TÔI TỰ HỌC
Saturday, November 23, 2013 3:17:55 PM
Tác giả: Thu Giang Nguyễn Duy Cần
Nhà xuất bản: Khai Trí
Năm xuất bản: 1971
Số trang: 383
/ phần tựa ko hay///////
E. ÓC PHÊ BÌNH
Đành rằng, người học thức không thể tránh được tất cả những ảnh hưởng ngoại giới… nhưng họ là người biết phê phán, biết lựa chọn với một đầu óc sáng suốt, độc lập và tự do. Dĩ nhiên những danh từ này dùng với cái nghĩa tương đối của nó. Hay nói một cách khác, họ là người có óc phê bình sáng suốt và linh động.
Một cái “học” mà xứng đáng với danh từ chân chánh của nó, ít ra cũng phải có đủ hai điều kiện sau đây:
1. Trước hết cái “học” ấy đừng phải là một cái học “quá chuyên môn”. Một nhà khảo cứu về các loài bướm hay các loại “tem” bưu điện chưa phải là một nhà có học thức cao.
2. Cái “học” ấy phải là một cái học do sự suy nghĩ nghiền ngẫm mà có, chứ không nên là cái học do kẻ khác mang lại cho mình, sẵn sàng tránh cho ta vận động đến óc phê bình, phán đoán hay suy nghĩ gì cả. Một sự hiểu biết không giúp ta suy nghĩ thêm, lại làm tắt hẳn óc tò mò và gây tạo một tinh thần thụ động, không ham thích tìm tòi gì nữa cả… là một cái học “chết”. Những kẻ tự hào có một cái học như một cái “đơn bá chứng” có thể dùng để giải quyết được tất cả mọi vấn đề trong đời mình là những kẻ đáng thương hại nhất.
Loài thú cũng như loài người đều có thiên tính. Thiên tính là một năng khiếu mà tạo hoá đã ban cho tất cả mọi sinh vật trên đời để phản ứng được với tất cả mọi biến cố trong đời mà không cần phải dùng đến lý trí, không cần phải đặt vấn đề. Trái lại, văn hoá làm cho nẩy sanh trong đầu óc con người vô số vấn đề, bắt phải luôn luôn suy nghĩ. Cặp mắt của người có trình độ văn hoá cao, luôn luôn nhìn đời với những khía cạnh và màu sắc mới lạ. Và phải chăng đó là tất cả danh dự của con người?
G. “BIẾT MÌNH” LÀ CÁI HỌC ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC
Sự học hỏi của ta thường có thể đi vào hai chiều. Chiều hướng ngoại, tức là óc tò mò của ta thiên về ngoại giới, thì đi theo những vật gì ngũ quan tiếp xúc được như mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, chân tay rờ mó được mà sự nghiên cứu có lề lối phương pháp, người ta cho nó cái tên chung là khoa học. Hoặc chiều hướng nội, thì đi vào đời sống tình cảm và ý tưởng của ta, tức là đi vào một cõi thế giới mà chỉ có tâm tư ta đạt đến được mà thôi, nghĩa là đi đến cái học về con người của ta, không phải về con người vật chất mà là về con người biết suy nghĩ, biết “tư tưởng” với cái nghĩa rộng của nó, tức là biết đau khổ, biết sung sướng, biết ham muốn, biết nhận thức, biết hiểu biết, biết phê bình, biết lý luận, biết sáng tác và biết tự mình định đoạt quy tắc cho hành động mình, biết chọn lựa sự tín ngưỡng của mình và biết trù liệu suy nghĩ đến số phận của mình. Sự hiểu biết về đời sống nội tâm của mình dường như đã bị nhà khoa học xem thường và cho đó là một cái học “xa xỉ phẩm” dành cho nhà luân lý, triết học, tâm lý và văn chương thi sĩ lo nghĩ mà thôi. Đối với thường nhân, đó cũng chỉ là một cái học sống trong tưởng tượng chứ không phải là cái học trong thực tế.
Thực sự, trong lịch sử tư tưởng loài người bao giờ cũng khởi đầu bằng sự chú ý đến ngoại giới trước khi đi về cái học nội tâm. Phải có một trình độ văn hoá cao mới có thể dùng đến khẩu hiệu này: “Biết mình là đầu mối của sự khôn ngoan”, và đi sâu vào con đường quan sát nội giới.
Cái học cần thiết cho con người là cái học về bản thân.
