng nó không tốt đâu.
Chao ôi? Mẹ ơi, đối với mẹ, con vẫn là một đứa bé. . .
Tại sao con không thể gục đầu lên gối mẹ mà khóc? Tại sao con cứ phải là kẻ bình tĩnh hơn và cứng rắn hơn. Vậy mà có lần con cũng muốn khóc, và cũng muốn được dỗ dành. Thực ra, con cũng chẳng hơn một đứa bé mấy tí; trong tủ vẫn còn treo những chiếc quần đùi ngắn cũn cỡn của con mà. Cung chỉ mới ngày nào thôi. Tại sao lại là quá khứ rồi?
Tôi cố sức trấn tĩnh và nói:
- Chỗ chúng con đóng, chẳng có đàn bà đàn biếc gì đâu mẹ ạ ! Ở mặt trận phải khôn ngoan lắm mới được, Pôn nhé.
Chao ôi! Mẹ ơi! Mẹ ơi? Sao hai mẹ con ta lại không thể ôm nhau cùng chết?
Đời chúng ta sao mà tủi nhục thế!
- Vâng mẹ ạ, con sẽ khôn ngoan.
- Hàng ngày mẹ sẽ cầu nguyện cho con, Pôn ạ.
Chao ôi! Mẹ, mẹ ơi! Sao hai mẹ con ta không thể đứng dậy, trở về những năm quá khứ, cho đến khi tất cả nỗi khổ cực này phải từ bỏ chúng ta, trở về cái thuở chỉ có hai mẹ con ta với nhau, cả hai mẹ con, mẹ nhỉ!
- Con có thể đóng ở một nơi ít nguy hiểm hơn không?
- Vâng mẹ ạ, có lẽ con sẽ nhận việc làm bếp, rất có thể được.
- Cứ nhận con nhé, ai nói gì mặc người ta.
- Mẹ đừng lo cái ấy, mẹ ạ...
Mẹ tôi thở dài, nét mặt mẹ là một vệt trắng trong bóng tối.
- Bây giờ mẹ phải đi ngủ đi, mẹ ạ.
Mẹ tôi không trả lời. Tôi đứng dậy và lấy chăn quàng lên vai mẹ; mẹ tôi dựa vào cánh tay tôi, mẹ tôi đau khổ. Tôi bế mẹ tôi về phòng. Tôi còn ngồi một lúc bên mẹ.
- Từ giờ đến ngày con trở về, mẹ cố khỏi mẹ nhé.
- Được, được, con ạ.
- Có gì mẹ đừng gửi cho con, mẹ nhé, ở ngoài ấy chúng con có đủ thức ăn rồi. Ở nhà những thức ấy cần cho mẹ hơn.
Khốn khổ biết bao, con người nằm trên chiếc giường kia, con người yêu tôi hơn tất cả mọi thứ trên đời . Khi tôi muốn đứng dậy, mẹ tôi vội vã bảo tôi:
- Mẹ có tìm được cho con hai chiếc quần trong nữa, bằng len tất đấy, con mặc chắc ấm lắm, nhớ bỏ vào ba lô nhé.
Chao ôi! Mẹ ơi! Con biết hai cái quần trong ấy đã làm mẹ tốn biết bao thì giờ và công sức để tìm kiếm, chạy vạy và năn nỉ. Chao ôi, mẹ ơi, làm sao có thể nghĩ được rằng con bắt buộc phải xa mẹ? Ngoài mẹ ra, ai có quyền gì đối với con. Con ngồi cạnh mẹ, mẹ nằm đó, hai mẹ con có bao nhiêu chuyện nói với nhau, nhưng không bao giờ có thể nói với nhau được.
- Mẹ ngủ ngon mẹ nhé.
- Con của mẹ ngủ ngon nhé.
Gian phòng tối đen. Hơi thở của mẹ tôi lên xuống.
...
Hai người đưa cho tôi một lọ mứt sệt, một gói bánh khoai rán mà mẹ tôi còn cố làm cho tôi.
Rồi tàu chạy, còn tôi, tôi quay trở lại.
Buổi tối, tôi phết mứt lên bánh rán và tôi ăn. Tôi chẳng thấy ngon lành gì cả. Vì vậy, tôi đi ra, định đem cho những người Nga. Nhưng tôi chợt nghĩ chính mẹ tôi đã làm những cái bánh này, và có lẽ, đứng trước lò lửa nóng rực, mẹ tôi đau lắm. Tôi lại cất gói bánh vào ba lô, chỉ đem cho bọn người Nga hai cái.
..
Trước khi đi ngủ, tôi lấy chỗ bánh rán và mứt sệt còn lại ra để cho chúng nó cũng được hưởng một tí.
Hai cái bánh rán dấu ở gối bắt đầu mốc; nhưng vẫn còn ăn được như thường. Tôi giữ lại phần tôi và đưa cho Cát và Cốp những cái nguyên vẹn. Cát nhai và hỏi:
- Bánh nhà cậu làm phải không?
Tôi gật.
- Đúng, cứ ăn là biết ngay, - anh ta nói.
Tôi gần phát khóc. Tôi không nhận ra mình nữa.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 10:21:15 AM
Nhưng đẹp hơn cả là những khu rừng với rặng cây phong viền bên ngoài. Các khu rừng mỗi lúc mỗi thay đổi màu sắc. Lúc này những thân cây lấp lánh màu trắng rực rỡ nhất và giữa các thân cây, màu xanh lam của cành lá đang rập rờn như một tấm lụa mỏng tang. Một lúc sau, tất cả lại ngả sang màu xanh mắt mèo lấp lánh ánh bạc; từ rặng cây ở mép rừng, màu xanh tràn đi và điểm lên cành lá; nhưng liền sau đó, ở một chỗ, màu sắc tối sầm lại gần như màu đen khi có đám mây lướt qua mặt trời. Rồi bóng đen ấy chạy như một bóng ma dọc các thân cây lúc này trở nên nhợt nhạt, và trải ra khắp cánh đồng hoang cho đến. tận chân trời. Trong khi ấy những cây phong đã vươn lên như những ngọn cờ uy nghi, với những cán cờ trắng muốt mang ánh vàng son của cành lá nhuộm màu.
Tôi thường mê mải với cảnh biến diễn ánh sáng nhẹ nhàng và bóng tối trong trẻo ấy, đến nỗi gần như không nghe thấy hiệu lệnh chỉ huy nữa: những lúc cô đơn, người ta thích quan sát cảnh thiên nhiên và đâm ra yêu mến nó. Ở đây tôi ít quen thuộc, vả lại, tôi cũng không thích có quan hệ với nhiều người.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 10:32:13 AM
Cái thứ nước bẩn thỉu, đục ngầu và chẳng béo bổ gì ấy chính là cái mà bọn tù binh khao khát. Họ đến múc nước ấy một cách thèm thuồng trong những chiếc thùng gỗ hôi thối, dấu nó vào trong áo khoác rồi mang đi.
Cái cảnh những kẻ thù của chúng tôi, nhìn tận mặt như vậy thật lạ lùng. Họ có những bộ mặt làm ta phải suy nghĩ, những bộ mặt nông dân chất phác, trán rộng, mũi rộng, môi dầy, bàn tay to, tóc rậm.
Dùng họ để cày ruộng, cắt cỏ và hái táo thì tốt biết bao nhiêu. Trông họ còn hiền lành hơn cả những người nông dân của chúng tôi. Thật là đáng buồn khi trông thấy những cử chỉ của họ và cách thức họ xin một tí thức ăn. Tất cả bọn họ đều suy nhược, vì họ chỉ được lãnh một khẩu phần vừa đủ để khỏi chết dói. Đã lâu rồi, chúng tôi ăn uống cũng chẳng ra gì. Họ bị bệnh kiết lị. Với con mắt lo âu, nhiều người trong bọn họ chỉ trỏ một cách lén lút vết máu trên vạt áo sơ mi của họ. Lưng họ run lên bần bật, đầu họ nhìn chênh chếch từ dưới lên khi họ chìa tay ăn xin, mồm lắp bắp vài ba tiếng mà họ biết - khi họ ăn xin bằng cái giọng trầm trầm nhẹ nhàng và êm dịu, cái giọng gợi lên những lò sưởi ấm áp, những căn nhà mà người ta đang sống thoải mái ở tổ quốc.
