My Opera is closing 3rd of March

Của Xưa Để Lại

Nhạc Đĩa Than

CỘI NGUỒN

CỘI NGUỒN I:
Cây có cội, nước có nguồn, ăn trái nhớ người trồng cây là đạo lý căn bản của mỗi con người. Và cũng chính vì vậy mà một nhánh Phật Giáo Việt Nam chính hiệu như BSKH hay PGHH đều lấy tứ đại trọng ân làm căn bản hành đạo, một trong tứ đại trọng ân đó là: ân Tổ Tiên Ông Bà, Cha Mẹ. Và truyền thống đạo lý dân tộc Việt Nam cũng đã và đang rất coi trọng cội nguồn dân tộc để tôn thờ mẫu tiên Âu Cơ, cha rồng Lạc Long Quân là mẹ cha đã sinh ra trăm họ - dân tộc Việt Nam hôm nay sinh sống tập trung dọc theo dải đất hình cong chữ S thân yêu này và một số ít tản cư sống rải rác khắp cả Á - Âu - Phi - Mỹ - Úc châu nữa.
Và cũng trên tinh thần để bày tỏ lòng tri ân đến Cửu Huyền Thất Tổ đã qui tiên, Ông Bà Cha Mẹ hiện tiền, tôi có một vài mẩu chuyện về dòng họ ông 梅文香 xin ghi lại cho con cháu ông sau này được tỏ tường về nguồn gốc của mình. Từ những góp nhặt qua lời kể theo lối kể chuyện tự do mà ông kể tôi nghe về một thời hùng tráng của ông. Lúc trưa hè năm nào ...
Bắt đầu…

“Cũng chẳng biết phải bắt đầu từ đâu, thôi thì cứ truy ra từ tông tích dòng họ M(梅), nghe ông kể lại thì khỏang giửa thế kỹ 18 ông Cố Tổ Của ông tên là M V H (梅文香) từ ngòai Mai Phụ - Hà Tĩnh đã mang gia đình, vợ con tháp tùng cùng đòan nam tiến vào khai khẩn vùng đất hoang sơ nam bộ, nơi đó có địa danh là Cầu Mống làng Lương Phú thuộc tổng Định Tường - một địa danh đầu tiên cho đến bây giờ vẫn gọi là như vậy để sinh con đẻ cái, phát triển giống nòi duy trì cho mãi đến ngày hôm nay. May mắn thay, mộ ông vẫn còn nằm đó, từ hướng Sài Gòn theo quốc lộ 1A (quốc lộ Đông Dương ngày trước) đi về miền tây, đến ngã tư Lương Phú (ngày xưa còn gọi là ga Lương Phú vì thời trứớc có xe lửa đi về miền tây và đến đi thì dừng đổ ga) quẹo trái đi độ 5 cây số ngàn thì gặp Cầu Mống và tiếp tục quẹo trái độ ½ cây số thì gặp mộ. Hàng năm, cứ đến ngày 25 tháng chạp, ngày thanh minh hay còn gọi là ngày tảo mộ của dòng họ thì con cháu nơi nơi qui tụ về thắp hương tưởng nhớ. Tên ông M V H (梅文香)bằng chử Nôm đã được liệt vào danh sách những người có công khai khẩn lập làng Lương Phú. Danh sách này vẫn còn lưu lại trong đình làng Lương Phú và cứ mỗi năm đến ngày lể hội Kỳ Yên (Cúng đình) ngày 16 Tháng 6 âm lịch đều được đem ra đọc trong bài cúng tế Hòanh Thần. Cứ chiếu theo như vậy thì dòng họ M 梅 làng Lương Phú cũng được may mắn hảnh diện về nguồn cội của mình trong thuở các Vua Quan phía bắc mang gươm đi mở cỏi phía nam Việt Nam này. Xa xưa hơn nửa thì Họ Mai cũng một thời làm Vua, làm rạng danh trang sử Việt bằng việc Mai Thúc Loan -梅叔鸞(Vua Mai Hắc Đế- 梅黑帝) vào thế kỷ thứ VIII dựng cờ lảnh đạo cuộc khởi nghĩa nông dân chống giặc ngọai xâm (Giặc Đường), khi đất nước sạch bóng quân thù thì Tháng 4 năm 713 lên ngôi Vua, lập kinh đô ở Vạn An - Nghệ An trị an dân chúng, Từ lên ngôi vua, củng cố lực lượng, Mai Thúc Loan đã giải phóng toàn bộ đất nước và giữ vững nền độc lập trong 10 năm (713 - 722),. Mặc dù chỉ trị vì trong một thời gian ngắn nhưng dân tộc Việt Nam đã ghi nhận công lao đó trong trang sử vàng dân tộc Việt Nam, Ngày nay tại địa phận xã Vân Diên, huyện Nam Đàn có khu di tích tưởng niệm ông. Một bài thơ chữ Hán còn ghi trong Tiên chân báo huấn tân kinh để ở đền thờ, ca tụng công đức ông như sau (bản dịch):
“Hùng cứ Châu Hoan đất một vùng,
Vạn An thành lũy khói hương xông,
Bốn phương Mai Đế lừng uy đức,
Trăm trận Lý Đường phục võ công.
Lam Thủy trăng in, tăm ngạc lặn,
Hùng Sơn gió lặng, khói lang không.
Đường đi cống vải từ đây dứt,
Dân nước đời đời hưởng phúc chung”

Thật tự hào biết bao cho con cháu ngày nay những ai đang gắn trên giấy chứng minh nhân cái tên bắt đầu bằng chử họ MAI - (梅)…Và họ Mai sẽ còn trường tồn cho đến mãi mãi ngàn đời sau...như là một câu kệ sau đây:

"Chớ bảo xuân qua hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai "
(Thích-Chân-Tuệ)


Trở lại thời mà cụ tổ họ M 梅 lập làng khẩn đất, lúc đầu thì ruộng đất bao la (con cháu ít) cuộc sống sung túc, an cư lạc nghiệp cũng chỉ được vài đời, về sau gặp vận suy, ruộng đất mất dần vào tay bọn cường hào phong kiến lúc bấy giờ. Thì cũng như chu kỳ tự nhiên, nước sông có lúc lớn lúc rồng, thời vận có lúc thịnh lúc suy, gặp thời buổi nhiểu nhương, lọan lạc đất đai mất hết và con cháu trở nên trắng tay và phải đi thuê lại ruộng đất của bọn cường hào để mần ăn sinh sống. Nghe đâu lúc đó nghèo khó vô cùng, thế rồi con cháu chia nhau mỗi người một xứ để tha phương cầu thực. Một trong các chi nhánh họ M 梅 đó có một chi trụ lại làng Lương Phú đó là ông M V H – (梅文夏) (ngày xưa hể trai thì đặt là M V 梅文…, nữ thì đặt là M T…), Ông Hạp sinh được tổng cộng 6 người con, chết 1 và nuôi được 5 người, đó là bà Mai Thị Tao (lấy âm tôi, bà thứ hai, còn gười anh cả chết lúc còn nhỏ); bà Mai Thị Luôn; Ông Mai Văn Trọng; bà Mai Thị Điều và người con út là ông Mai Văn Phải (). Có một điều hơi ngẩu nhiên nhưng chắc có lẽ khi đặt tên cho con ông Hạp có gửi gấm ý đồ mong mỏi con cháu sau này lấy đó làm phương châm sống: TAO - LUÔN - TRỌNG - ĐIỀU - PHẢI.
Vì nhà nghèo nên các người anh chị mỗi người một công việc đồng án, gái lớn thì đi lấy chồng, nhỏ thì đi ở đợ cho nhà giàu, trai lớn thì lấy vợ giúp việc cày cấy, trai nhỏ thì đi ở đợ - chăn trâu. Dù nghèo nhưng ông Hạp cũng quí sự học nên sau khi kết thúc mỗi mùa vụ, công việc rảnh rang ông gởi con cái tới nhà các thầy đồ trong làng học chử NHO. Một điều không may cho ông út (Ông 7 Phải) là khi ông lớn lên nhằm lúc gia cảnh nghèo khó cùng cực (nghe nói lúc đó miền nam bị bảo gọi là bảo năm thìn, mùa màng thất bát - cơm không đủ ăn lấy đâu đi học) Ông rất thèm được đi học như các anh chị mà không được nên trong các anh chị ai cũng biết đọc biết viết chử Việt chử Nho, riêng ông 7 Phải bị “dốt” không biết đọc và không biết viết. Sở dỉ tôi cố tình để chử dốt trong dấu nháy nháy vì thực chất ông không dốt bao giờ, hồi sau sẽ thấy ông là người phi thường và cực kỳ thông minh, sáng dạ.

Học trò học chữ ở nhà thầy Nho trong làng
Ông là người thuận tay trái, mà nghe nói là những người thuận tay trái đều là những người tài giỏi, điều đó đúng không tôi không bảo đảm, nhưng ở ông tôi thì tôi cho rằng ông tài giỏi thật vì một quá trình sau này ông đã để lại cho tôi nghe rất nhiều điều đáng để tôi khâm phục.
Một ngày tôi còn nhỏ, trưa hè ông thì chẻ tre đang đác, tôi ngồi kế bên nhìn làm và hỏi chuyện tào lao, ông bắt đầu ra rả kể tôi nghe về tuổi thơ của ông: là, mới mười hai tuổi đầu ông đã suy nghĩ rất nhiều về cuộc sống, một hôm đang chăn trâu ngòai đồng ông nhìn thấy chiếc xe lửa chạy ngang qua ga Lương Phú thế là ông lóe lên suy nghĩ “không lẽ mình cam chịu kiếp nghèo khó và đi giữ trâu muớn mãi như vầy sao???...” thế là ông dự định một kế họach đổi đời cho những ngày sau đó, ông chuẩn bị thật cẩn thận cho kế họach này. Mỗi ngày ông dành ít cơm đem phơi khô, ông dự tính khi đủ sẽ khăn gói lên tàu hỏa đi cầu thực phương xa. Khi luơng thảo đầy đủ thì một khó khăn nan giải xuất hiên, “TIỀN” đâu mà đi xe lửa đây? Rồi sẽ đi đâu? Và khi đến sẽ làm gì? để đổi đời. Suy nghĩ mải không có lối ra ông đành thổ lộ cùng bà 6 Điều (Chị kế) về kế họach của mình đang bị bế tắc và ông nhờ bà làm quân sư (Tư vấn). Thế nhưng bà 6 cũng bó tay luôn.
Người có chí khí không đầu hàng số phận, ông lại lên kế họach khác. Ông bàn với bà 6 và rủ bà 6 cùng đi với ông. Ông to nhỏ với bà rằng:
“nghe nói trên Tây Ninh mình có ông Dượng làm chủ rừng trên đó và giàu có lắm (làm đến chức ông Cả lận) người dân vùng đó gọi là cả Cang (ông ấy tên Cang và có quan hệ họ hàng tí, Ông cả Cang là anh rể của bà cố tôi, ông nội tôi gọi bằng dượng) hay là mình lên đó nhờ ổng giúp làm ăn, cùng lắm ở đợ cho ổng cũng được, ở đợ cho người nhà vẫn hơn là đi ở đợ cho mấy thằng cường hào chiếm lấy đất đai của mình”.
Bà Sáu thực tình không muốn mạo hiểm và không muốn đi nhưng bà hiểu tính ý em của bà là không quyết thì thôi đã quyết là làm, nên cuối cùng bà đồng ý đi. Đi vì mục đích để bảo vệ thằng em trai của mình, bà sợ ông tôi còn nhỏ đi lạc hoặc bị kẽ xấu bày bậy. Thế là hai chị em với ít lương khô khăn gói lên đường, nửa đêm hai chị em trốn nhà ra đi, ra đi không một lời từ biệt ai cả, sáng ra nhà chủ tá hỏa thấy hai đứa gia nhân biến đâu mất, nhà cửa bà 6 không quét dọn, trâu ông 7 không thả ra đồng. Nhà chủ tưởng đâu là trốn về nhà nên giận lắm, giận vì về mà không xin phép và bỏ bê công việc nên liền cho gia đinh gọi ông cố tôi lên (nhà gần đó) để mắng cho một trận. Ông cố tôi lúc đó như người trên trời rơi xuống, có biết gì đâu, “từ tối qua tới giờ có đứa nào về nhà đâu cà???” “mấy đứa này đi đâu??” “hay là “đi làm gì bậy bị tây bắt rồi” nói đến đây ông tự trấn an mình rằng nếu bị tây bắt thì còn có ngày về họăc cùng lắm đi làm lao dịch cho tụi tây cũng có cơm ăn, ở nhà nghèo quá mà. Nhưng ngày qua ngày bặt vô âm tính và cuối cùng ông cố tôi tin rằng ông đã bị mất hai đứa con út, 1 trai, một gái....
Nói về hai chị em ông 7 Phải, ngay đêm ra đi hai chị em đi bộ từ đình làng Lương Phú lên đến tận chợ Tân An, đón và đi quá giang ghe bầu đi buôn, từ Tân An xuôi dòng Vàm Cỏ Tây đi thẳng hướng Tây Ninh, ghe đi độ chừng hơn mười ngày mới đến Tây Ninh vì trên đường đi còn ghé vào các chợ dọc đường để buôn bán. Đến nơi, hai chị em tạ từ-cám ơn chủ ghe và hỏi thăm tìm nhà ông cả Cang để đến. Sau khi rời ghe, hai chi em lại tiếp tục đi bộ vượt đường rừng mấy ngày nửa mới đến được nhà ông cả.
Đến nơi thì cầu xin gặp ông cả, hôm đó ông đi săn chưa về nên nói đầu đuôi gì trong nhà cũng không ai nhìn nhận bà con nên không chấp nhận cho ở trong nhà và chỉ cho ở ngòai kho gỗ ở bìa rừng chờ ông cả về coi có nhận ra bà con họ hàng không. Hôm sau, ông cả đi săn về dẩn theo cả đòan gia nhân và mấy con thú săn được. Ông nghe báo có hai đứa cháu đi tìm nên cho gọi về hỏi thăm. Sau khi bà 6 và ông 7 kể về gốc gác của mình, ông cả vừa mừng vừa tủi cho 2 đứa cháu của mình và nhận về nuôi như con cháu trong nhà và không quên cho người xuống ghe nhắn về dưới này cho ông cố tôi (Ông Hạp) biết chuyện và dặn rằng “ thôi thì bây nghèo không nuôi nổi tụi nó thì để tao nuôi” thế là hai chị em bắt đầu một chặn đường mới của cuộc đời, làm con của một người giàu có nhất làng và là chủ rừng.
Được ông cả cho đất đai riêng để làm ăn, lúc đó bà Sáu đã đến tuổi lấy chồng, và bà cũng có chút nhan sắc nên bà phải lòng và làm vợ một người Việt gốc Miên (Campuchia), ông này rất giỏi về bùa ngải (lổ ban) và gỉoi nghề võ nửa (Thiếu Lâm Tự), nghe đâu bà sáu và ông này ở với nhau nhưng không có con. Chính vì vậy mà sau này bà không còn ở với ông này. Lại nói về nội tôi, lúc đó ông mới 12 tuổi, ngày theo bà chị và anh rể chăn nuôi cày cấy, đêm theo ông cả đi săn. Và cũng trong thời gian này nội tôi đuợc anh rể truyền cho món bùa Lổ Ban, võ Thiếu Lâm Tự. Ông cũng thông thuộc đường rừng và các món nghề để tồn tại trong rừng, như nhìn lá có thể biết được lá độc lá lành, nhìn sao trên trời, nhìn hình thù vỏ cây trong rừng có thể đóan đường đi và những phương pháp đối phó với thú dử khi đi săn. Nghe ông kể lại có mấy lần đi săn ông chạm trán với cả hổ nủa, nhưng lần nào thì ông cũng chiến thắng quay về. Ông nói để tồn tại, gặp hổ thì không bao giờ bắn, chỉ bắn những con thú nhỏ như thỏ, nai, mểnh thôi, có lần ông đi săn chung cả nhóm nhưng vào rừng chia phe ra đi săn, khi gặp hổ những người kia bỏ chạy thục mạng nên lạc hết, riêng ông bị hổ dồn vào thế chết, bí quá ông dương cao đèn pha về phía con hổ và ngồi vào gốc cây chỉa thẳng súng vào con hổ để đối phó, nhưng không bắn vì trứơc đó ông có lời nguyền là gặp hổ không bắn, con hổ định chòm tới chụp ông nhưng nó kỵ gốc cây nên không bay vào mà nó cứ đi qua bên trái, đi qua bên phải chờ ông sơ hở là nó chụp ngay, nhưng con hổ đi về hướng nào là ông tựa lưng vào gốc cây và phỉa thẳng súng đèn pha vào con hổ, kèn cựa đến gần sáng con hổ nản lòng bỏ đi, và ông lại quay về nhà.
Nói về những người bỏ chạy tối đêm qua, về nhà báo tin cho ông cả biết là đi săn gặp hổ bỏ chạy tán lạn và “thằng 7 Phải lạc mất rồi- chắc bị hổ vồ rồi” nghe đến đó ông cả ứa nước mắt mà than rằng “ vậy là chết thằng 7 Phải rồi- tội nghiệp thằng nhỏ, nhà nghèo đi lưu lạc lập nghiệp nhưng lại không may bị hổ vồ” nói đến đọan đó thì nội tôi xách súng và đèn pha về tới nhà, mọi người cả mừng mà rằng, “Vậy là số mầy lớn lắm, hổ mà không vồ được mầy thì khó ai có thể hại mầy lắm” và từ đó về sau trong giới đi săn trong vùng cả nể nội tôi và khi đi săn thường hay rủ nội tôi đi cùng để hưởng xóay sự an tòan (vì trong thế bí ông hay nghĩ ra được cách đối phó an tòan).
Bản tính thông minh nên ông học rất nhanh, chỉ mấy năm sau mà nghề bùa và võ của ông cũng muốn chừng vượt qua thầy (anh rể) nên anh rể e ngại không dạy nửa. Và cũng nghe đâu có mấy lần thách đấu ông điều thắng cả anh rể của mình.
Thời gian dần trôi qua chẳng mấy chóc nội tôi đã đến tuổi trưởng thành, và làm ăn cũng khấm khá, ông cả Cang định cưới vợ cho nội tôi, đang tìm ngừời ưng ý thì có tin từ ghe bầu nhắn lên rằng ông cố tôi dưới nầy đau ốm nặng lắm - nhắn hai chị em ông nội tôi về gấp để còn lo gả cưới trứơc khi nhắm mắt. Nghe báo tin, nội tôi và bà sáu lậc đậc khăn gói về ngay, thời đó đi ghe chứ chưa có xe chạy tuyến Tây Ninh-Mỹ Tho nên cũng mất cả tháng tin mới lên tới bằng đường ghe, nghe tin thì đã khá muộn rồi. Lúc đó nội tôi định về bằng đường ghe nhưng sợ về trể, lở ông cố tôi qua đời thì không gặp mặt, nên mới hỏi mượn xe ôtô của con ông cả láy về thăm cố tôi, một công hai chuyện: thứ nhất về lẹ, thứ hai xa quê bao nhiêu năm giờ láy ôtô về cho oai. Ngặc cái xe mới mua, nên con ông cả không cho mượn mà nói rằng: chị em chú 7 mầy giờ mần ăn cũng khá, dành dụm kiếm tiền mua 1 chiếc mà chạy, xe tao mới mua sao cho chú mầy mượn được, mầy không có bằng lái đi đường cảnh sát bắt nhốt xe rồi mần sao!” nghe vậy nội tôi giận, vì nghĩ chổ anh em thường ngày nội tôi cũng ngồi trên xe đó chở chủ xe đi chơi có sao đâu (lúc đó nội tôi không có bằng lái do tây cấp vì có biết chử đâu mà thi, nhưng vì ở rừng cũng ít có cảnh sát nên tự lái xe cho con ông cả Cang), giờ nhà có chuyện gấp mà không cho muợn nên cuối cùng ông đi ghe về. Hai chị em mất cả mấy ngày mới về tới dưới này. Khi về thì ông cố tôi bệnh cũng khá nặng, ở nhà chăm sóc một thời gian thì ông cố tôi qua đời.
Lo tang chế - chôn cất cha xong bà sáu nói “thôi quay trở lên, để bỏ bê công việc trên đó” nội tôi nói “Mình đi làm ăn xa không lo cho cha được lúc tuổi già là một cái áy náy- Giờ tang cha chưa hết mà bỏ đi tiếp nên ông muốn đi mà ở nhà thọ tang. Ông Nói vậy thôi chứ ông không muốn trở lên vì giận con ông cả Cang không cho mượn xe – nghỉ chơi. Gặp bà sáu có chồng mà không có con nên bà cũng không quyết liệt trở lên, thế là coi như bỏ của trên đó. Sau đó ông cả Cang có nhắn trở lên mấy lần nhưng không thấy lên, rồi ông cả Cang già cũng qua đời, đất đai của bà Sáu và Nội tôi thì con ông cả Cang xài.
Cũng từ khi ông cố tôi mất ông nội tôi tự phát nguyện ăn chay trường.
Lại bắt đầu hành trình mới:
Ông nội tôi cưới bà nội tôi, bà nội tôi là Nguyễn Thị Quới con nhà nho giáo, học trường tây đàng hòang nhưng vì duyên số, bà được mai mối và phải lòng ông nội tôi, bà là một người phụ nử rất đảm đang, ngòai việc sinh con, nội trợ ra bà còn là thầy giáo dạy chử cho ông nội tôi. Ông tôi cũng không tự ái mà ông hiểu rằng có học cái chữ mới khai mở được trí óc và ông học rất nhanh, chỉ học lóm qua bà tôi mà ông tôi đã biết đọc, biết viết chử Việt, chử Tây, tôi còn nhớ như in vì ông có dạy lại cho tôi hình như là : On – đơ – tro – cát – xe – xít – quít – đít – nốp gì đó và chữ Nho (chử nho ông tự học). Và sau này khi ông tu luyện đạt đỉnh công phu ông còn làm thơ, ca ngâm nửa. Ông cũng có óc thẩm mỹ độc đáo, thời đó người ta hay đặt tên cho con cháu nào là Tèo, Tí, Mận, Ổi ... nhưng ông thì con cháu không bao giờ trách được ông vì mỗi cái tên mà ông đặt ra là có ý nghĩa liên hệ tới một vì sao, một sự kiện nào đó trong phật giáo, khổng giáo... ví dụ như Thành Long, Bá Liên, Tuyết Hằng, Ngọc Diệp; Ngọc Tuyền... và ông giải thích rằng cái tên là cái quan trọng nhất của một con người phải đặt sao kêu nghe cho hây, sao cho có ý nghĩa. Ông quan niệm rằng số phận - cuộc đời có gắng liền với cái tên gọi nữa. Khoa học tâm lý ngày nay cũng nói như vậy. Khi tôi chào đời thì ông đã già, chính mắt tôi thấy ông còn chơi đàn bầu - kìm - sáo nửa, thật là có máu văn nghệ,…

Đi cày
Cuộc sống ông bà tương đối sung túc nhàn hạ. Với bản lỉnh, chí thú làm ăn, hàng ngày ông đi cày cấy trên đất mướn, tối về nhà học, đọc sách vở. Ông thích đọc truyện Phong Thần, Tây Du Ký, Truyện Tàu, ông nói chắc nịch là trước khi rời nhà bắt trâu ra đồng cày là ông phải đọc ít nhất hai trương (trang) truyện và sau khi thả trâu nghỉ ông đọc tiếp ít nhất 2 trương nửa rồi mới uống một tô nước trà và đi ăn cơm, ngày nào cũng như ngày nào, cứ thế ông đọc hết truyện này sang truyện khác và hết truyện không còn truyện mới thì đọc lặp lại cho nên các tên nhân vật, tên sự kiện, thời gian ông thuộc nằm lòng cả. Chính vì vậy mà bạn bè cùng lứa với ông, những ông nho học hay tìm đến ông để tranh luận về truyện tàu. Sau khi vanh vách tuyện tàu ông quay sang nghiên cứu kinh điển Phật Giáo nửa. Thật khâm phục một người nông dân “dốt” chưa bao giờ biết đến trường lớp là gì mà đạt trình độ khai mở như vậy.

Ông thì như vậy, Bà ở nhà nội trợ nuôi con. Ông Bà sinh được ra được 5 người con đó là bác tôi (chết lúc nhỏ),Cha tôi, Chú tôi và cô Tư và cô Út tôi. Sau khi sinh cô Út tôi bà lâm trọng bệnh và qua đời, ít lâu sau cô út tôi cũng chết vì thiếu sữa, lúc đó cha tôi mới 12 tuổi và ông tôi như người mất phương hứớng vì mất đi người vợ yêu quí, mất người bạn thâm giao, mất người thầy giáo dạy chử, buồn quá ông nghĩ đến việc ly gia cắt ái mà đi tu. Một lần nữa, ông giởi gấm ba tôi, cô chú tôi cho bà Sáu chị của ông nuôi dưỡng dùm và ông đã lên đường đi tu thiệt. Bởi thế cho nên có thể nói bà Sáu vừa bà cô của cha, chú tôi mà cũng có thể nói là mẹ của cha chú tôi cũng được.
Ông lên núi Thất Sơn tầm sư học đạo, ông thọ giáo qui y Phật Pháp từ một pháp tăng thuộc hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương, tôi không biết ông đó tên là gì mà chỉ nghe nội tôi nói đó là Ông Năm. Ông Năm về trình độ Phật Pháp cũng thâm cao nên ông Năm nghe nội tôi trình bày rằng cuộc sống gặp nhiều trắc trở, buồn quá nên muốn đi tu giải thóat. Ông Năm biết khó mà cản trở ý định của nội tôi nên ông Năm đồng cho nội tôi thọ giáo qui y và truyền mật pháp tu hành. Sau độ hai năm không ai nghe ngóng được tin tức gì từ nội tôi cả, không biết ông khỏe mạnh, đau yếu hay sống chết ra sao cả. Một hôm sau khi tời kinh tối, ông Năm nói với ông nội tôi rằng, “con tu luyện cũng khá rồi đó, giờ đến lúc phải xuống núi hoằng pháp lợi sinh, ở trên núi không giúp ích chi cho đời được đâu, chúng sinh cần con dẩn dắt đó chính là những đứa con bơ vơ ở nhà kìa” nghe đến đó nội tôi NGỘ ngay. Ông hiểu tu không cần phải ly gia cắt ái, tu ngay với gia đình vợ con và nhân quần xã hội đó căn bản của đạo BSKH.
“Tu Quốc Vương có vợ có chồng
Có con có cháu nối dòng Nam Bang”

Lảnh hội lệnh của thầy ban, nội tôi xuống núi trở về gặp lại gia đình tu tại gia và làm ăn y như người thế gian không khác chi cả. Chỉ khác một điều là ông ăn chay trường, không uống rượu, hay giúp kẽ nghèo khó (giúp gạo), không toan tính thiệt hơn, hể chổ nào ngừơi ta toan tính thì ổng bỏ ổng đi làm chổ khác và ông hay rao giảng, nói về triết lý phật giáo cho những người trong thôn xóm. Có một điều nửa là ông nhập thế rất hay, lần này về ông chí thú làm ăn và khoa học hơn bao giờ hết, vừa làm ăn vừa tu hành vừa thưởng thức cái vui cái hạnh phúc hiện tại.
Mục tiêu của ông là làm ăn, tu tập và hưởng thụ hạnh phúc tinh thần ngay trong cuộc sống thế tục và chuẩn bị đầy đủ, chu đáo cho cuộc sống tinh thần sau khi chết.
Thương bà tôi vắng số, ông ở góa vậy nuôi con mà không lấy vợ kế cho đến cuối đời và ông quyết tâm mần ăn để có tiền cho Cha và Chú tôi ăn học để không không phải lam lủ một đời như ông. Ông làm ngày và làm cả đêm, ban ngày ông mần ruộng nhà, ban đêm ông mần mướn cho người giàu vì khi đó là thời chiến tranh chống Mỹ, nhân lực địa phương khang hiếm nên kiếm người mần mướn rất khó. Giả lại người ta sợ rủi ro, sợ tên bay đạn lạc nên ban đêm không ai mần cả mà ông thì tranh thủ cơ hội đó để mần mướn kiếm thêm tiền. Ông biết rằng cuộc sống con người có số và ở hiền sẽ gặp lành nên ông chả sợ gì hết mà cứ thế vô tư mà mần. Ông tính tóan rất khoa học, gởi cha chú tôi ra thành học nội trú để không gặp rũi ro về bom đạn và ông thì rảnh tay đi mần mướn kiếm tiền. Tiền dành dụm được ông đem đi mua đất, hể nghe ở đâu bán đất là ổng mua, nhỏ đủ tiền ngay. Lớn không đủ tiền mua, chạy vay mượn để mua. Nếu không ai cho mượn thì ông năn nỉ chủ đất cho đặt cọc ít tiền rồi mua chịu trả từ từ. Và như vậy đầu trên xóm dưới chổ nào ông cũng có đất. Nhưng mà cũng có một nhược điểm là đất đai,vườn tược phân tán rải rác như vậy khó kiểm sóat. Nhưng ông cần biết lợi nhiều hay ít mà mục tiêu của ông là một ngày kia ông sẽ trở thành ông chủ có rất nhiều đất đai, thế thôi. (Thời điểm này có đất không còn bị cho là cường hào ác bá vì đã có luật “người cày có ruộng” luật ý rằng bất kỳ ai củng có quyền sở hữu đất miễn là mua chứ không chiếm đọat không của người khác.

Ông là nông dân sống trong đồng điền nhưng sống như một đại gia Sài Gòn nhà luôn có những tiện nghi hiện đại, mặc dù chưa giàu có nhưng ông rất chịu chi và khóai chơi máy móc, đặc biệt là máy nổ, xe máyÔng thấy nhà người giàu có Radio ông rất khóai. Nhưng chưa đủ tiền, chờ mua lúa ông bán 61 giạ lúa mua cái radio PHILIP về nghe, nhưng ông không nghe một mình, tối tối ông đem ra sân bắt ghế đẩu để lên mở đài cho bà con lối xóm xúm lại nghe cải lương, tin tức chơi.

Radio Philips
Ở xóm người ta bơm nứớc ruộng phải đạp xa quạt giống kểu bác Hồ đạp trên phim tư liệu, ông cũng nghèo nhưng bán mùa lúa gom lại mua cái máy bơm chạy bằng xăng hiệu KOHLLER 7, chỉ vài mùa ông đã tậu được đến 4 máy như thế. Xăng, ông mua xăng chính hiệu ESSEL phuy này qua phuy khác trử trong kho, tới ngày mùa khô mà cần mần lúa ông đem máy ra đổ xăng, giật máy lên chạy ành ạch rân trời.
Ông thầy tu tại gia nhưng đam mê tốc độ,
Ngòai thị trường có xe máy mới là ông cũng sở hữu ngay một chiếc. Đầu tiên là chiếc Mobilete lọai vừa chạy như xe máy vừa đạp như xe đạp đầu tiên ông cũng có. Khi nào bận mần thì mần khi nào ai mời đám tiệc là ông diện bộ đồ bà ba trắng, đội nón cói trắng dắt xe máy đi sang như tây chứ chẳng chơi. Có lần ổng chở bà Sáu đi ăn giỗ ở xã khác vì đam mê tốc độ và thưởng thức âm thanh rào rào của xe máy, chạy dấp ổ gà văng bà Sáu xuống lộ mà ông vẫn không hay biết, đến nơi xuống xe ông còn ngạc nhiên “chị sáu này kỳ lạ mà nhanh, xe mới đậu lại mà chị đã vào đám giỗ mất rồi, làm như chưa được ăn giổ bao giờ” Nhưng ông đâu biết chị sáu bị văng xuống lộ - nín thở phải nhờ nhờ người đi đường khiên trở về nhà!!... [/ALIGN]
Xe SOlEX
[/ALIGN]
Xe Mobylette
Sau đến chiếc 67, hồi năm 1967, xe Honda 67 mới ra, ông cùng ông bác bà con của tôi đi ra tỉnh mua xe, hồi đó cửa hàng xe có để một chiếc cho khách hàng chạy thử một vòng trứơc khi quyết định mua. Hai cậu cháu thử xe, ông Nội tôi cầm láy chở ông bác tôi ngồi phía sau, xe chạy tốc độ cở 30 cây số trên giờ rồi mà ông cậu ngồi phía sau cứ nói “chưa, nhả am-rai-ya tí nửa cậu! Nhả nửa, nhả tí nửa”, ông mới chạy lần đầu không quen, tăng ga nhả amraiya đột ngột, xe phóng cái vù lao thẳng vào gốc Vái Ngựa ven đường hai cậu cháu văng xuống ruộng, hên mà chỉ nát xe, chứ người chỉ bị thương sơ sơ. Lần đó về, đền chiếc xe cho tiệm xe và ông quyết định từ bỏ tốc độ, không chơi xe máy nữa. Sau này người ta chỉ thấy đi đâu xa hay gần ông chỉ chạy chiếc xe đạp cọc cạch chứ không thấy ông chạy xe máy nửa.
[/ALIGN]
Honda 67
Con người có máu chơi công nghệ thì không dừng lại ở đó, không chơi tốc độ ông quay sang chơi máy đèn (dynamo). Hồi trước giải phóng ở thôn quê làm gì có điện vậy mà nhà tôi có điện sáng choang mỗi đêm rồi đó. Bán mùa lúa ông trang bị giàn máy đèn và hệ thống điện trong nhà. Chơi tòan hàng hiệu Made In USA không. Sau ngày giải phóng xăng dầu đắc đỏ ông bán giàn Dynamo, nhưng để lại giàn đồ điện sau này khỏang năm 1982 có điện lưới của nhà nước về thì xài tiếp khỏi phải mua. Giờ ông còn để lại mấy cái máy Kohller tôi vẫn giữ làm kỷ niệm, lâu lâu về quê tôi hay đem đổ xăng vào giật cho chạy chơi.
Bên cạnh máy cơ khí công nghệ, ông còn có cái thú khác nửa là chơi đồ cổ. Bản thân ông kính trọng tổ tiên nên việc thờ cúng ông rất chú trọng và trang hòang. Trên bàn thờ có rất nhiều lư, lục bình, tách, tủ ghế gì đều là đồ cổ đồ quí không. Ngày nay con cháu vẫn giử để làm kỷ niệm.
Còn tiếp…
[/SIZE][/FONT][/B]

Enjoy the Beautiful Flower Golf Relax

Write a comment

New comments have been disabled for this post.

February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28