Tất cả những cái học khác đều là phụ thuộc, đều để mà phụng sự nó, không được quyền cướp phần ưu tiên. Một nhà hiền triết Đông Phương có nói: “Tri nhân giả trí; tự tri giả minh” (Biết người là trí; biết mình là sáng). Hiền giả Hy lạp Socrate cũng bảo: “Connais-toi toi-même” (Hãy tự tri). Cuối thế kỷ thứ 18, Goethe khuyên ta: “Cái học về con người là cái học hứng vị nhứt đối với chúng ta, và có lẽ là mục đích quan trọng nhất mà ta nên chú trọng. Tất cả chung quanh ta chỉ là cái khung cảnh để chúng ta sinh hoạt, hoặc là để dùng làm dụng cụ cho ta mà thôi. Nếu chúng ta lại quá quan trọng và chú ý đến những hoàn cảnh bên ngoài ấy, đó là ta làm giảm mất nơi ta cái chân giá trị con người của ta và của xã hội nữa�
H. HỌC ĐỂ THÀNH CÔNG TRONG CON ĐƯỜNG XỬ THẾ
Có kẻ cho rằng học là để có một phương tiện đắc lực để thành công, – thành công trong con đường xử thế. Nhà văn Vauvenargues nói: “Người có một tinh thần sâu sắc cần phải tự đào tạo một cái học để khám phá những tế nhị của lòng người, tuy đối với nhà toán học, nó là một cái học mơ hồ, nhưng chắc chắn nó giúp ta rất nhiều trong sự thành công trong đời”.
Theo ông Vauvenargues thì sự hiểu biết một cách thâm sâu lòng người là để giúp ta gây ảnh hưởng và cái học xử thế phải chăng là cái học cơ sở mà chúng ta cần phải có, để được thành công trên đời? Nghĩa là không có cái học nào là cái học xứng đáng với danh từ của nó, nếu nó không giúp ta điều khiển được kẻ khác? Hay nói một cách khác, nói theo danh từ ngày nay, học là để thành công.
Thực ra, cái quan niệm về sự học này, có điều không ổn thoả. Dù rằng, có văn hoá cao, tức là ta có thêm một yếu tố để khuất phục được kẻ khác, nhưng đâu phải nó là yếu tố chánh, yếu tố duy nhất để gây được uy tín cho mình. Người ta sở dĩ có được uy tín là nhờ rất nhiều yếu tố khác nữa như những yếu tố khách quan này: giọng nói chững chạc, tướng mạo điềm đạm, hoặc có được những thiên tư quyết định lẹ làng, can đảm dám nhận lãnh trách nhiệm… Vả lại, văn hoá cao tuy giúp cho ta có được thêm nhiều phương tiện để phô trương ý chí của mình, thì mặt khác nó cũng giúp cho ta nâng cao tâm hồn, và đồng thời làm giảm bớt những dục vọng ích kỷ, không đem con người làm con vật hy sinh, nghĩa là sai sử họ và lợi dụng họ để làm nấc thang cho con đường danh lợi của mình. Nó giúp cho ta có lòng biết tôn trọng nhân phẩm kẻ khác, nâng cao tánh công bình và lòng nhân đạo của mình. Sự học hỏi không còn phải là một khí cụ để ta ngự trị và bóc lột người đồng loại, một năng lực để ta thành công trên sự vụng về ngu dại của kẻ khác. Nhưng, hiểu ngược lại cũng là sai. Nếu bảo rằng sự học không giúp gì cho con người trên thực tế, thì học để làm gì? Sống trong loài người, chúng ta phải cần đến mọi người khác, không có họ ta cũng không làm gì được cả. Ta cần phải làm cho họ nghe theo ta, phụ lực với ta… Vậy làm cách nào cho họ phục ta, đem người thù làm người bạn, đó là cái học xử thế rất cần… Cái học dùng trong đạo xử thế không còn phải là cái học dùng để lợi dụng bóc lột người.
Dĩ nhiên, cái học xử thế không thể còn dùng đến toán học để giải quyết những vấn đề khúc mắc của lòng người. Mà trái lại, phải dùng đến một năng khiếu khác hơn là óc khúc chiết: tôi muốn nói đến óc tinh nhuệ.
I. ÓC TINH NHUỆ
Ngoài lý trí, tức là óc khúc chiết, ta cần phải lo đào luyện óc tinh nhuệ.
Chính óc tinh nhuệ nó giúp ta trên con đường nghiên cứu những gì mà giác quan của ta không còn nhận xét được nữa, tức là giúp ta hoạt động trên những vùng tinh thần rất tế nhị của tình cảm và tư tưởng: ở đây ta chỉ có thể cảm được chứ không còn suy tính ra được, ta có thể nhận thấy ngàn muôn sợi dây liên lạc vô cùng tế nhị và chằng chịt mà ta không sao thấy được dấu hiệu gì bộc lộ bên ngoài… Óc tinh nhuệ giúp ta thấy được chỗ không thể lìa ra của sự vật trên đời, trong khi phần đông người ta thấy toàn là rời rạc.