Có những đứa đá họ ngã lăn xuống đất, nhưng đó chỉ là số ít. Phần đông chúng tôi cứ để mặc họ, khi họ đi bên cạnh. Thực ra, đôi khi thấy họ khốn khổ quá, người ta cũng điên tiết lên và đá cho một cái. Chao ôi ! Giá họ đừng nhìn anh như vậy. ]Xiết bao là tiếng khổ trong hai cái điểm nhỏ bé ấy, mà ngón tay cái đủ che kín cả trong đôi mắt của họ.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 10:36:37 AM
Họ đến gần hàng rào, đứng áp mặt vào đấy. Ngón tay họ bíu lấy những mắt lưới sắt. Nhiều khi một số đông tù binh đứng cạnh nhau như thế và thở hít làn gió từ cánh đồng hoang và những khu rừng thổi đến.
Họ rất ít nói và có nói cũng chỉ vài tiếng thôi. Họ có tính chất con người hơn và tôi gần như tin rằng họ thương yêu nhau hơn là chúng tôi đối với nhau ở đây.
Có lẽ vì họ khổ cực hơn chúng tôi chúng . Thế mà chiến tranh đã chấm dứt đối với họ; nhưng phải thấy rằng ngồi mà chờ bệnh kiết lị thì cũng chẳng phải là một kiếp người nữa.
..
Tôi ngắm những hình thù thiểu não ấy . Râu họ phất phơ trước gió. Tôi chỉ biết một điều về họ: họ là tù binh, và chính điều ấy làm tôi xúc động. Cuộc đời của họ không tên tuổi và không tội lỗi gì cả. Nếu tôi biết rõ số phận họ hơn nữa, nghĩa là họ tên gì, sinh sống ra sao, chờ đợi cái gì, cái gì làm cho họ khổ sở thì mối xúc động của tôi sẽ có một mục đích cụ thể và có thể trở nên tình thương. Nhưng lúc này, ở đây, tôi chỉ cảm thấy qua họ, nỗi đau khổ của con người, cảnh sầu thảm kinh khủng của cuộc đời, và sự thiếu lòng thương xót, đặc điểm của con người.
..
Một mệnh lệnh đã làm cho những hình thù lặng lẽ ấy trở nên kẻ thù của chúng tôi; bây giờ một mệnh lệnh khác có thể làm cho họ trở thành những người bạn của chúng tôi. Trên một cái bàn nào đó, có những người, mà chúng tôi chẳng ai quen biết, ký vào một bản viết; thế là, trong bao nhiêu năm, cái mục đích tối cao của chúng tôi trở nên cái điều mà trong thời bình người ta phải ghê tởm và phải trừng phạt một cách quyết liệt nhất. Vậy ai có thể tự nhận ra mình trong tất cả những cái ấy khi nhìn thấy ở đây những con người im lìm kia, với bộ mặt trẻ con và bộ râu của các vị thánh tông đồ? Bất cứ thầy cai nào đối với lính mới cũng như bất cứ giáo sư nào đối với học sinh, mà chả là kẻ thù hung ác hơn cả những người này đối với chúng tôi. Thế mà chúng tôi vẫn sẽ bắn vào họ, cũng như họ sẽ bắn vào chúng tôi, nếu như họ được tự do.
Tôi hoảng sợ; nếu cứ tiếp tục suy nghĩ về những chuyện này thì nguy quá. Con đường ấy sẽ đẩy xuống vực mất. Ngày ấy chưa đến. Nhưng tôi không muốn để rớt mất ý nghĩ này, tôi muốn giữ gìn nó, dấu diếm nó một cách cẩn thận cho đến khi chiến tranh kết liễu.
Tim tôi đập rộn: đây là mục đích, mục đích cao cả, mục đích duy nhất mà tôi nghĩ tới trong chiến hào, mực đích mà tôi đã tìm kiếm, xem nó như có thể hướng dẫn đời tôi sau cái tai họa lớn đã giáng xuống tất cả nhân loại này.
Phải chăng trong cuộc sống này của tôi, cái đó sẽ là một công việc xứng đáng với những năm khủng khiếp?
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 10:39:22 AM
Anh ta đứng đó mải mê kéo; nhiều lúc anh ta có nét mặt mơ màng của những người chơi vĩ cầm khi họ nhắm đôi mắt; rồi anh ta nhịp nhàng, đu đưa cây đàn và mỉm cười với tôi.
Có lẽ anh ta chơi những bản dân ca, vì những người khác khe khẽ hát theo. Tiếng đàn dồn dập âm thầm, dường như rung lên từ lòng đất. Tiếng vĩ cầm vươn lên như một nàng thiếu nữ mảnh dẻ, nghe trong trẻo và cô đơn. Tiếng hát ngừng lại, nhưng tiếng đàn vẫn tiếp tục, âm thanh phát ra thánh thót trong đêm, tưởng chừng đang run rẩy. Muốn thưởng thức tiếng đàn phải đứng thật gần, giá ở trong một căn phòng thì hay biết mấy. Ở đây ngoài trời, người ta đâm ra buồn bã trước cái âm thanh mơ hồ và cô đơn ấy.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 10:47:42 AM
- Riêng tớ nghĩ thì vẫn xảy ra, - tôi nói, - người ta nói đâu chính ngài cũng không muốn chiến tranh.
- Phải, có lẽ mình ngài thì chưa đủ, những trên thế giới có độ hai chục hoặc ba chục người nữa, cùng với ngài, đều nói không cả, thì chắc là đủ lắm.
- Có thể như vậy? - tôi nói vẻ nhượng bộ, - nhưng chính cái hai hay ba chục người ấy lại muốn có chiến tranh cơ mà.
- Càng nghĩ càng thấy kỳ quặc, - Cốp nói tiếp. - Chúng mình ở đây để bảo vệ tổ quốc của chúng mình.
- Nhưng tụi Pháp chúng nó cũng ở đây để bảo vệ tổ quốc của chúng nó. Vậy ai có lý?
- Có lẽ cả hai cùng có lý, - tôi nói bừa.
- Cho được đi, - Anbe nói (xem điệu bộ nó, tôi biết nó sắp hỏi tôi một câu hóc búa đây) nhưng các giáo sư của chúng mình, cha cố của chúng mình, các báo chí của chúng mình đều nói rằng chỉ có chúng mình mới có chính nghĩa, và tớ cũng mong là như thế. Còn bọn giáo sư, bọn linh mục và báo chí của tụi Pháp lại nói rằng chỉ chúng nó mới có chính nghĩa. Như vậy thì ra làm sao?
...
tại sao chiến tranh lại nổ ra?
- Thông thường, là tại một nước này xúc phạm nặng nề đến một nước kia. - Anbe trả lời với giọng kẻ cả.
Nhưng Jađơn làm ra bộ ngớ ngẩn:
- Một nước ư? Tớ không hiểu. Nhưng một quả núi của nước Đức làm sao lại có thể xúc phạm một quả núi của nước Pháp được, một con sông, một khu rừng, một cánh đồng lúa mì, cũng thế thôi.
- Sao mà mày ngu đến thế, hay là mày muốn khôi hài. - Cốp lầu bầu. - Tao có định nói thế đâu.
- Một dân tộc này xúc phạm một dân tộc kia.
Nếu vậy thì tớ ở đây làm gì - Jađơn đáp lại - Tớ chả thấy bị xúc phạm tí nào cả.
- Người ta lại phải trình với mày với mình nữa hay sao? - Anbe nói với giọng bực tức. - Cái hạng dân ngu khu đen như mày thi ai đếm xỉa đến.
- Nếu vậy lại thêm một lý do nữa để tớ trở về nhà.
- Jađơn nhấn mạnh.
Mọi người cười ồ lên.
- Thật đồ ngu như lợn, đây là một dân tộc nói chung, nghĩa là Nhà nước. - Muynlơ thét lên.
- Nhà nước, Nhà nước (vừa nói Jađơn vừa búng ngón tay một cái ranh mãnh) những bọn xen đầm, cảnh sát, thuế má, đấy Nhà nước của các cậu đấy. Nếu những cái đó làm cho cậu thích thú thì tớ xin bái phục cậu.
- Đồng ý. - Cát nói - Lần đầu tiên cậu nói được một câu có nghĩa lý đấy, Jađơn ạ; giữa Nhà nước và Tổ quốc, quả là có một sự khác nhau.
Nhưng cái này đi đôi với cái kia. - Cốp suy nghĩ.
- Làm gì có một Tổ quốc mà lại không có Nhà nước?
- Đúng! - Cát đáp - nhưng cậu thử nghĩ mà xem, chúng ta hầu hết là con nhà bình dân, và ở Pháp cũng vậy, phần đông là lao công, thợ thuyền và dân làm thuê. Tại sao một anh thợ khoá và một anh thợ giày người Pháp lại muốn đánh chúng ta? Không, đó chỉ là những chính phủ. Trước khi đến đây, mình chưa hề gặp một người Pháp nào, và phần đông người Pháp đối với chúng ta cũng thế thôi. Chẳng ai hỏi ý kiến họ, cũng như chẳng ai hỏi ý kiến chúng mình bao giờ.
- Vậy tại sao lại có chiến tranh? - Jađơn hỏi.
Cát nhún vai:
- Phải có những người kiếm chác được trong chiến tranh được chứ.
- Ấy! tớ không phải cái hạng người ấy đâu nhé! - Jađơn cười khẩy.
- Chẳng phải cậu cũng chẳng phải ai trong số những người ở đây.
- Vậy ai kiếm chác được trong chiến tranh? - Jađơn gặng - Chiến tranh cũng chẳng có lợi lộc gì cho hoàng đế. Ngài đã có đủ mọi thức rồi cơ mà...
- Chớ nói thế. - Cát đáp. - Cho đến bây giờ, hoàng đế chưa làm một cuộc chiến tranh nào. Mà bất cứ vị hoàng đế nào mà chả cần ít ra là một cuộc chiến tranh, nếu không thì làm sao mà nổi danh được. Cậu hãy xem trong những quyển sách giáo khoa thì biết.
- Các vị tướng cũng nhờ có chiến tranh mà nổi tiếng đấy. - Đêtơrinh nói.
- Nổi tiếng hơn cả là những vị hoàng đế ấy nữa chứ? - Cát xác nhận.
- Chắc hẳn đằng sau bọn này còn có những người khác cũng muốn chiến tranh mang lại lợi lộc cho họ chứ? - Đêtơrinh lầu bầu.
- Tớ cho rằng nó là một thứ bệnh phát sốt thì đúng hơn. - Anbe nói. - Thật ra chẳng ai muốn chiến tranh cả, thế mà đùng một cái, nó đến. Chúng mình không muốn chiến tranh, những người khác cũng nói vậy; thế mà một nửa nhân loại đang lăn xả vào đấy.
Nhưng ở phía bên kia, chúng nó nói dối nhiều hơn bên chúng mình, - tôi nói. - Các cậu hãy xem những tờ giấy bắt được trong người bọn tù bình thì biết; chúng nó nói rằng ở Bỉ, chúng mình ăn thịt cả trẻ con... Những thằng khốn nạn viết lách như vậy phải đem mà treo cổ lên. Những thằng ấy là thủ phạm chính cống đấy.
Muynlơ đứng dậy:
- Dù sao thì chiến tranh diễn ra ở đây còn hơn ở bên Đức. Các cậu hãy nhìn những cánh đồng hố trái phá kia kìa?
- Đúng đấy, - Jađơn hoà vào, - nhưng chẳng có tí chiến tranh nào cả thì còn tốt hơn nữa.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 11:01:11 AM
Tôi không còn là một mảnh đời run rẩy, cô đơn trong bóng tối nữa; tôi gắn bó với họ và họ với tôi; chúng tôi đều có những cái sợ giống nhau và một cuộc sống giống nhau; chúng tôi kết hợp với nhau một cách vừa đơn giản vừa sâu sắc. Tôi muốn vục mặt vào trong những giọng nói ấy, vào trong mấy tiếng thì thầm ấy đã cứu giúp tôi và sẽ còn nâng đỡ tôi mãi.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 11:05:35 AM
Hai con mắt hắn nhìn theo tôi. Tôi không thể nào cử động trong lúc hai con mắt còn đó. Lúc này, bàn tay hắn từ từ và nhẹ nhàng nhích ra khỏi ngực; nó chỉ xê dịch độ vài phân thôi, nhưng cái động tác ấy cũng đủ làm cho đôi mắt bớt vẻ dữ dội đi. Tôi nghiêng người về phía trước, tôi lắc đầu và thầm thì: "Không, không, không", tôi giơ một bàn tay lên, cho hắn thấy là tôi muốn cứu chữa hắn, rồi tôi đặt bàn tay lên trán hắn.
Đôi mắt chớp chớp khi bàn tay tôi sát lại; bây giờ chúng không còn nhìn trừng trừng như trước nữa, lông mi hạ xuống, vẻ căng thẳng dịu bớt. Tôi cởi khuy áo cổ hắn, để cho đầu hắn thoải mái hơn.
Hắn há nửa miệng; hắn cố nói vài tiếng gì đó.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 11:08:58 AM
bạn... bạn...", nhấn mạnh vào tiếng đó để hắn hiểu.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 11:09:51 AM
Đấy là tất cả những gì tôi có thể làm được. Cả hai người chỉ còn biết đợi, đợi.
Chao ôi! Những giờ phút này, những giờ phút này?
Tiếng khò khè lại nổi lên. Một con người sắp chết mới chậm chạp làm sao! Vì tôi biết rằng không có cách nào cứu sống hắn được. Thực ra, tôi đã cố nghĩ khác, nhưng đến trưa, những tiếng rên của hắn đã phá tan hết niềm hy vọng giả dối ấy. Nếu trong khi bò, tôi không đánh rơi khẩu súng lục, thì tôi đã kết liễu hắn bằng một phát cho rồi. Tôi không còn sức đâm hắn nữa.
Buổi chiều hôm đó, tôi hoang mang đến cực độ.
Cái đói dày vò dữ dội; tôi gần phát khóc lên vì đói, nhưng không thể nào chống lại nó được. Nhiều lần tôi đi lấy nước cho gã hấp hối và chính tôi cũng uống.
Đấy là con người đầu tiên chính tay tôi giết, tôi có thể biết một cách rõ ràng như thế, cái chết do chính tôi tạo ra. Cát, Cốp, Muynlơ cũng đã nhìn thấy những người mà chúng nó giết; rất nhiều đứa khác cũng thế, nhiều khi ngay cả trong một trận đánh giáp lá cà...
Nhưng mỗi tiếng thở của hắn như xé lòng tôi. Cái gã hấp hối này còn thoi thóp được lúc nữa, hắn có một con dao vô hình đâm suốt qua người tôi, đó là thời gian và những ý nghĩ của tôi.
Tôi sẵn sàng chịu đựng tất cả để cho hắn sống.
Phải nằm đây nhìn hắn và nghe hắn rên thì khổ thực.
Đến ba giờ chiều, hắn chết.
Tôi thở phào, nhưng chẳng được lâu. Sự im lặng đối với tôi còn khó chịu hơn cả những tiếng rên. Tôi lại muốn nghe cái tiếng thở nấc của hắn, khò khè, thỉnh thoảng khẽ rít lên rồi lại khò khè ầm ĩ.
Việc tôi làm chẳng có nghĩa lý gì. Nhưng tôi cũng phải làm một cái gì đó. Vì vậy tôi xê dịch người chết một lần nữa, để cho hắn nằm ngay ngắn hẳn hoi. Tôi vuốt mắt hắn. Đôi mắt nâu; tóc đen, hai bên mái hơi xoăn.
Dưới bộ ria mép cái miệng đầy đặn và hiền lành.
Mũi hơi quặp, nước da xám, bây giờ cái nước da ấy không xỉn bằng lúc hắn chưa chết. Trong giây phút, trông mặt hắn, tưởng như một người đang khoẻ mạnh; nhưng nó biến đổi nhanh chóng thành bộ mặt kỳ lạ của những người chết mà tôi thường thấy và đều giống nhau.
Nếu hắn đi quá về bên trái hai thước nữa, thì lúc này hắn đã về đến chiến hào và hắn lại viết một bức thư nữa cho vợ rồi.
Những ý nghĩ ấy không giúp gì cho tôi cả, vì đó là số phận của tất cả chúng tôi; nếu Kemơrich dịch chân quá về bên phải mười phân nữa, nếu Hai cúi xuống thêm năm phân nữa...
Yên lặng kéo dài. Tôi nói, tôi phải nói . Vì vậy, tôi nói với hắn: "Này anh bạn, mình có muốn giết cậu đâu. Nếu cậu lại nhảy vào cái hố này một lần nữa, mình sẽ không làm thế nữa đâu, miễn là chính cậu, cậu cũng phải biết điều. Nhưng đầu tiên, đối với mình, cậu chỉ là một ý nghĩ, một sự tính toán nảy ra trong đầu mình, rồi nó dẫn đến một quyết định. Chính mình đã đâm vào cái sự tính toán ấy. Bây giờ, lần đầu tiên, mình nhận ra cậu cũng là một con người như mình. Mình đã nghĩ đến những quả lựu đạn của cậu, đến cái lưỡi lê và các thứ vũ khí của cậu; nhưng bây giờ, mình nhìn thấy vợ cậu, cũng như nhìn thấy mặt cậu và những gì giống nhau giữa hai đứa chúng mình. Bạn ơi, hãy tha thứ cho mình. Bao giờ chúng ta cũng nhìn ra sự việc một cách quá muộn. Tại sao người ta không nói cho bọn mình biết rằng chính các cậu, các cậu cũng chỉ là những con chó khốn khổ như bọn mình, rằng các bà mẹ của các cậu cũng đau khổ như mẹ chúng mình, rằng chúng ta đều sợ chết như nhau, đều chết một cách giống nhau, chịu những nỗi đau đớn như nhau? Bạn ơi, hãy tha thứ cho mình; tại sao cậu lại có thể là kẻ thù của mình? Nếu chúng ta bỏ những vũ khí và bộ quân phục này đi, thì cậu rất có thể là người anh em của mình, như Cát và An be vậy. Bạn ơi, cậu hãy lấy hai mươi năm của đời mình và cậu hãy đứng dậy đi... Đời mình còn gì nữa, cậu cứ việc lấy nốt đi, vì mình không biết là từ nay mình còn làm những gì nữa".
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 11:11:52 AM
Tôi cầm cái ví trong tay mà không biết làm gì. Nó tuột khỏi tay tôi và mở ra, ảnh và thư rơi ra. Tôi nhặt chúng lên, toan để vào chỗ cũ, nhưng cái trạng thái rã rời mà tôi đang lâm vào, tất cả cái tình huống bấp bênh này, cái đói, cái nguy hiểm, những giờ phút bên cạnh người chết, đã biến tôi thành một kẻ tuyệt vọng: tôi muốn đi gấp đến kết cục, chịu thêm nhiều cực hình hơn nữa để mau chóng chấm dứt, khác nào quật một bàn tay đang bị đau ghê gớm vào thân cây, không cần biết rồi sau sẽ ra sao nữa.
Đó là những bức ảnh của một người đàn bà và một đứa con gái nhỏ, những bức ảnh nhỏ chụp nó chơi với một giàn trường xuân. Cạnh đấy, là những bức thư. Tôi rút ra và thử đọc. Tôi không hiểu gì mấy, thật khó mà lần ra được, tiếng Pháp tôi chỉ biết lõm bõm thôi. Nhưng mỗi chữ tôi dịch ra được cứ như một viên đạn xuyên vào ngực tôi, như một mũi dao găm đâm vào trái tim tôi...
Đầu óc tôi bị kích thích mãnh liệt. Nhưng tôi còn đủ sáng suốt để hiểu rằng không bao giờ tôi đuợc phép viết thư cho họ như tôi vừa nghĩ lúc này. Thật là không thể được. Tôi nhìn những bức ảnh một lần nữa; họ không phải là hạng người giàu có, nếu sau này tôi kiếm được ít nhiều, tôi sẽ gửi tiền cho họ bằng cách dấu tên. Tôi bám lấy ý định ấy, ít ra nó cũng là một chỗ dựa nhỏ của tôi. Người chết này gắn liền với đời tôi; vì thế tôi phải làm tất cả mọi thứ và phải hứa hẹn mọi điều để tự giải thoát; tôi thề một cách mù quáng rằng tôi chỉ muốn sống vì hắn và vì gia đình hắn. Đôi mắt ướt đẫm, tôi chuyện trò với hắn; làm thế, trong thâm tâm tôi có cái mong muốn chuộc lại điều tôi đã làm, đồng thời, có lẽ đó cũng là cái mẹo nhỏ để mong thoát thân, vì lúc nào nuốt lời thề mà chả được.
Tôi mở tập quân bạ và thong thả đọc: "Giêra đuy van, thợ nhà in".
Tôi lấy cái bút chì của người chết, ghi địa chỉ lên một chiếc phong bì rồi đột nhiên tôi vội vã bỏ tất cả vào túi áo hắn.
Tôi đã giết anh thợ nhà in Giêra đuy van. Tôi phải trở thành thợ nhà in mới được, tôi nghĩ, đầu óc quay cuồng rối loạn, tôi phải thành thợ nhà in, thợ nhà in. . .
Buổi chiều, tôi bình tĩnh hơn. Sự sợ hãi của tôi không có căn cứ. Cái tên ấy không làm tôi hoảng hốt nữa. Cơn khủng hoảng đã qua. "Bạn ơi' , tôi nói với người chết nằm bên cạnh tôi, nhưng bằng một giọng trấn tĩnh "cậu hôm nay, mình ngày mai thôi. Tuy vậy, nếu mình thoát chết, bạn ạ, mình sẽ đấu tranh chống lại cái đã giết hại cả hai chúng ta; với cậu. nó đã lấy mất cuộc đời của cậu. Với mình?. . . Nó cũng đã lấy mất cuộc đời của mình. Mình xin hứa với bạn, bạn ạ. Sao cho cái chuyện này không bao giờ được tái diễn nữa".
Mặt trời chiếu xiên khoai. Tôi mệt và đói đến kiệt sức
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 11:46:16 AM
- Làm sao thế - Cô y tá hỏi.
Tôi nhìn cái giường. Khăn trải giường trắng như tuyết những cái khăn sạch không thể tưởng tượng được, còn nguyên cả nếp là. Ngược lại, cái áo sơ mi của tôi sáu tuần lễ chưa giặt, nó bẩn một cách quái gở.
- Anh có lên giường một mình được không? - Cô y tá hỏi tôi, có vẻ lo lắng.
- Được - tôi vừa nói vừa thở, - nhưng hãy lột cái khăn này đi đã.
- Sao thế ?
- Tôi thấy mình chẳng khác gì con lợn và không thể nào nằm lên cái khăn trải giường như thế này được. Nhưng, - tôi ngập ngừng, - nó sẽ. . .
- … bẩn đi một tí chứ gì? - Cô y tá hỏi bằng một giọng vỗ về - không sao đâu, chúng tôi lại giặt đi thôi.
- Không, không phải thế đâu... - tôi nói một cách cáu kỉnh, - tôi không quen cái kiểu sống văn minh lịch sự thế này.
- Các anh là những người đã ở chiến hào, chúng tôi có thể giặt khăn trải giường cho các anh mà, - cô ta nói tiếp.
Tôi nhìn cô ta. Cô ta trẻ và nom thích mắt quá, quần áo tươm tất, sạch sẽ một cách lạ lùng, cũng như tất cả những cái ở đây. Tôi cứ tưởng những cái này chỉ dành riêng cho sĩ quan thành thử tôi đâm ra lúng túng và cảm thấy lo ngại là khác nữa.
Thế mà cô ta ác quá, cứ bắt tôi phải nói hết.
- Chẳng qua là . . . .
Tôi ngừng lại; chắc cô ấy phải hiểu chứ.
- Còn sao nữa?
- Vì những con rận - Cuối cùng tôi rống lên.
Cô ta cười.
- Thì cũng phải để cho chúng nó có lúc sướng chứ.
Bây giờ tôi không còn nói vào đâu được nữa. Tôi leo lên giường và kéo chăn đắp.
Một bàn tay lướt trên chăn của tôi. Viên đội nhất y tá . Anh ta đi khỏi với những điếu xì gà.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 12:39:29 PM
Tôi còn trẻ lắm, mới hai mươi tuổi đầu, thế mà chỉ thấy trên đời toàn những cảnh tuyệt vọng, buồn phiền, chết chóc, xô đẩy những cuộc sống hời hợt nhất và vô tư nhất xuống vực thẳm của đau thương.
Tôi thấy các dân tộc bị xô đẩy vào cảnh chống đối nhau, chém giết nhau mà chẳng nói gì, chẳng hiểu gì . Hành động một cách điên cuồng, ngoan ngoãn, ngây thơ. Tôi thấy những bộ óc thông minh nhất của nhân loại đã phát minh ra những lý lẽ, những vũ khí để cho cái trò này diễn ra tinh vi hơn nữa, dai dẳng hơn nữa.
Và tất cả những người vào lứa tuổi tôi, ở đây và ở phía bên kia, trên khắp thế giới, đều nhận thấy như tôi; đó là cuộc sống của thế hệ tôi, cũng như cuộc sống của chính tôi. Các bậc cha anh của chúng tôi sẽ làm gì nếu một ngày kia chúng tôi đứng dậy, đến trước mặt các người và đòi tính sổ? Các người mong đợi gì ở chúng tôi khi chiến tranh kết liễu . Hàng mấy năm trời chúng tôi chỉ có việc giết người, đấy là cái nghề nghiệp đầu tiên của chúng tôi khi bước vào đời sự hiểu biết về cuộc sống của chúng tôi rút lại chỉ còn là cái chết. Rồi sau sẽ thế nào? Và chúng tôi sẽ ra sao?
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 12:48:20 PM
Ấy là những lúc hiểm nghèo; những lúc ấy cho chúng tôi thấy rằng, dù sao, sự thích ứng cũng chỉ là giả tạo; nó không phải là sự bình tĩnh thật sự, mà chỉ là một sự cô vươn lên chỗ bình tĩnh thôi. Về hình thức bề ngoài của cuộc sống, chúng tôi chẳng khác gì những người da đen trong rừng; nhưng những người này cứ như vậy mãi cũng chẳng sao vì đó là bản chất của họ và bất quá họ có thể tiếp tục phát triền do sự cố gắng của năng khiếu, trái lại, ở chúng tới, những sứ mạng quan trọng không nghiêng về phía phát triển mà lại hướng về phía thoái hóa. Thành ra những cái gì là bình thường ở họ, thì chúng tôi phải cố gắng và phải giả tạo mới có được.
Ban đêm, khi chúng tôi bàng hoàng tỉnh dậy sau một cơn ác mộng, bị những ảo tưởng huyền hoặc lôi cuốn và thả mình vào đấy, chúng tôi nhận thấy chỗ dựa và ranh giới giữa chúng tôi và cảnh tối tăm u ám thật là mong manh biết bao.
Chúng tôi là những người buột khăn gói thì phải.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 2:50:49 PM
Tất cả vẫn như thường: chỉ trừ có anh quân nhân dự bị Stanitlat Catdinxki đã chết mà thôi.
Sau đó, tôi chẳng biết gì nữa.
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 2:57:27 PM
Cuộc sống đã bắt tôi phải qua những năm tháng ấy, vẫn đang còn tồn tại trong hai bàn tay và cặp mắt của tôi. Tôi có làm chủ được cuộc sống ấy không? Tôi không biết. Nhưng một khi nó còn đấy, nó sẽ tìm ra đường đi, dù có hoặc không có sự đồng tình của cái sức mạnh đang ở trong tôi và nói lên : "Tôi".
***
Anh ta chết tháng mười, năm một nghìn chín trăm mười tám, trong một ngày khắp cả mặt trận yên tĩnh đến nỗi bản thông cáo chỉ ghi là “ Ở phía Tây, không có gì lạ.”
***
Anh ta ngã xuống, đầu về phía trước, nằm dài trên đất, như người đang ngủ.
Khi lật anh ta lên, người ta thấy hình như anh ta không đau đớn lâu thì phải.
Nét mặt anh ta bình thản và như biểu lộ một vẻ bằng lòng về cái kết cục như vậy.
Hết
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 3:13:11 PM
Phía Tây không có gì lạ
Đôi lời về tác giả
ERICH MARIA REMARQUE - NGƯỜI ĐI QUA CHIẾN TRANH
Erich Paul Remarque sinh ngày 22-6-1898 trong một gia đình theo dòng Công giáo La Mã tại Osnahruck, một thành phố thuộc tỉnh Westphalia nằm ở miền Tây nước Đức. Ngay từ nhỏ, Erich đã luôn luôn ngưỡng mộ người mẹ - bà Anna Maria trong khi luôn tỏ ra ra lánh người cha - ông Peter. Ông Peter Remarque vốn xuất thân trong một gia đình phiêu bạt đến Đức sau Cách mạng Pháp, chỉ là một người thợ đóng sách nghèo. Sự vất vả và thiếu thốn của gia đình đã khiến Remarque phải đi kiếm tiền từ khi mới mười mấy tuổi bằng việc dạy kèm piano. Cậu bé luôn làm việc hết sức vất vả để bù vào chỗ thiếu thốn và cậu luôn luôn xin mượn trước.
Cậu bé say mê piano và nhiều thứ khác , ví dụ như sưu tập bướm hoặc lần dò khám phá những dòng sông và cánh rừng - tất cả những gì sau này sẽ lần lượt hiện ra trong những cuộn tiểu thuyết vĩ đại. Thú viết lách của cậu bé đã khiến cho cậu nhận được biệt danh: “Kẻ-bôi-bẩn.”
Vì thường xuyên phải di chuyển nên Remarque học một lúc hai trường cấp hai và sau đó là trong dự bị Công giáo . Cậu say sưa những diễn biến đầy kịch tính của các nghi lễ Công giáo, say mê vẻ đẹp của những ngôi nhà thờ, của hoa trong vườn tu viện và của hoạt động nghệ thuật. Sau này, những gì Remarque viết đều có chút hơi hướng của một nhà hát, đường nét của giáo đường và các bảo tàng, còn hoa và cây là biểu tượng của sự bình an vĩnh cữu. Những ngày học ở trường, cậu bé Erich luôn gặp rất nhiều chuyện khổ sở vì các giáo viên ; nhưng rồi sau đó, thê' nào các giáo viên cũng sẽ bị nhồi vào trong tiểu thuyết của nhà văn Erich Maria Remarque! Tại trường dự bị , Erich cãi nhau suốt ngày với một giáo viên tên là Konschorek. Sau này Konschorek đã hóa thành một gã giáo viên tại nơi huấn luyện tân binh với đầy đủ thói xấu của nguyên mẫu và chỉ khác mỗi cái tên: Kantolek (Phía Tây không có gì lạ).
Tháng 11 năm 1916, chàng Erich 18 tuổi, sinh viên năm thứ 3 của trường sư phạm Osnabruck Lehresminar bị gọi quân dịch đề tham gia vào Đại chiến Thế Giới lần thứ nhất. Sau khóa huấn luyện tân binh tại Westerberg (chính là trại Klosterberg trong Phía Tây không có gì lạ), Erich được phân vào một sư đoàn quân dự bị, tuy nhiên cậu rất hay được về thăm nom bà mẹ đang ốm nặng.
Tháng 6 năm 191 7, Erich bị chuyển đến một đơn vị công binh ở mặt trận phía Tây Anh là một quân nhân điềm tĩnh , ngay cả khi người đồng đội Troske bị thương vì dính mảnh lựu đạn, Erich vẫn đưa được Troske về phía sau an toàn. Nhưng cái chết của Troske - không phải vì vết thương mà là vì không được chăm sóc, đã khiến cho Erich bị đổ vỡ hoàn toàn. Anh vẫn tiếp tục cứu các đồng đội cho tới khi cũng bị thương vì mãnh lựu đạn. Suốt hai năm 1917- 1918, Erich nằm tại bệnh viện SiVillenz ở Duismeg để chữa thương. Trong khi đó, mẹ anh qua đời tháng 9- 1917. Sau này, khi chiến tranh kết thúc, vì còn thương nhớ mẹ nên đã khiến Erich quyết định đổi tên kép Erich-Paul thành Erich-Maria.
Rời bệnh viện, Erich trở về Osnabruck đến dự khóa huấn luyện nâng cao, lồng nỗi đau buồn sau cái tang lớn. Chiến tranh đã chấm dứt trước khi anh trở lại mặt trận và mặc dù chưa hề trải qua sự đối đầu tại chiến tuyến nhưng chiến tranh đã làm thay đổi suy nghĩ và thái độ của Erich mãi mãi. Anh đã học một bài học cay đắng về giá trị mong manh thực sự của đời sống cá nhân, sau khi đã hoàn toàn đổ vỡ, khi nhận là "chủ nghĩa yêu nước” của cái xã hội nước đó có thể sẵn sàng bỏ qua bất cứ một cá nhân nào. Với anh và nhiều người bạn của anh, trách nhiệm công dân rốt chẳng còn một ý nghĩa gì nữa.
Những năm tiếp theo, nước Đức lâm vào tình trạng thiên thôn, lạm phát, thất nghiệp và đầy rẫy bọn đầu cơ trục lợi cùng bọn cực đoan chính trị.
Remarque cùng vài người bạn quay trở về và nhận thấy những giáo viên cũ bây giờ chỉ là những kẻ cướp. Remarque thường lôi mình vào rắc rối theo kiểu tự chụp một bức ảnh ông mặc đồ sĩ quan có chữ thập ngoặc và một cái huân chương cùng con chó cưng trong một cách bố trí đầy mâu thuẫn. . .
Sau khi tốt nghiệp, Remarque được giới thiệu vào dạy thay cho một giáo viên trong vòng hai năm. Môi trường giáo dục không dính dáng đến chính trị và Remarque chuyển sự say mê sang các môn thể thao, nhất là đua ôtô.
Hình ảnh về Remarque lúc bấy giờ là một chàng thanh niên có mái tóc vàng, rất điển trai, ăn mặc trang nhã và những cơ bắp cuồn cuộn nổi. Tóm lại đó là hình ảnh về một con người hào hoa bất chấp thu nhận . Sau một thời gian, Remarque chán nản và bỏ đi làm đủ thử việc: chơi organ ở nhac viện, nhân viên một công ty sản xuất bia thộ, làm nhà phê bình sân khấu ở một thành phô nhỏ, viết quảng cáo cho một công ty ôtô. Ông lấy một nữ diễn viên tên là Zutta Ilse Zambona năm 1925, một thời gian ngắn sau khi được nhận vào làm biên tập ở tạp chí Sport im Bild ở Berlin.
Đầu năm 1920, với cái tên Erich Remark, ông xuất bản một cuộn tiểu thuyết mà nó bị thiên hạ lạnh nhạt đến nỗi ông phải bỏ cái bút danh – vội lấy tên của cụ nội. Lối viết báo của ông quá cứng, thậm chí tầm thường và đầy cảm tính. Chính vì thế, sự thành công của Phía Tây không có gì lạ xuất bản năm 1929 làm cho ông và bất cứ một người nào cũng phải ngạc nhiên. "Bóng ma của chiến tranh luôn ám ảnh chúng tôi - ông nói - nhất là khi chúng tôi cốgắng không nghĩ đến nó nữa". Và kết quả là Phía Tây không có gì lạ đã làm tất cả những người ở hai bên bờ Thái Bình Dương xúc động sâu sắc trong khi trước đây, họ ra sức tìm kiếm ý nghĩa của chiến tranh.
Trong năm đầu tiên, riêng độc giả Đức đã mua tới hơn 1 triệu bản cuốn tiểu thuyết Phía Tây không có gì lạ và người Anh, Pháp, Mỹ thậm chí còn mua nhiều hơn. Cuốn tiểu thuyết còn thành công hơn nữa nhờ bộ phim do người Mỹ dựng với Lew Ayres và Lewis Wolheim NAME = Position DESCRIPTION = Zeigt die aktuelle horizontale Position an und kann gezogen werden, um diese direkt zu ändern.
Năm 1932, chính quyền Quốc xã tịch thu tài khoản của ông ở Berlin - chúng nói rằng để bù vào tiền thuế. Tuy nhiên trước đó Remarque đã chuyển hầu hết tiền và số tranh theo phái ấn tượng sang Thuỵ Sĩ . Tại đây, ông mua một ngôi biệt thự ở Porto Ronco cạnh bờ hồ Magiore và dần dần mua về nhiều thứ đồ cổ quý giá.
Trong thời gian Remarque bị tước quyền công dân Đức, ba cuốn sách của ông lần lượt được dựng phim ở Mỹ và đôi lúc người ta gọi ông là Vua Hollywood.
Bạn bè của ông rất nhiều: Marlene Dietrich, Greta Garbo, Charles Chaplin,
F. Scott Fritzgerald và Ernest Hemingway.
Sau cùng, mệt mỏi vì những phù hoa giả tạo của Hollywood, ông chuyển sang đi về đông ở New York và Porto Ronco.
Năm 1957, ông càng nổi tiếng vì vai diễn trong bộ phim chuyển thể từ tiểu thuyết của ông. Thời gian để sống và thời gian để chết.
Năm 1958, Remarque cưới nữ diễn viên Mỹ Paulette Goddard sau 18 năm quen biết.
Lần đến được Mỹ, Remarque không hề gặp phải khó khăn gì về thủ tục nhưng ông hết sức bực bội và thông cảm với những bất công mà bạn bè ông phải chịu đựng trong cảnh tha hương. Mặc dù đã xin nhập quốc tịch Mỹ năm 1941 nhưng Remarque luôn phẫn hận vì bị mất quyền công dân Đức.
Năm 1943, một nỗi đau lớn đến với Remarque: em gái ông Elfried Scholz bị chính quyền Quốc xã xử trảm vì tuyên truyền “lật đổ”. Sau này, ông thật sự cảm động khi Osnabruck đã lấy tên cô gái đặt cho một con đường năm 1965.
Năm 1971, chính quyền Osnabruck cũng đã đặt tên một con đường chạy quanh thành phố là Erich Maria Remarque.
Bóng tối thiên đường là tiểu thuyết cuối cùng của ông. Trong tác phẩm đó, người ta tìm gặp lại vóc dáng của rất nhiều những nhân vật trong các tiểu thuyết trước đây và nhân vật chính đã quyết định trở về lại nước Đức bất chấp cuộc sống và tình yêu ở Mỹ ngay sau khi chiến tranh kết thúc. Nỗi hoài nhớ quê hương còn thể hiện trong khoảng những năm 1950 khi Remarque về đi tìm tài liệu cho những tiểu thuyết . Ông không bao giờ trở về thành phố quê hương vì cảm thâý thành phố được xây lại này không còn là những gì thân quen, mà ông đã mô tả trong “Phía Tây không có gì lạ, đường về và Bia mộ đen” nữa cả.
Remarque qua đời sau một loạt cơn đau tim tại một bệnh viện ở Locarno vào ngày 25-9- 1970. Báo chí mê mải đi tìm các chi tiết về cuộc đời của ông mà quên cả một điều: Remarque là tác giả của Cuốn tiểu thuyết hay nhất về Chiến tranh thế giới thứ Nhất. Nhưng dù sao chăng nữa, các đọc giả đã không hề quên . Chỉ riêng ở châu Âu, người ta đã mua đền 13 triệu bản những cuộn sách của ông. Trong đó
“ Phía Tây không có gì lạ”, bán được 8 triệu cuốn vẫn mãi mãi là một trong những cuộn sách bán chạy nhất châu âu của Thê' kỷ 20.
Năm nay, nhân kỷ niệm lần thứ 40 ngày ra mắt cuộn tiểu thuyết cuối cùng của Remarque “Bóng tối thiên đường”, cũng như 70 năm ngày ra mắt cuộn tiểu thuyết “Đường về” và 50 năm ngày ra mắt cuốn Đêm ? , chúng tôi sẽ cố gắng giới thiệu với đọc giả lần lượt toàn bộ các tác phẩm vĩ đại của ông như một kỷ niệm hai cuộc Chiến tranh Thê' giới trong Thê' kỷ 20.
Sau đó, qua những tác phẩm này, chúng tôi muôn gửi gắm niềm tin vào nền hòa bình mà vì nó, suốt đời Remarque đã đấu tranh và phụng sự.
Lưu Sơn Minh .
hết: Đôi lời về tác giả, xem tiếp:
Hiệu đính, sửa chính tả: Thất Sơn Anh Hùng
Nguồn: Scan và chuyển Text: Mọt sách
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 7 năm 2004
Minhcineenebo # Saturday, November 23, 2013 5:52:55 PM
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Phía Tây không có gì lạ
Im Westen nichts Neues
Remarque Im Westen nichts Neues 1929.jpg
Bìa phiên bản Đức
Tác giả Erich Maria Remarque
Quốc gia Đức
Ngôn ngữ tiếng Đức
Thể loại Tiểu thuyết chống chiến tranh
Nhà xuất bản Propyläen Verlag
Ngày phát hành 29 tháng 1, 1929
Kiểu sách In (bìa cứng)
Số trang 288
ISBN N/A
Phía Tây không có gì lạ (tiếng Đức: Im Westen nichts Neues) là một cuốn tiểu thuyết viết về đề tài chống chiến tranh của Erich Maria Remarque, một cựu binh Đức từng tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất. Tác phẩm được ra mắt lần đầu vào tháng 11 và 12 1928 trên tờ báo Vossische Zeitung của Đức và in thành sách vào tháng 1 1929. Tác phẩm được viết dưới dạng hồi ức của một người lính Đức kể về cuộc sống chiến đấu và những nỗi kinh hoàng mà anh và các đồng đội trải qua trong các chiến hào tại mặt trận phía Tây của cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất và được xem là 1 trong số những tác phẩm hay nhất viết về thời kì này. Chỉ trong 18 tháng đầu, tác phẩm đã đạt được thành công vang dội, với 2,5 triệu bản in bằng 25 ngôn ngữ của tác phẩm đã được bán hết.[1][2] Tiếng vang của cuốn sách mở rộng đến cả hai bên bờ Đại Tây Dương, lôi cuốn xiết bao nhiêu là độc giả Đức, Anh, Pháp và Hoa Kỳ[3]. Thậm chí, có người còn nhìn nhận đây là một cuốn truyện hay nhất mọi thời đại về đề tài phản chiến.[1] Cùng với tiểu thuyết Giã từ vũ khí của nhà văn Hoa Kỳ Ernest Hemingway, "Phía Tây không có gì lạ" cũng có thể được xem như hai bộ tiểu thuyết tiêu biểu nhất về nỗi đau của con người thời Chiến tranh thế giới thứ nhất[4]. Năm 1930, tác phẩm trở nên nổi tiếng hơn[3], khi được chuyển thể thành phim cùng tên do Lewis Milestone làm đạo diễn và giành luôn giải Oscar cùng năm đó. Trong thời kỳ Đức Quốc Xã, Adolf Hitler đã cấm chỉ tiểu thuyết này, vì ông này xem tác phẩm là một sự "móp méo" hình ảnh của binh lính Đức thời Đại chiến.[1] Remarque bị đảng phát xít Đức đả kích dữ dội.[3]
Đến nay, với tình cảm chống chiến tranh của Remarque, thiên truyện này vẫn còn phổ biến và có sức lôi cuốn rộng rãi. Đoạn cuối của truyện, miêu tả về cái chết của nhân vật chính, được xem là những đoạn hấp dẫn nhất của cả tác phẩm.[1] "Phía Tây không có gì lạ" đã đi vào lịch sử văn chương thế giới như một trong những tác phẩm bán chạy nhất của châu Âu vào thế kỷ thứ XX.[5]
Mục lục [ẩn]
1 Tóm tắt nội dung
2 Các nhân vật chính khác
2.1 Albert Kropp
2.2 Müller
2.3 Stanislaus Katczinsky
3 Sự cấm đoán của chính quyền Đức Quốc Xã
4 Chuyển thể từ tác phẩm
4.1 Phim
4.2 Phim truyền hình
4.3 Âm nhạc
4.4 Kịch
5 Tham khảo
6 Liên kết ngoài
Tóm tắt nội dung[sửa]
Lưu ý: Phần sau đây có thể cho bạn biết trước nội dung của tác phẩm.
Tác phẩm lấy bối cảnh của Mặt trận phía Tây trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Nhân vật chính và cũng là người tường thuật câu chuyện theo ngôi thứ nhất là Paul Bäumer, 1 người lính Đức mới 19 tuổi. Anh và những người bạn học cùng lớp của mình đã bị thuyết phục bởi vị giáo sư của họ là Kantorek, nên gia nhập Quân đội Đế quốc Đức để tham gia chiến tranh. Họ được đưa ra mặt trận phía Tây, nơi đang diễn ra những trận đánh ác liệt giữa liên quân Anh-Pháp và Đức. Tác phẩm đã miêu tả 1 cách chân thật cuộc sống chiến đấu gian khổ và tàn khốc của những người lính này trong những chiến hào của cuộc Thế chiến thứ nhất khi phải thường xuyên đối mặt với những trận pháo kích cường độ cao, hơi độc và cả xe tăng của đối phương. Có một lần khi được nhiệm vụ canh gác tù binh Nga, Paul đã nhận ra rằng những người lính Nga này cũng là con người như mình mà thôi, và anh cảm thấy anh không thể nào coi họ như kẻ thù được.[5] Có một lần, Paul cùng với các đồng đội xung phong đi trinh sát trong bối cảnh Đức hoàng sắp đến thị sát mặt trận, và anh đã bị lạc trong đêm trường hỗn loạn, mãi mới tập hợp lại được.[5] Quân Đức đã đánh tan một cuộc tấn công của đối phương, Paul đâm chết được một lính Pháp và đã chứng kiến cảnh hấp hối thật đau đớn của binh sĩ. Đây là kẻ địch đầu tiên bị chính tay Paul tiêu diệt. Song, anh cảm thấy đau xót và xin cái xác người ấy tha lỗi cho anh : "Này anh bạn, mình có muốn giết cậu đâu..... Tại sao người ta không nói cho bọn mình biết rằng chính các cậu, các cậu cũng chỉ là những con chó khốn khổ như bọn mình, rằng các bà mẹ của các cậu cũng đau khổ như mẹ chúng mình, rằng chúng ta đều sợ chết như nhau, đều chết một cách giống nhau, chịu những nỗi đau đớn như nhau? Bạn ơi, hãy tha thứ cho mình; tại sao cậu lại có thể là kẻ thù của mình? Nếu chúng ta bỏ những vũ khí và bộ quân phục này đi, thì cậu rất có thể là người anh em của mình ..." Paul cảm thấy mình đáng lên án vì đã giết chết một người lính cũng chỉ giống như mình mà thôi.[5] Nhiều người bạn của Paul lần lượt ngã xuống còn bản thân anh thì ngày càng tỏ ra chán ghét chiến tranh vì những nỗi kinh hoàng mà nó mang lại cũng như chiến tranh đã cướp đi tuổi trẻ và những người đồng đội của anh. Rốt cuộc, cuộc chiến tranh mà giáo sư Kantoreck đã nồng nhiệt kêu gọi nhóm bạn của Paul tham gia chiến đấu, không mang lại cho họ một niềm vinh quang nào.[5]
Thế rồi, anh trở thành người duy nhất còn sống sót trong bảy người học sinh đã lên đường chiến đấu của Giáo sư Kantorek. Khi ấy, người ta chỉ còn nghĩ đến ngưng chiến và hòa bình mà thôi, và bản thân Paul cũng tin là hai bên sẽ sắp đình chiến. Cho là mình sắp được trở về quê nhà, Paul có cảm nghĩ: "Nếu bây giờ, chúng tôi trở lại gia đình, chúng tôi mệt mỏi, rã rời, trống rỗng, không còn gốc rễ và không còn hy vọng.". Trong phần cuối của tác phẩm, Paul có lời tự sự : "Cuộc sống đã bắt tôi phải qua những năm tháng ấy, vẫn đang còn tồn tại trong hai bàn tay và cặp mắt của tôTôi có làm chủ được cuộc sống ấy không... Tôi không biết..." Kết thúc tác phẩm là cái chết của Paul Bäumer vào một ngày tháng 10 măm 1918, một ngày mà tình hình tĩnh lặng trên suốt Mặt trận, tới mức các báo cáo quân sự từ mặt trận phía Tây chỉ chứa gọn 1 câu “Ở phía Tây, không có gì lạ” và nó đã được lấy làm tựa đề cho cuốn tiểu thuyết. Tác phẩm kết thúc bằng gương mặt yên bình của Bäumer khi chết và khi người ta lật người anh lên, anh vẫn yên lặng chứ không hề có một biểu hiện đau đớn gì cả. Có vẻ như anh sung sướng vì sự kết thúc đã đến.
Tác phẩm đã thể hiện chân thành tư tưởng của Remarque :[4]
“ Dẫu họ dạy chúng ta rằng trọng trách với quốc gia là vĩ đại nhất, chúng ta thừa biết rằng sự giãy chết còn mạnh mẽ hơn. ”
—Erich Remarque
Hết phần cho biết trước nội dung.
Các nhân vật chính khác[sửa]
Albert Kropp[sửa]
Được xem như bạn thân nhất của Paul Bäumer và là người sáng suốt nhất trong nhóm. Ở cuối cuốn tiểu thuyết, anh bị thương và được đưa về bệnh viện Thiên chúa giáo cùng Bäumer. Tại đây, anh đã có ý định tự tử khi nghe tin mình có thể phải đeo chân giả suốt đời nhưng cuối cùng anh đã bình tĩnh lại và từ bỏ ý định đó. Kropp và Bäumer chia tay nhau khi Bäumer bị gọi trở ra lại mặt trận. Số phận sau đó của Albert không được thấy nhắc đến trong phần còn lại của tác phẩm.
Müller[sửa]
Müller cũng 19 tuổi và là bạn cùng lớp của Paul. Anh tình nguyện tham gia mặt trận nhưng lúc nào cũng kè kè cuốn sách bên người và mơ đến chuyện thi cử khi trở về. Khi một nguời bạn của anh là Kemmerich chết, anh đã được thừa hưởng đôi giày của anh này, vật mà anh ước ao từ lâu. Sau đó, anh chết vì 1 vết thương nặng và trước khi chết anh đã trao lại cuốn sách và đôi giày cho Bäumer.
Stanislaus Katczinsky[sửa]
Thường gọi là Kat và là người chiến đấu thường xuyên nhất bên cạnh Bäumer. Anh lớn tuổi và có nhiều kinh nghiệm hơn Paul, từng cứu Paul khi anh còn là 1 tân binh. Ngoài ra, anh còn có những khả năng đặc biệt như có 1 giác quan thứ sáu để tránh nguy hiểm và nhất là khả năng kiếm thức ăn cho đồng đội.
Ở cuối cuốn tiểu thuyết (mùa hè 1918), Kat bị trúng đạn khi đang mang thực phẩm. Bäumer đã cõng anh lên lưng và đưa đến bệnh viện dã chiến nhưng trên đường đi 1 quả đạn pháo đã bay trúng đầu và cướp mất mạng sống của anh. Đây cũng là người bạn cuối cùng của Bäumer chết trong cuộc chiến.
Sự cấm đoán của chính quyền Đức Quốc Xã[sửa]
Bên cạnh sức lôi cuốn rất lớn của "Phía Tây không có gì lạ", tiểu thuyết này cũng gây tranh cãi rất lớn.[3] Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa cho rằng tiểu thuyết này "có hại" cho niềm tự hào dân tộc Đức, và đảng này đã đốt sách tại Nhà hát Nhạc kịch (Opernpflatz) trong một buổi lễ đốt sách khét tiếng của Đức Quốc xã vào ngày 10 tháng 10 năm 1933. Đảng phát xít Đức còn tuyên bố như sau :[1]
“ Như một cuộc phản kích nhằm vào sự phản bội dưới hình thức văn chương đối với những người lính của cuộc Đại chiến, và trên tinh thần giáo dưỡng cho nhân dân về sức mạnh của sự thật, tôi quyết định bỏ các tác phẩm của Erich von Remarque vào đống lửa. ”
—Phát xít Đức
Thực chất, phát xít Đức đọc truyện này chỉ với một mục đích duy nhất là để mà lăng mạ tác giả.[3] Ngoài tiểu thuyết nổi tiếng này ra, chính quyền Hitler cũng thiêu rụi cuốn Giã từ vũ khí của nhà văn Ernest Hemingway (người Mỹ).[4] Theo sau vụ đốt sách này, rất nhiều người công kích, phỉ báng ông.[1] Chính quyền phát xít tung ra những tin đồn vô căn cứ, theo đó ông là một người Pháp lai Do Thái, và sinh ra một gia đình triệu phú, lại chưa hề biết thế nào là xông pha trận mạc.[3]
Chuyển thể từ tác phẩm[sửa]
Tiểu thuyết Phía Tây không có gì lạ của Remarque, cùng với tiểu thuyết Gĩa từ vũ khí của Hemingway, trở thành hai tiểu thuyết hay nhất nói lên nỗi kinh hoàng về chiến tranh tổng lực trong cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất.[4]
Phim[sửa]
Bài chi tiết: Phía Tây không có gì lạ (phim)
Vào năm 1930, tiểu thuyết này đã được dựng thành phim bởi đạo diễn Mỹ Lewis Milestone. Đây được xem là bộ phim nói đầu tiên trong lịch sử điện ảnh, chấm dứt thời kì phim câm[6]. Bộ phim giành giải Oscar cho đạo diễn xuất sắc nhất và Cảnh quay xuất sắc nhất cùng năm đó. Ngoài ra phim còn có 2 đề cử không thành công là Quay phim xuất sắc nhất và Kịch bản chuyển thể hay nhất.
Phim truyền hình[sửa]
Năm 1979, tác phẩm được chuyển thể thành phim truyền hình bởi đạo diễn Delbert Mann chỉ đạo và nam diễn viên Richard Thomas đóng vai Paul Bäumer.
Hiện một dự án làm phim mới, Daniel Radcliffe dự kiến đóng vai chính trong phim. Phim khởi quay năm 2012.
Âm nhạc[sửa]
Trong album Jump Up! năm 1982 của Elton John có bài hát "All Quiet On The Western Front" (nhạc sĩ Bernie Taupin). Bài hát với giai điệu buồn và đoạn điệp khúc nhắc đến những tổn thất trong chiến tranh ("It's gone all quiet on the Western Front / Male Angels sigh / ghosts in a flooded trench / As Germany dies").
Kịch[sửa]
Năm 2006, nhà hát kịch Nottingham đã diễn 1 vở kịch dựa trên nội dung cuốn tiểu thuyết do Robin Kingsland làm đạo diễn.