Muốn đào luyện óc tinh nhuệ, điều kiện đầu tiên là phải biết tập trung tất cả sự chú ý của ta về cái con người “sâu sắc, phức tạp mà duy nhất” của mình đây… Trong tất cả cái học trên đời này, cái học về mình là quan trọng nhất. Cần suy nghĩ, nghiền ngẫm đến con người nói chung và của mình nói riêng, tìm hiểu một cách sâu sắc tinh tế những tình cảm của ta, những cách suy nghĩ và hành động của ta… Phải để ý quan sát tìm hiểu ý nghĩa và từng cử động của con người trong khi mình giao thiệp với họ, từ cái tiếng cười hay câu nói, trong cái lặng thinh hay liếc mắt đều có một cái gì biểu lộ được cái sâu kín của cõi lòng… Đó là phương pháp hiệu quả nhất để mài giũa óc tinh nhuệ của ta… Muốn cho óc tinh nhuệ được thêm tế nhị, ta cũng cần rút kinh nghiệm nơi những bộ tiểu thuyết danh tiếng của các đại văn gia Âu Mỹ cùng những tuồng truyện có tiếng tăm quốc tế.
K. BIẾT TUYỂN CHỌN
Học, cần phải biết tuyển chọn. Tuyển chọn, tức là phê phán, quyết định và lọc lại trong mớ sách ngổn ngang chồng chất trong các nhà sách những sách nào hạp với mình và cần thiết cho nhu cầu hiện thời của mình. Không lựa chọn, đụng đâu đọc đó, là làm tản mác tinh thần mà cũng không hiệu quả vào đâu cả.
Tuyển chọn phải là công việc đầu tiên của người ham học. Chẳng những phải biết chọn riêng cho mình những sách mà mình thích nhất, lại cũng phải biết tuyển chọn trong một quyển sách những chương nào hay nhất để ta thỉnh thoảng đọc đi đọc lại. Tuyển chọn cũng có nghĩa là tuyển lại một trang, một đoạn hoặc một câu nào hay nhất có thể là tinh hoa của cả một chương, hay của một tiết để xem đi xem lại, hoặc để học thuộc lòng hay ghi nhớ trong tâm khảm. Phải có những tập trích tuyển các câu văn hay, những câu thơ đẹp hoặc những đoạn sách đặc sắc với những tư tưởng tân kỳ… cho riêng mình. Nhưng cũng phải có một cuốn tập riêng để tóm tắt và phê bình những sách hay mà mình đã đọc. Ở đây mỗi người đều có một phương pháp riêng không thể bắt ai phải theo ai được.
Tập trích lục các đoạn văn hay nên sắp theo thứ tự vấn đề và theo mẫu tự. Tôi thấy có nhiều người cho dán vào những quyển sổ to luôn cả bài báo nào hay nữa. Thói quen ấy cũng rất hay, nhưng cốt yếu phải sắp đặt cách nào để một khi ta muốn dùng đến là tìm được ngay lập tức. Có người chép lại những đoạn văn hay trên những tờ giấy rời, dĩ nhiên là chép trên một mặt mà thôi, – và bỏ chung vào trong một bao thơ lớn có đề tựa.
Tóm lại, ta cần phải tuyển chọn những sách hay nhất trong những sách hay, nhưng trang hay nhất trong những sách hay nhất. Phương pháp tuyển chọn ấy dĩ nhiên là có tánh cách cá nhân, nhưng đó mới thật là phương pháp hay. Khi ta tìm ra một trang sách hay là vì nó là tiếng dội của lòng ta và ta có thể nói: “đây là ý tưởng và cảm xúc của tôi và nếu tôi viết ra, tôi chỉ muốn viết được như thế, chỉ tiếc vì tôi không đủ tài hoa để miêu tả được thôi”.
Ta nên dành riêng cho những sách ta đã tuyển chọn ấy một ngăn đặc biệt trong tủ sách ta, và có người lại khuyên ta nên “đem nó mà đóng lại, giấu nó đi, và đừng cho ai mượn cả, dù là bạn chí thân cũng vậy”.
Sự tuyển chọn là một phương pháp hay để tự mình biết rõ cái chân tướng của mình. Cứ đọc những tập trích tuyển là đủ biết khuynh hướng và tâm hồn của người trích tuyển ấy: hễ “đồng thanh” mới “tương ứng”, “đồng khí” mới “tương cầu”.
Khi mình còn ít tuổi thì tánh mình chưa định, chưa biết tuyển chọn, nên sự kết giao rất là bừa bãi. Đến khi có tuổi, thì sự kết giao bắt đầu siết chặt lại vòng dây: ta bắt đầu tuyển chọn.
Về việc học cũng thế.
Lúc còn trẻ, mình thường có nhiều cao vọng muốn biết tất cả và nhớ tất cả. Vì vậy mà tuổi ấy là tuổi khó học nhất, bởi chưa biết tuyển chọn.
Ngay khi viết sách cũng thế. Có nhiều nhà văn “trẻ tuổi” họ không biết tự giới hạn vấn đề, không biết tiết kiệm lời nói, họ thao thao bất tuyệt và giành hết quyền sáng tác của độc giả. Bởi vậy có người đã bảo: “Thế nào là quyển sách hay? Là quyển sách mà tác giả đã biết hạn chế vấn đề, tiết kiệm lời nói. Trái lại, quyền sách dở là quyển sách mà trong đó tác giả đã không còn để thiếu sót cái gì cả, không để cho độc giả cùng bàn góp thêm được phần nào ý kiến của mình.” Cần nói nửa lời thôi, nhưng là những lời nói khêu gợi. Phải biết giúp cho người suy nghĩ, đừng suy nghĩ thế cho người. Sách hay, tức là sách bắt ta suy nghĩ, bắt ta thương-xác, bắt ta hoài nghi và đặt lại vấn đề. Jean Guitton nói: “Nhà văn cần phải biết nín lặng, đừng nói hết ý nghĩ của mình và phải để cho độc giả có chỗ tỏ ra sự hiểu biết của họ”(15). Như vậy, những vở tuồng hoặc truyện hay là những vở tuồng truyện như vở Rhasomon hay là Địa ngục môn (Les portes de l’enfer) của Nhật, hoặc tiểu thuyết của André Gide trong đó tác giả chỉ trình bày và đặt vấn đề, chứ không giải quyết. Lối dạy học của Socrate cũng một thế ấy: ông chỉ đặt câu hỏi. Đọc sách mà suy nghĩ thì nên đọc những quyển sách ấy, và sách như thế mới là những quyển sách hay.
Người ta bảo Pascal chết sớm nên sự nghiệp văn chương của ông bị gián đoạn. Nhưng, chính nhờ ông chết sớm mà sách vở của ông có tánh cách giáo dục nhiều hơn cả, bởi một lẽ rất giản dị là nó bị gián đoạn và Pascal không kịp nói hết lời… Tiếng đờn hay là hay ở dư âm… Lời nói hay là lời nói vắn tắt mà hậu ý thâm trầm và man mác…
“Kẻ nào chưa biết tự hạn chế là người không bao giờ biết viết văn” (Boileau)
Có hai cách tuyển chọn:
Cách thứ nhất là lượm lặt tinh hoa của tất cả sách vở bất cứ thuộc về loại gì, bất cứ thuộc về thời nào.
Cách thứ nhì là chọn trước một đầu đề rồi sau lấy đó làm trung tâm nghiên cứu, tuyển chọn những gì liên quan mật thiết với nó, và mỗi ngày mỗi đi sâu vào vấn đề, được chừng nào hay chừng nấy.
Trong hai cách tuyển chọn ấy, cách sau này là thụ dụng hơn hết, nhưng cách trước là lý thú hơn hết. Cũng cần tham bác cả hai.
Về sự tuyển chọn, có người khuyên ta: “Đừng bao giờ đọc những bài văn bây giờ, nhất là vừa mới viết, do những ngòi bút mới lạ. Đừng đọc sách mới xuất bản. Phải để cho thời gian đào thải… Ngày giờ ta rất ngắn ngủi: đừng thèm đọc những sách chưa chịu nổi thử thách của thời gian. Đừng đọc sách của những nhà văn chưa có tên tuổi. Chỉ nên đọc những sách gì đã được tái bản hay xuất bản được trên ba năm là ít nhất. Rồi hãy lựa những sách nào đã xuất bản được trên ba mươi năm, trên ba trăm năm, trên ba ngàn năm… bấy giờ bạn sẽ lại gặp văn hào Homère” (16).
Lại cũng nên “tuyển chọn những sách nào làm cảm xúc được ta”. Nhưng ta nên hiểu chữ “cảm xúc” đây không có nghĩa là cảm động ngoài da bằng một thứ cảm giác kích thích thần kinh của ta gây ra do những tiểu thuyết diễm tình hạng rẻ tiền. Cảm xúc đây là sự cảm xúc sâu nặng như sự cảm xúc của Augustin Thierry khi đọc quyển Les Martyrs của Chateaubriand, của Malebranche khi đọc quyển Traité de l’homme của Descartes: một người thì tìm ra được cái khiếu về sử học, một người thì tìm ra được cái khiếu về triết học của mình. Quyển sách đầu tiên đã làm cho tôi xúc cảm quá sâu nặng và đã ảnh hưởng tư tưởng của đời tôi không nhỏ là quyển La Conquête de l’Illusion của J.J. Van Der Leeuw. Đó là những sách có thể gọi là hay, dĩ nhiên là đối với riêng từng cá nhân vậy.












How to use Quote function: