You need to be logged in to post in the forums. If you do not have an account, please sign up first.
Giải thi thơ lục bát trên trang Văn Nghệ Đất Đứng (Tây Ninh)
Cuộc thi thơ lục bát trên trang Văn Nghệ Đất Đứng của tỉnh Tây Ninh vừa kết thúc sau hơn sáu tháng tranh tài quyết liệt của các thi sĩ,kéo dài từ năm 2009 đến tận ngày 30 tháng 4 năm 2010.Các nhà thơ của các tỉnh có tham gia đều cố tung ra các tác phẩm đặc sắc nhất của mình để mong chiếm được thế thượng phong.Vòng 1 - Sơ khảo: Do Ban tổ chức tuyển chọn. Mỗi tháng Ban tổ chứcchọn khoảng hơn 30 bài thơ để giới thiệu vào Vòng 2 (chung cuộc có khoảng hơn 150 bài thơ hay nhất được giới thiệu vào Vòng 2)
Vòng 2 - Vòng loại : Do độc giả khắp nơi bình chọn
Sau đây là các bài thơ và các tác giả đứng nhất mỗi tháng được lọt được vào vòng chung khảo (vòng 3)
Giải nhất Tháng thứ nhất: Tình vô lượng của tác giả Vũ Hoàng (Cà Mau)
Giải nhất Tháng thứ hai: Nhớ quê - Khoảng mỏng - Đêm trong thơ của tác giả Lê Bá Duy (Bình Định)
Giải nhất Tháng thứ ba: Làng tôi đất bán sạch rồi - Tạm biệt Phong Nha của tác giả Thanh Trắc Nguyễn Văn (tp. HCM)
Giải nhất Tháng thứ tư: Trái mùa – Ngày chiêm bao của tác giả Ngô Văn Cư (Bình Định)
Giải nhất Tháng thứ năm: Chiều phai – Chiếc lá thu phai của tác giả Lê Minh Dung (tp. HCM)
Rất tiếc là nhiều nhà thơ chủ nhà (Tây Ninh) có nét thơ rất độc đáo như KhaLy Chàm,Kiều Trang,... không qua được vòng này.Nhiều nhà thơ lão thành khác nhiều tài năng như nhà thơ Trần Ngọc Hưởng (Long An),người vừa mới được kết nạp vào Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2009, cũng không may khi gặp số phận tương tự.
TÌNH VÔ LƯỢNG
Từ em vô ngã vô thường
Anh về vô lượng vô tường ái thiên
Kể từ thiên lý ngộ duyên
Căn tu trăn trở lòng thiền phân vân
Từ em hoa nhủ trắng ngần
Ba hồn chín vía... anh thầm vái van
Đạo đời một chiếc thuyền nan
Thôi đành bỏ đạo anh sang bên đời
Bốn phương tám hướng lạy trời
Cầu cho ước mộng tròn lời thệ duyên
Lòng em dâng chú vô biên
Độ anh vô đạo qua miền dối gian
Yêu em yêu đến vô vàn
Mai anh sờ đất nhớ ngàn hương xưa
Thất diệt... anh niệm sớm trưa
Luân hồi chín kiếp vẫn chưa quên Tình
Vũ Hoàng
(Giải nhất thơ Lục Bát bình chọn tháng thứ 1 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
Từ em vô ngã vô thường
Anh về vô lượng vô tường ái thiên
Kể từ thiên lý ngộ duyên
Căn tu trăn trở lòng thiền phân vân
Từ em hoa nhủ trắng ngần
Ba hồn chín vía... anh thầm vái van
Đạo đời một chiếc thuyền nan
Thôi đành bỏ đạo anh sang bên đời
Bốn phương tám hướng lạy trời
Cầu cho ước mộng tròn lời thệ duyên
Lòng em dâng chú vô biên
Độ anh vô đạo qua miền dối gian
Yêu em yêu đến vô vàn
Mai anh sờ đất nhớ ngàn hương xưa
Thất diệt... anh niệm sớm trưa
Luân hồi chín kiếp vẫn chưa quên Tình
Vũ Hoàng
(Giải nhất thơ Lục Bát bình chọn tháng thứ 1 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
NHỚ QUÊ
Tôi ngồi hong nỗi nhớ xưa
Mùa xuân thành phố mới vừa nhóm lên
Lửa lòng - ngọn lửa không tên
Quê nhà kỷ niệm dấy lên ắp đầy
Neo tôi sóng sánh trời mây
Trong ký ức, trắng những ngày tuổi thơ
Bên dòng sông chảy lững lờ
Cắm câu thề ước bên bờ tha hương
Mười lăm năm, giữa phố phường
Không nguôi nhớ chốn thiên đường tôi xưa
Giờ vui buồn với cơn mưa
Tôi người ở trọ có thừa với quê?
Đêm đêm thao thức tìm về
Chiêm bao tôi
đắm sông thề
hẹn em….
Lê Bá Duy
(Giải nhất thơ Lục Bát bình chọn tháng thứ 2 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
Tôi ngồi hong nỗi nhớ xưa
Mùa xuân thành phố mới vừa nhóm lên
Lửa lòng - ngọn lửa không tên
Quê nhà kỷ niệm dấy lên ắp đầy
Neo tôi sóng sánh trời mây
Trong ký ức, trắng những ngày tuổi thơ
Bên dòng sông chảy lững lờ
Cắm câu thề ước bên bờ tha hương
Mười lăm năm, giữa phố phường
Không nguôi nhớ chốn thiên đường tôi xưa
Giờ vui buồn với cơn mưa
Tôi người ở trọ có thừa với quê?
Đêm đêm thao thức tìm về
Chiêm bao tôi
đắm sông thề
hẹn em….
Lê Bá Duy
(Giải nhất thơ Lục Bát bình chọn tháng thứ 2 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
ĐÊM TRONG THƠ
Đêm
hoa nở sáng
bầu trời
Có ngôi sao nhỏ
không lời
sáng thôi
Đêm mồ côi
thơ mồ côi
Em yêu vụt đến
thế rồi lại đi
Tình yêu
nhuộm tím phân ly
Qua đêm phát sáng những gì yêu thương
Cố đi hết một con đường
Yêu thương đã trải đoạn trường đã qua
Bên bờ tối - sáng
âm ba
Bể dâu dậy sóng trào qua cuộc đời
Đi trong nước mắt mà cười
Lặn trong bão tố xin đời bao dung
Tri âm góc bể thâm cung
Nguyện cầu cay đắng tận cùng khổ đau…
Lê Bá Duy
(Giải nhất thơ Lục Bát bình chọn tháng thứ 2 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
Đêm
hoa nở sáng
bầu trời
Có ngôi sao nhỏ
không lời
sáng thôi
Đêm mồ côi
thơ mồ côi
Em yêu vụt đến
thế rồi lại đi
Tình yêu
nhuộm tím phân ly
Qua đêm phát sáng những gì yêu thương
Cố đi hết một con đường
Yêu thương đã trải đoạn trường đã qua
Bên bờ tối - sáng
âm ba
Bể dâu dậy sóng trào qua cuộc đời
Đi trong nước mắt mà cười
Lặn trong bão tố xin đời bao dung
Tri âm góc bể thâm cung
Nguyện cầu cay đắng tận cùng khổ đau…
Lê Bá Duy
(Giải nhất thơ Lục Bát bình chọn tháng thứ 2 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
Hoa cải ngồng
Hững hờ một chút gió đông
Vàng hoa cải ngồng
Tím ngắt bến xưa
Một người đón - Một người đưa
Áo hoa em bước
Trời mưa phập phồng
Hai ngàn một bó cải ngồng
Bao nhiêu bó?
Đủ thành chồng...
Em ơi
Một đồng hoa cải - Vàng trời
Không sánh nổi
Chút vàng mười
Người xa...
Cải ngồng nghiêng ngã xót xa
Vàng trải lối
Tiễn em qua nhà chồng.
Hạ Vi Phong
Bình thơ
Hững hờ một chút gió đông
Vàng hoa cải ngồng
Tím ngắt bến xưa
Cứ độ tháng 11, người ta lại bắt gặp một chút lành lạnh của gió mùa đông, một chút đổi thay của đất trời lúc giao mùa. Nhưng độc đáo và rõ nét hơn cả, đó là màu vàng của hoa cải ngồng, một màu vàng đơn sơ, sâu lắng, rực rỡ cả bến sông. Một cánh đồng hoa cải vàng trải dài, hàng nối hàng đua nhau khoe sắc. Biết bao tâm hồn nghệ sĩ đã rung động trước sắc vàng mong manh ấy, biết bao tranh ảnh, lời thơ, nốt nhạc đã bắt nguồn từ cánh đồng hoa cải ấy. Một bức tranh thiên nhiên thật đẹp. Nếu như không có cảnh:
Một người đón - Một người đưa
Áo hoa em bước
Trời mưa phập phồng
Hình ảnh chiếc áo hoa bay trong gió giữa cánh đồng vàng hoa cải, trong lất phất mưa bay. Chẳng biết người cất bước vui hay buồn. Nhưng mưa phập phồng và dạ người đưa chắc cũng xốn xang. Đồng hoa cải này, chắc là nhân chứng của một tình yêu với bao lời ước hẹn. Hẹn một ngày hoa cải trổ bông, hẹn đến khi dành dụm đủ tiền sẽ nên duyên chồng vợ. Thế mà...có kẻ nỡ lòng quên.
Hai ngàn một bó cải ngồng
Bao nhiêu bó?
Đủ thành chồng...
Em ơi
Lời thơ bình dị mà xót xa, nhẹ nhàng mà day dứt. Mỗi bó cải bông chỉ hai ngàn đồng,một đồng hoa cải được bao nhiêu bó và liệu có đủ để hai người tổ chức một lễ cưới hay không? Trong tình yêu chân chính, người ta không chuộng hình thức bề ngoài mà chủ yếu từ tấm lòng, tình yêu phải xuất phát từ hai trái tim. Nếu năm nay không đủ tiền, người ta có thể hẹn mùa sau cơ mà. Nhưng ở đây có một sự so sánh khiến người ta ngỡ ngàng, rồi chua xót.
Một đồng hoa cải - Vàng trời
Không sánh nổi
Chút vàng mười
Người xa...
Nếu tính theo giá thị trường, sự so sánh này không sai. Nhưng ở khía cạnh tình cảm, đó là một cảnh tình ngang trái. Một người tham sang phụ khó, bội bạc quên tình và một kẻ ngậm ngùi, xót xa, khuất phục trước số nghèo.
Cải ngồng nghiêng ngã xót xa
Vàng trải lối
Tiễn em qua nhà chồng.
Hai câu kết toát lên chút vị tha, chân chất, tuy đau xót nhưng vẫn dạt dào triết lý tình yêu. Phải chăng hạnh phúc của người mình yêu cũng chính là hạnh phúc của bản thân mình. Giống như Puskin cũng từng yêu và "cầu em được người tình như tôi đã yêu em". Đúng là một chuyện tình kết thúc không đẹp nhưng phía sau đó là chút nhẹ nhàng hiếm thấy. Người đi cảm thấy lòng mình bớt ray rứt hơn, kẻ ở lại ít đau xót hơn. Ừ thì hoa cải vàng ngã nghiêng theo gió, vàng hết mình tiễn người về nhà chồng, về bến hạnh phúc trăm năm.
Thế Vũ
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 2 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
* Các bạn lưu ý tuy bài Bình thơ của Thế Vũ đoạt Giải nhất tháng thứ 2,nhưng bài thơ Hoa cải ngồng của Hạ Vi Phong lại đứng thứ 2 trong tháng thứ 2 nên bài thơ này không vào được vòng 3 (chung khảo).Cuộc thi thật rất khắc nghiệt!
Hững hờ một chút gió đông
Vàng hoa cải ngồng
Tím ngắt bến xưa
Một người đón - Một người đưa
Áo hoa em bước
Trời mưa phập phồng
Hai ngàn một bó cải ngồng
Bao nhiêu bó?
Đủ thành chồng...
Em ơi
Một đồng hoa cải - Vàng trời
Không sánh nổi
Chút vàng mười
Người xa...
Cải ngồng nghiêng ngã xót xa
Vàng trải lối
Tiễn em qua nhà chồng.
Hạ Vi Phong
Bình thơ
Hững hờ một chút gió đông
Vàng hoa cải ngồng
Tím ngắt bến xưa
Cứ độ tháng 11, người ta lại bắt gặp một chút lành lạnh của gió mùa đông, một chút đổi thay của đất trời lúc giao mùa. Nhưng độc đáo và rõ nét hơn cả, đó là màu vàng của hoa cải ngồng, một màu vàng đơn sơ, sâu lắng, rực rỡ cả bến sông. Một cánh đồng hoa cải vàng trải dài, hàng nối hàng đua nhau khoe sắc. Biết bao tâm hồn nghệ sĩ đã rung động trước sắc vàng mong manh ấy, biết bao tranh ảnh, lời thơ, nốt nhạc đã bắt nguồn từ cánh đồng hoa cải ấy. Một bức tranh thiên nhiên thật đẹp. Nếu như không có cảnh:
Một người đón - Một người đưa
Áo hoa em bước
Trời mưa phập phồng
Hình ảnh chiếc áo hoa bay trong gió giữa cánh đồng vàng hoa cải, trong lất phất mưa bay. Chẳng biết người cất bước vui hay buồn. Nhưng mưa phập phồng và dạ người đưa chắc cũng xốn xang. Đồng hoa cải này, chắc là nhân chứng của một tình yêu với bao lời ước hẹn. Hẹn một ngày hoa cải trổ bông, hẹn đến khi dành dụm đủ tiền sẽ nên duyên chồng vợ. Thế mà...có kẻ nỡ lòng quên.
Hai ngàn một bó cải ngồng
Bao nhiêu bó?
Đủ thành chồng...
Em ơi
Lời thơ bình dị mà xót xa, nhẹ nhàng mà day dứt. Mỗi bó cải bông chỉ hai ngàn đồng,một đồng hoa cải được bao nhiêu bó và liệu có đủ để hai người tổ chức một lễ cưới hay không? Trong tình yêu chân chính, người ta không chuộng hình thức bề ngoài mà chủ yếu từ tấm lòng, tình yêu phải xuất phát từ hai trái tim. Nếu năm nay không đủ tiền, người ta có thể hẹn mùa sau cơ mà. Nhưng ở đây có một sự so sánh khiến người ta ngỡ ngàng, rồi chua xót.
Một đồng hoa cải - Vàng trời
Không sánh nổi
Chút vàng mười
Người xa...
Nếu tính theo giá thị trường, sự so sánh này không sai. Nhưng ở khía cạnh tình cảm, đó là một cảnh tình ngang trái. Một người tham sang phụ khó, bội bạc quên tình và một kẻ ngậm ngùi, xót xa, khuất phục trước số nghèo.
Cải ngồng nghiêng ngã xót xa
Vàng trải lối
Tiễn em qua nhà chồng.
Hai câu kết toát lên chút vị tha, chân chất, tuy đau xót nhưng vẫn dạt dào triết lý tình yêu. Phải chăng hạnh phúc của người mình yêu cũng chính là hạnh phúc của bản thân mình. Giống như Puskin cũng từng yêu và "cầu em được người tình như tôi đã yêu em". Đúng là một chuyện tình kết thúc không đẹp nhưng phía sau đó là chút nhẹ nhàng hiếm thấy. Người đi cảm thấy lòng mình bớt ray rứt hơn, kẻ ở lại ít đau xót hơn. Ừ thì hoa cải vàng ngã nghiêng theo gió, vàng hết mình tiễn người về nhà chồng, về bến hạnh phúc trăm năm.
Thế Vũ
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 2 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
* Các bạn lưu ý tuy bài Bình thơ của Thế Vũ đoạt Giải nhất tháng thứ 2,nhưng bài thơ Hoa cải ngồng của Hạ Vi Phong lại đứng thứ 2 trong tháng thứ 2 nên bài thơ này không vào được vòng 3 (chung khảo).Cuộc thi thật rất khắc nghiệt!
Làng tôi đất bán sạch rồi
Làng tôi đất bán sạch rồi
Còn chăng là lớp bùn bồi ven sông …
Ông tôi mỗi sáng lưng còng
Đi gieo hạt lệ xuống đồng “thổ cư”
Còn cha ngơ ngác ậm ừ
Nhìn nhà máy cứ từ từ mọc lên
Mẹ buồn thao thức đêm đêm
Hỏi đàn cò trắng sao quên không về ?
Làng tôi giờ đã hết quê
Quán bia với quán cà phê chen đầy
Ngả nghiêng kẻ tỉnh người say
Ôm nhau gục nhớ đường cày ngày xưa
Con trâu thuở ấy đi bừa
Bao câu hò vọng hẹn mùa lúa thơm …
Bàng hoàng nắng quái chiều hôm
Làng giờ hoá phố cọng rơm chẳng còn …
Thanh Trắc Nguyễn Văn
(Giải nhất Thơ Lục Bát Bình chọn thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
Làng tôi đất bán sạch rồi
Còn chăng là lớp bùn bồi ven sông …
Ông tôi mỗi sáng lưng còng
Đi gieo hạt lệ xuống đồng “thổ cư”
Còn cha ngơ ngác ậm ừ
Nhìn nhà máy cứ từ từ mọc lên
Mẹ buồn thao thức đêm đêm
Hỏi đàn cò trắng sao quên không về ?
Làng tôi giờ đã hết quê
Quán bia với quán cà phê chen đầy
Ngả nghiêng kẻ tỉnh người say
Ôm nhau gục nhớ đường cày ngày xưa
Con trâu thuở ấy đi bừa
Bao câu hò vọng hẹn mùa lúa thơm …
Bàng hoàng nắng quái chiều hôm
Làng giờ hoá phố cọng rơm chẳng còn …
Thanh Trắc Nguyễn Văn
(Giải nhất Thơ Lục Bát Bình chọn thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
Tạm biệt Phong Nha
Quảng Bình có động Phong Nha
Nửa đêm trăng xuống là đà trên sông
Người đi nổi nhớ chìm mong
Câu thơ gởi lại mãi bồng bềnh trôi.
Động Tiên tiên ở trên trời
Tôi theo níu vội rối bời sợi tơ
Kìa em Mái Tóc mộng mơ
Chàng Khổng Lồ ngó cứ vờ không quen …
Chén nồng cạn với đêm đen
Gió thu rạo rực cũng len lén về
Phong Nha sóng vỗ tứ bề
Nhanh tay hứng được câu thề tặng em.
Sông Son son sắt nào quên
Giọng hò xứ Quảng cứ chênh vênh sầu
Nụ cười em rải sông sâu
Trăm năm tôi vớt
Vẫn màu nhớ nhung …
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Động Tiên, sông Son: những địa danh ở động Phong Nha
Mái Tóc, Người Khổng Lồ: những hình thể trong động Phong Nha
(Giải nhất Thơ Lục Bát Bình chọn thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
Quảng Bình có động Phong Nha
Nửa đêm trăng xuống là đà trên sông
Người đi nổi nhớ chìm mong
Câu thơ gởi lại mãi bồng bềnh trôi.
Động Tiên tiên ở trên trời
Tôi theo níu vội rối bời sợi tơ
Kìa em Mái Tóc mộng mơ
Chàng Khổng Lồ ngó cứ vờ không quen …
Chén nồng cạn với đêm đen
Gió thu rạo rực cũng len lén về
Phong Nha sóng vỗ tứ bề
Nhanh tay hứng được câu thề tặng em.
Sông Son son sắt nào quên
Giọng hò xứ Quảng cứ chênh vênh sầu
Nụ cười em rải sông sâu
Trăm năm tôi vớt
Vẫn màu nhớ nhung …
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Động Tiên, sông Son: những địa danh ở động Phong Nha
Mái Tóc, Người Khổng Lồ: những hình thể trong động Phong Nha
(Giải nhất Thơ Lục Bát Bình chọn thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
21. May 2010, 02:19:58 (edited)
Làng tôi đất bán sạch rồi
Làng tôi đất bán sạch rồi
Còn chăng là lớp bùn bồi ven sông …
Ông tôi mỗi sáng lưng còng
Đi gieo hạt lệ xuống đồng “thổ cư”
Còn cha ngơ ngác ậm ừ
Nhìn nhà máy cứ từ từ mọc lên
Mẹ buồn thao thức đêm đêm
Hỏi đàn cò trắng sao quên không về ?
Làng tôi giờ đã hết quê
Quán bia với quán cà phê chen đầy
Ngả nghiêng kẻ tỉnh người say
Ôm nhau gục nhớ đường cày ngày xưa
Con trâu thuở ấy đi bừa
Bao câu hò vọng hẹn mùa lúa thơm …
Bàng hoàng nắng quái chiều hôm
Làng giờ hoá phố cọng rơm chẳng còn …
2009
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Bình thơ:
HOÀI NIỆM TỪ MỘT BÀI THƠ
Bài “Làng tôi đất bán sạch rồi” của Thanh Trắc Nguyễn Văn gợi tôi nhớ đến bài thơ nổi tiếng SÔNG LẤP của Trần Tế Xương:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò
Mở đầu bằng hai câu: “Làng tôi đất bán sạch rồi/ Còn chăng là lớp bùn bồi ven sông …” Giọng thơ trầm pha chút xót xa ngậm ngùi, nuối tiếc để rồi mở ra những hình ảnh cha ông chân lấm tay bùn một thời “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” : “Ông tôi mỗi sáng lưng còng/ Đi gieo hạt lệ xuống đồng “thổ cư”/ Còn cha ngơ ngác ậm ừ / Nhìn nhà máy cứ từ từ mọc lên/ Mẹ buồn thao thức đêm đêm/ Hỏi đàn cò trắng sao quên không về …” Cái thời “cày đồng đang buổi ban trưa/ mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” đã không còn nữa. Thế mà hình ảnh ấy cứ ám ảnh thi sĩ bao đời. Cánh đồng ngàn xưa giờ đã thay thế bằng những nhà máy, những công trình thế kỷ mọc lên đến độ ngơ ngác, thẫn thờ. Sự thay đổi tốc độ của thời đại khiến bao người nông dân nuối tiếc, ngẩn ngơ. Đặc biệt là tâm trạng người mẹ được tác giả thể hiện rất thành công, nhất là hình ảnh đàn cò trắng không còn nhìn thấy trên làng “tôi” nữa!
Làng tôi giờ đã hết quê
Quán bia với quán cà phê chen đầy
Ngả nghiêng kẻ tỉnh người say
Ôm nhau gục nhớ đường cày ngày xưa
Con trâu thuở ấy đi bừa
Bao câu hò vọng hẹn mùa lúa thơm …
Đoạn 2 là phố mọc lên trên mảnh đất gọi làng ngày xưa với những quán xá choáng ngợp nhiều kẻ say nghiêng ngả. Thế nhưng, hình ảnh đường cày, con trâu vẫn hằn sâu ký ức, đi vào cơn say ngút ngắc là “bao câu hò vọng hẹn mùa lúa thơm..” Hình ảnh làng quê với bao kỉ niệm đẹp đi vào văn chương bao đời nay của nhiều thi sĩ nay lại tìm thấy trong bài thơ của Thanh Trắc Nguyễn Văn với những lời mộc mạc giản dị mà nồng cháy lửa tình mãnh liệt với quê hương.
Hoài niệm trải dài và chảy dọc mạch cảm xúc của thi sĩ nó dừng lại bằng hình ảnh rất hương vị (lúa thơm) - thơm những lời hò hẹn của những đôi nam nữ nông thôn vọng lên vào những đêm trăng bàng bạc ánh vàng lúa thơm chất chứa những tình cảm đôi lứa đẫm đầy hương vị yêu thương.
Cái kết của bài thơ chỉ hai câu: “Bàng hoàng nắng quái chiều hôm / Làng giờ hoá phố cọng rơm chẳng còn …” Còn phảng phất, mà đúng hơn là nỗi bàng hoàng đến độ không ngờ trước sự thay đổi; tiếc nuối về hình ảnh làng quê yên bình thơ mộng cùng hình ảnh con trâu, cái cày, những câu hò vang vọng, nhường cho tiếng nhạc xập xình, những tiếng xe chạy nhức óc, xả khói và bụi trên cái không gian vốn yên tĩnh ngày xưa.
Sự hoài niệm và tiếc nuối của bao người nông dân được Thanh Trắc Nguyễn Văn nói bằng những hình ảnh rất thơ, qua lối diễn đạt giàu cảm xúc bằng thể lục bát đã để lại trong tôi những suy nghĩ, những trăn trở như tác giả đã từng trăn trở. Biết rằng sự vận động của quy luật, của xã hội; biết rằng đổi mới nông thôn lên thành phố có thể là điều đáng vui, đáng mừng, nhưng dẫu sao con người ta vẫn thấy xót xa tiếc nuối, thấy như hụt hẫng thiếu vắng một cái gì đó đã ngấm vào máu thịt của người nông dân tự bao đời nay!
Cảm ơn nhà thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn đã nói rất hay về tâm trạng của bao người nông dân có làng quê của mình giờ đã đổi thay thành phố thị! Thông điệp của bài thơ còn nhắc nhở con người thủy chung với quá khứ, gợi truyền thống về đạo lý uống nước nhớ nguồn với hàm ý sâu xa…
5/1/2010
Lê Bá Duy
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
*Các bạn lưu ý: ở tháng thứ ba của cuộc thi này không hiểu sao Ban Giám Khảo lại đưa lên rất nhiều bài thơ rất hay và rất có chất lượng.Điều này đã làm cho Giải Bình thơ tháng thứ 3 trở nên vô cùng sôi nổi và cuối cùng có đến 6 giải cùng đoạt đồng giải nhất!
Rất tiếc thơ chỉ có 1 giải nhất duy nhất để loạt vào vòng chung khảo (vòng 3) mà thôi.Các bài thơ Tình cõi hồng hoang của Vũ Hoàng xếp thứ nhì,bài Nửa đời (một bài thơ khác của Thanh Trắc Nguyễn Văn) xếp thứ ba,bài Đêm Đông của Trương Thị Hằng Nga xếp thứ tư cũng đều là những bài thơ rất hay.Cũng cần kể thêm rất tiếc cho thơ của nhà thơ Trần Ngọc Hưởng,KhaLy Chàm,Nguyễn Minh Quang,Trần Vân Hạc,Kiều Trang,Phùng Thị Tuyết Anh,...phải dừng lại ở đây.Có nhiều người trách Ban Giám Khảo đã đưa thơ hay lên không đều nên tháng thứ ba của cuộc thi vô tình trở thành thời điểm xảy ra sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt khiến nhiều bài thơ hay khác bị loại ở vòng 2!
Làng tôi đất bán sạch rồi
Còn chăng là lớp bùn bồi ven sông …
Ông tôi mỗi sáng lưng còng
Đi gieo hạt lệ xuống đồng “thổ cư”
Còn cha ngơ ngác ậm ừ
Nhìn nhà máy cứ từ từ mọc lên
Mẹ buồn thao thức đêm đêm
Hỏi đàn cò trắng sao quên không về ?
Làng tôi giờ đã hết quê
Quán bia với quán cà phê chen đầy
Ngả nghiêng kẻ tỉnh người say
Ôm nhau gục nhớ đường cày ngày xưa
Con trâu thuở ấy đi bừa
Bao câu hò vọng hẹn mùa lúa thơm …
Bàng hoàng nắng quái chiều hôm
Làng giờ hoá phố cọng rơm chẳng còn …
2009
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Bình thơ:
HOÀI NIỆM TỪ MỘT BÀI THƠ
Bài “Làng tôi đất bán sạch rồi” của Thanh Trắc Nguyễn Văn gợi tôi nhớ đến bài thơ nổi tiếng SÔNG LẤP của Trần Tế Xương:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò
Mở đầu bằng hai câu: “Làng tôi đất bán sạch rồi/ Còn chăng là lớp bùn bồi ven sông …” Giọng thơ trầm pha chút xót xa ngậm ngùi, nuối tiếc để rồi mở ra những hình ảnh cha ông chân lấm tay bùn một thời “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” : “Ông tôi mỗi sáng lưng còng/ Đi gieo hạt lệ xuống đồng “thổ cư”/ Còn cha ngơ ngác ậm ừ / Nhìn nhà máy cứ từ từ mọc lên/ Mẹ buồn thao thức đêm đêm/ Hỏi đàn cò trắng sao quên không về …” Cái thời “cày đồng đang buổi ban trưa/ mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” đã không còn nữa. Thế mà hình ảnh ấy cứ ám ảnh thi sĩ bao đời. Cánh đồng ngàn xưa giờ đã thay thế bằng những nhà máy, những công trình thế kỷ mọc lên đến độ ngơ ngác, thẫn thờ. Sự thay đổi tốc độ của thời đại khiến bao người nông dân nuối tiếc, ngẩn ngơ. Đặc biệt là tâm trạng người mẹ được tác giả thể hiện rất thành công, nhất là hình ảnh đàn cò trắng không còn nhìn thấy trên làng “tôi” nữa!
Làng tôi giờ đã hết quê
Quán bia với quán cà phê chen đầy
Ngả nghiêng kẻ tỉnh người say
Ôm nhau gục nhớ đường cày ngày xưa
Con trâu thuở ấy đi bừa
Bao câu hò vọng hẹn mùa lúa thơm …
Đoạn 2 là phố mọc lên trên mảnh đất gọi làng ngày xưa với những quán xá choáng ngợp nhiều kẻ say nghiêng ngả. Thế nhưng, hình ảnh đường cày, con trâu vẫn hằn sâu ký ức, đi vào cơn say ngút ngắc là “bao câu hò vọng hẹn mùa lúa thơm..” Hình ảnh làng quê với bao kỉ niệm đẹp đi vào văn chương bao đời nay của nhiều thi sĩ nay lại tìm thấy trong bài thơ của Thanh Trắc Nguyễn Văn với những lời mộc mạc giản dị mà nồng cháy lửa tình mãnh liệt với quê hương.
Hoài niệm trải dài và chảy dọc mạch cảm xúc của thi sĩ nó dừng lại bằng hình ảnh rất hương vị (lúa thơm) - thơm những lời hò hẹn của những đôi nam nữ nông thôn vọng lên vào những đêm trăng bàng bạc ánh vàng lúa thơm chất chứa những tình cảm đôi lứa đẫm đầy hương vị yêu thương.
Cái kết của bài thơ chỉ hai câu: “Bàng hoàng nắng quái chiều hôm / Làng giờ hoá phố cọng rơm chẳng còn …” Còn phảng phất, mà đúng hơn là nỗi bàng hoàng đến độ không ngờ trước sự thay đổi; tiếc nuối về hình ảnh làng quê yên bình thơ mộng cùng hình ảnh con trâu, cái cày, những câu hò vang vọng, nhường cho tiếng nhạc xập xình, những tiếng xe chạy nhức óc, xả khói và bụi trên cái không gian vốn yên tĩnh ngày xưa.
Sự hoài niệm và tiếc nuối của bao người nông dân được Thanh Trắc Nguyễn Văn nói bằng những hình ảnh rất thơ, qua lối diễn đạt giàu cảm xúc bằng thể lục bát đã để lại trong tôi những suy nghĩ, những trăn trở như tác giả đã từng trăn trở. Biết rằng sự vận động của quy luật, của xã hội; biết rằng đổi mới nông thôn lên thành phố có thể là điều đáng vui, đáng mừng, nhưng dẫu sao con người ta vẫn thấy xót xa tiếc nuối, thấy như hụt hẫng thiếu vắng một cái gì đó đã ngấm vào máu thịt của người nông dân tự bao đời nay!
Cảm ơn nhà thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn đã nói rất hay về tâm trạng của bao người nông dân có làng quê của mình giờ đã đổi thay thành phố thị! Thông điệp của bài thơ còn nhắc nhở con người thủy chung với quá khứ, gợi truyền thống về đạo lý uống nước nhớ nguồn với hàm ý sâu xa…
5/1/2010
Lê Bá Duy
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
*Các bạn lưu ý: ở tháng thứ ba của cuộc thi này không hiểu sao Ban Giám Khảo lại đưa lên rất nhiều bài thơ rất hay và rất có chất lượng.Điều này đã làm cho Giải Bình thơ tháng thứ 3 trở nên vô cùng sôi nổi và cuối cùng có đến 6 giải cùng đoạt đồng giải nhất!
Rất tiếc thơ chỉ có 1 giải nhất duy nhất để loạt vào vòng chung khảo (vòng 3) mà thôi.Các bài thơ Tình cõi hồng hoang của Vũ Hoàng xếp thứ nhì,bài Nửa đời (một bài thơ khác của Thanh Trắc Nguyễn Văn) xếp thứ ba,bài Đêm Đông của Trương Thị Hằng Nga xếp thứ tư cũng đều là những bài thơ rất hay.Cũng cần kể thêm rất tiếc cho thơ của nhà thơ Trần Ngọc Hưởng,KhaLy Chàm,Nguyễn Minh Quang,Trần Vân Hạc,Kiều Trang,Phùng Thị Tuyết Anh,...phải dừng lại ở đây.Có nhiều người trách Ban Giám Khảo đã đưa thơ hay lên không đều nên tháng thứ ba của cuộc thi vô tình trở thành thời điểm xảy ra sự cạnh tranh vô cùng khốc liệt khiến nhiều bài thơ hay khác bị loại ở vòng 2!
Làng tôi đất bán sạch rồi
Làng tôi đất bán sạch rồi
Còn chăng là lớp bùn bồi ven sông …
Ông tôi mỗi sáng lưng còng
Đi gieo hạt lệ xuống đồng “thổ cư”
Còn cha ngơ ngác ậm ừ
Nhìn nhà máy cứ từ từ mọc lên
Mẹ buồn thao thức đêm đêm
Hỏi đàn cò trắng sao quên không về ?
Làng tôi giờ đã hết quê
Quán bia với quán cà phê chen đầy
Ngả nghiêng kẻ tỉnh người say
Ôm nhau gục nhớ đường cày ngày xưa
Con trâu thuở ấy đi bừa
Bao câu hò vọng hẹn mùa lúa thơm …
Bàng hoàng nắng quái chiều hôm
Làng giờ hoá phố cọng rơm chẳng còn …
2009
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Bình thơ:
LỜI BÌNH CỦA HUỲNH NGỌC
Bán đất của cha ông để lại với mong được đổi đời là một niềm vui và mưu cầu hạnh phúc của rất nhiều người nông dân chân lấm tay bùn. Nhưng qua bài thơ hình như tác giả Thanh Trắc Nguyễn Văn lại muốn nói lên một lời cảnh báo khác với mọi người, với xã hội đương đại.
Mở đầu bài thơ là hai câu thơ thảng thốt và chua xót.:
“Làng tôi đất bán sạch rồi
Còn chăng là lớp bùn bồi ven sông …”
Vâng, đất đã bán sạch rồi. Bán sạch sành sanh… Còn chăng là lớp bùn mới bồi ven sông là chưa bán được. Lớp bùn mới bồi này không bán được vì không có ai mua, nếu có người mua chắc chắn những người nông dân trong làng lại sẽ đổ xô tranh giành nhau để bán nốt thôi. Thật đáng xấu hổ, và cũng thật đau lòng.
“Ông tôi mỗi sáng lưng còng
Đi gieo hạt lệ xuống đồng “thổ cư”
Còn cha ngơ ngác ậm ừ
Nhìn nhà máy cứ từ từ mọc lên
Mẹ buồn thao thức đêm đêm
Hỏi đàn cò trắng sao quên không về ?”
Người ông của nhân vật “tôi” đã làm gì sau khi bán đất? Ông đi “gieo hạt lệ”! Đất đã bán rồi không còn gieo mạ, không còn gieo hạt giống được nữa mà đành phải đi gieo hạt lệ! Vâng, ông đang khóc. Ông khóc cho những cánh đồng đã chết, những cánh đồng trồng trọt đã bị người ta phù phép biến thành “đất thổ cư” cho dễ mua bán. Tác giả đã dùng từ “đồng thổ cư” thật bi hài và cũng thật chính xac. Các vị ơi trên giấy tờ mua bán của các vị là “đất thổ cư” đó, nhưng chính thật nó là những cánh đồng mà người nông dân đã bao đời đổ mồ hôi, đổ nước mắt để cày ải.
Người ông mỗi sáng đi khóc cho những cánh đồng đã từng một thời mang hơi thở của ông nay sắp hóa thành nơi cho người ta tự do xây cất. Ông khóc cho những cánh đồng sắp chết và ông cũng đang tự khóc cho chính bản thân mình. Còn người cha và người mẹ của nhân vật “tôi” thì sao? Người cha “ngơ ngác ậm ừ”… nhìn “nhà máy cứ từ từ mọc lên”. Người cha đã đau buồn đến độ mất cả sự sáng suốt . Người mẹ thì “buồn thao thức đêm đêm”…. Không nghi ngờ gì nữa họ đang mắc chứng trầm cảm nặng nề! Trầm cảm vì nuối tiếc, trầm cảm vì cảm thấy mình có lỗi với tổ tiên. Thật là bi kịch cho cả một gia đình nông dân đã bao đời bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Họ có tiền nhưng mất tất cả…. Mất luôn cả cánh cò trắng quê hương vì từ ngày nhà máy, chung cư mọc lên đâu còn có đất trống cho những cánh cò hiền lành ngày xưa bay về đậu ?
Phần hai bài thơ nói lên cảnh hiện tại sau khi “làng hóa phố”. Làng hóa phố lợi đâu không thấy chỉ thấy toàn “Quán bia với quán cà phê chen đầy”. Người nông dân có tiền nhưng không biết làm gì nên đành kinh doanh “quán cà phê và quán bia” hoặc trở thành “người uống cà phê và uống bia”! Với tư tưởng tiểu nông của họ thì từ quán cà phê và quán bia đến những “sai phạm nghiêm trọng” khác chỉ cách nhau chừng một sợi tóc.
Bài thơ như những đoạn phim đã đưa chúng ta từ những phân cảnh đau lòng này đến những phân cảnh đau lòng khác. Người nông dân sau khi bán đất đã trở thành những kẻ thật đáng thương:
“Ngả nghiêng kẻ tỉnh người say
Ôm nhau gục nhớ đường cày ngày xưa”
Thật ra không ai tỉnh cũng không ai say! Người say nhưng rất tỉnh, kẻ tỉnh lại như say! Nửa người, nửa ngợm! Họ ôm nhau và cùng gục xuống mặt đường có lẽ bây giờ đã tráng nhựa phẳng láng, để cùng nhớ lại nơi đây ngày trước đã từng là cánh đồng và họ cũng đã từng có những đường cày trên đó. Con trâu,tiếng hò,mùa lúa thơm…. chỉ còn là ký ức, là sự nuối tiếc. Tuy câu thơ chỉ dừng ở đó, nhưng tôi tin chắc rằng họ sẽ khóc. Khóc vì bi kịch của những người nông dân đã nhẹ dạ rủ nhau bán đất làm giàu.
Hai câu kết của bài thơ mở ra một bi kịch lớn hơn :
“Bàng hoàng nắng quái chiều hôm
Làng giờ hoá phố cọng rơm chẳng còn …”
Rơm rạ ngày xưa thì nhiều, bây giờ tìm một cọng rơm cũng không có! Nếu người nông dân cứ bán hết đất như trong bài thơ thì còn ai trồng lúa gạo? Và nếu tình trạng này cứ tiếp diễn thì chắc có lẽ chúng ta từ một nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới sẽ trở thành một nước nhập khẩu gạo để ăn mất! Bi kịch này sẽ đến một ngày không còn xa….
Huỳnh Ngọc
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
Làng tôi đất bán sạch rồi
Còn chăng là lớp bùn bồi ven sông …
Ông tôi mỗi sáng lưng còng
Đi gieo hạt lệ xuống đồng “thổ cư”
Còn cha ngơ ngác ậm ừ
Nhìn nhà máy cứ từ từ mọc lên
Mẹ buồn thao thức đêm đêm
Hỏi đàn cò trắng sao quên không về ?
Làng tôi giờ đã hết quê
Quán bia với quán cà phê chen đầy
Ngả nghiêng kẻ tỉnh người say
Ôm nhau gục nhớ đường cày ngày xưa
Con trâu thuở ấy đi bừa
Bao câu hò vọng hẹn mùa lúa thơm …
Bàng hoàng nắng quái chiều hôm
Làng giờ hoá phố cọng rơm chẳng còn …
2009
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Bình thơ:
LỜI BÌNH CỦA HUỲNH NGỌC
Bán đất của cha ông để lại với mong được đổi đời là một niềm vui và mưu cầu hạnh phúc của rất nhiều người nông dân chân lấm tay bùn. Nhưng qua bài thơ hình như tác giả Thanh Trắc Nguyễn Văn lại muốn nói lên một lời cảnh báo khác với mọi người, với xã hội đương đại.
Mở đầu bài thơ là hai câu thơ thảng thốt và chua xót.:
“Làng tôi đất bán sạch rồi
Còn chăng là lớp bùn bồi ven sông …”
Vâng, đất đã bán sạch rồi. Bán sạch sành sanh… Còn chăng là lớp bùn mới bồi ven sông là chưa bán được. Lớp bùn mới bồi này không bán được vì không có ai mua, nếu có người mua chắc chắn những người nông dân trong làng lại sẽ đổ xô tranh giành nhau để bán nốt thôi. Thật đáng xấu hổ, và cũng thật đau lòng.
“Ông tôi mỗi sáng lưng còng
Đi gieo hạt lệ xuống đồng “thổ cư”
Còn cha ngơ ngác ậm ừ
Nhìn nhà máy cứ từ từ mọc lên
Mẹ buồn thao thức đêm đêm
Hỏi đàn cò trắng sao quên không về ?”
Người ông của nhân vật “tôi” đã làm gì sau khi bán đất? Ông đi “gieo hạt lệ”! Đất đã bán rồi không còn gieo mạ, không còn gieo hạt giống được nữa mà đành phải đi gieo hạt lệ! Vâng, ông đang khóc. Ông khóc cho những cánh đồng đã chết, những cánh đồng trồng trọt đã bị người ta phù phép biến thành “đất thổ cư” cho dễ mua bán. Tác giả đã dùng từ “đồng thổ cư” thật bi hài và cũng thật chính xac. Các vị ơi trên giấy tờ mua bán của các vị là “đất thổ cư” đó, nhưng chính thật nó là những cánh đồng mà người nông dân đã bao đời đổ mồ hôi, đổ nước mắt để cày ải.
Người ông mỗi sáng đi khóc cho những cánh đồng đã từng một thời mang hơi thở của ông nay sắp hóa thành nơi cho người ta tự do xây cất. Ông khóc cho những cánh đồng sắp chết và ông cũng đang tự khóc cho chính bản thân mình. Còn người cha và người mẹ của nhân vật “tôi” thì sao? Người cha “ngơ ngác ậm ừ”… nhìn “nhà máy cứ từ từ mọc lên”. Người cha đã đau buồn đến độ mất cả sự sáng suốt . Người mẹ thì “buồn thao thức đêm đêm”…. Không nghi ngờ gì nữa họ đang mắc chứng trầm cảm nặng nề! Trầm cảm vì nuối tiếc, trầm cảm vì cảm thấy mình có lỗi với tổ tiên. Thật là bi kịch cho cả một gia đình nông dân đã bao đời bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Họ có tiền nhưng mất tất cả…. Mất luôn cả cánh cò trắng quê hương vì từ ngày nhà máy, chung cư mọc lên đâu còn có đất trống cho những cánh cò hiền lành ngày xưa bay về đậu ?
Phần hai bài thơ nói lên cảnh hiện tại sau khi “làng hóa phố”. Làng hóa phố lợi đâu không thấy chỉ thấy toàn “Quán bia với quán cà phê chen đầy”. Người nông dân có tiền nhưng không biết làm gì nên đành kinh doanh “quán cà phê và quán bia” hoặc trở thành “người uống cà phê và uống bia”! Với tư tưởng tiểu nông của họ thì từ quán cà phê và quán bia đến những “sai phạm nghiêm trọng” khác chỉ cách nhau chừng một sợi tóc.
Bài thơ như những đoạn phim đã đưa chúng ta từ những phân cảnh đau lòng này đến những phân cảnh đau lòng khác. Người nông dân sau khi bán đất đã trở thành những kẻ thật đáng thương:
“Ngả nghiêng kẻ tỉnh người say
Ôm nhau gục nhớ đường cày ngày xưa”
Thật ra không ai tỉnh cũng không ai say! Người say nhưng rất tỉnh, kẻ tỉnh lại như say! Nửa người, nửa ngợm! Họ ôm nhau và cùng gục xuống mặt đường có lẽ bây giờ đã tráng nhựa phẳng láng, để cùng nhớ lại nơi đây ngày trước đã từng là cánh đồng và họ cũng đã từng có những đường cày trên đó. Con trâu,tiếng hò,mùa lúa thơm…. chỉ còn là ký ức, là sự nuối tiếc. Tuy câu thơ chỉ dừng ở đó, nhưng tôi tin chắc rằng họ sẽ khóc. Khóc vì bi kịch của những người nông dân đã nhẹ dạ rủ nhau bán đất làm giàu.
Hai câu kết của bài thơ mở ra một bi kịch lớn hơn :
“Bàng hoàng nắng quái chiều hôm
Làng giờ hoá phố cọng rơm chẳng còn …”
Rơm rạ ngày xưa thì nhiều, bây giờ tìm một cọng rơm cũng không có! Nếu người nông dân cứ bán hết đất như trong bài thơ thì còn ai trồng lúa gạo? Và nếu tình trạng này cứ tiếp diễn thì chắc có lẽ chúng ta từ một nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới sẽ trở thành một nước nhập khẩu gạo để ăn mất! Bi kịch này sẽ đến một ngày không còn xa….
Huỳnh Ngọc
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
ĐÊM ĐÔNG
Đêm đông
Lạnh
Cầm cập run
Ngoài kia gió bấc,
mưa phùn rơi rơi
Lần tìm hơi ấm
người ơi!
Lòng nghe mặn chát,
tả tơi lệ nhòa
Tuột rồi.
Choàng mớ chăn hoa
Ủ cùng
đắp đổi
cho qua tháng ngày
Xa rồi.
Đâu hỡi vòng tay?
Xa rồi.
Đâu nữa nồng say
rượu tình!
Bây giờ
cô lẻ một mình
Cầm lòng sao đặng
khi bình minh lên?
TRƯƠNG THỊ HẰNG NGA
Bình thơ:
ĐÊM ĐÔNG – MỘT BÀI THƠ CẢM ĐỘNG!
Trong bốn mùa Xuân- Hạ-Thu - Đông, mùa nào cũng là đề tài cho thi sĩ làm thơ giải bày tâm trạng. Nhiều thi sĩ viết về mùa Xuân với nhiều cung bậc tình cảm; nhiều nhà thơ viết về mùa hạ với nỗi nhớ mong cháy lòng và cũng nhiều tác giả viết về mùa Đông với khát vọng yêu thương ấm áp chân thành. Tôi đã đọc không ít thơ viết trong mùa Đông, nhưng khi vào trang “Đất Đứng” đọc đến bài “Đêm đông” của tác giả trẻ Trương Thị Hằng Nga, tôi thật cảm động, và những cảm xúc ấy dâng trào ra mà khó có những ngôn từ diễn tả cho hết được!
Đêm đông
Lạnh
Cầm cập run
Ngoài kia gió bấc,
mưa phùn rơi rơi …
Hai câu thơ mở đầu với thể lục bát tách ra 5 dòng gợi trường liên tưởng thời tiết se lạnh của thiên nhiên thường gặp vào mùa đông giá buốt! Chủ thể tiếp nhận cái lạnh thiên nhiên thấm vào da thịt, cầm cập, run rẩy đối lập với tự nhiên bên ngoài “gió bấc” thổi và “mưa phùn rơi rơi”. Cái hình ảnh này chúng ta bắt gặp trong đời thường của biết bao người, nhưng đi vào trong thơ Hằng Nga tự nhiên như dòng chảy nhẹ nhàng mang cái buốt giá đêm đông. Trong cái lạnh của thiên nhiên, lẽ thường con người ta tự tìm đến cái ấm để chống chọi với cái rét khắc nghiệt của thời tiết. Do vậy câu thư 3 và 4 ra đời như một lẽ tự nhiên vốn có: “Lần tìm hơi ấm người ơi! Lòng nghe mặn chát, tả tơi lệ nhòa…” Tại sao “mặn chát”? Tại sao “tả tơi lệ nhòa”? Phải chăng cảnh cô đơn đến xót xa của người phụ nữ khát khao hơi ấm khong tìm được trong cái lạnh. Ngay cả trong cái chăn ấm người tìm ấp ủ “cho qua tháng ngày” cũng “tuột” ra ngoài. Nhường cho những hoài niệm, những dòng tâm trạng tuôn trào như dòng sông chảy về biển cả tình yêu ngọt- đắng:
Xa rồi. Đâu hỡi vòng tay?
Xa rồi. Đâu nữa nồng say - rượu tình!
Tình cảm con người thật kỳ lạ! Những người đang sống bên nhau thì có thể chưa nhận ra hạnh phúc cạnh mình cứ mãi kiếm tìm nơi chân trời góc bể, những người xa nhau mới cảm thấy hết nỗi cách xa thương nhớ, để tình thương yêu dâng lên với khát khao ấm áp! Thèm cụng nhau chén “rượu tình” chếnh choáng men say trong vòng tay say đắm, trao nhau yêu thương nghìn năm vốn có. “Xa rồi. Đâu rồi hỡi vòng tay?” Hai câu trong một câu lục, nói lên hai điều: Trước hết là khẳng định “Xa rồi”- Nghĩa là tình yêu quá khứ đã không còn nữa hoặc có thể “chia xa” – Có lẽ trắc trở trong tình duyên, một sự trắc trở không ít của các cặp vợ chồng trong cuộc sống…Nhưng có thể khẳng định rằng nhân vật trữ tình trong bài thơ thật sự cô độc. Ý thứ hai trong câu này là một câu hỏi tu từ! “Vòng tay” “không còn” không phải hỏi mà khẳng định! Điệp từ “xa rồi” vừa nhấn mạnh vừa khẳng định kết quả cuộc chia tay, không phải tiếc nuối mà là xót xa, quặn thắt!
Ý thơ trải dài, lời thơ cô đọng, tình thơ mênh mang pha chút xót xa chua xót! Hai câu kết khiến người đọc không thể không “cầm lòng” cuốn hút theo tâm trạng tưởng chừng lơ lửng của người thơ: “ Bây giờ cô lẻ một mình/ Cầm lòng sao đặng khi bình minh lên ?” Lại kết thúc bằng câu hỏi tu từ nhưng lần này khác với tâm trạng trước. Chính câu hỏi kết bài này giúp bài thơ nâng tầm tư tưởng, hướng niềm cô đơn khát khao cháy bỏng trở lên tích cực hơn, ấm áp hơn. “Khi bình minh lên” chính là lúc mặt trời xua đi giá lạnh, mang lại sự ấm áp cho vạn vật, có cả con người. Và hy vọng mặt trời anh cũng mang lại ấm áp cho tình yêu!
Bài thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, đằm thắm nhưng để lại trong lòng người đọc có nỗi buồn xa xót, có tin yêu về tương lai, có hạnh phúc đợi chờ, có bình minh ấm áp của cuộc sống! Với tôi, đây là một bài thơ hay đáng trân trọng!
10.01.2010
Lê Bá Duy
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
*Bài thơ Đêm Đông của Trương Thị Hằng Nga xếp thứ 4 của tháng thứ 3 nên không vào được vòng 3 (chung khảo)
Đêm đông
Lạnh
Cầm cập run
Ngoài kia gió bấc,
mưa phùn rơi rơi
Lần tìm hơi ấm
người ơi!
Lòng nghe mặn chát,
tả tơi lệ nhòa
Tuột rồi.
Choàng mớ chăn hoa
Ủ cùng
đắp đổi
cho qua tháng ngày
Xa rồi.
Đâu hỡi vòng tay?
Xa rồi.
Đâu nữa nồng say
rượu tình!
Bây giờ
cô lẻ một mình
Cầm lòng sao đặng
khi bình minh lên?
TRƯƠNG THỊ HẰNG NGA
Bình thơ:
ĐÊM ĐÔNG – MỘT BÀI THƠ CẢM ĐỘNG!
Trong bốn mùa Xuân- Hạ-Thu - Đông, mùa nào cũng là đề tài cho thi sĩ làm thơ giải bày tâm trạng. Nhiều thi sĩ viết về mùa Xuân với nhiều cung bậc tình cảm; nhiều nhà thơ viết về mùa hạ với nỗi nhớ mong cháy lòng và cũng nhiều tác giả viết về mùa Đông với khát vọng yêu thương ấm áp chân thành. Tôi đã đọc không ít thơ viết trong mùa Đông, nhưng khi vào trang “Đất Đứng” đọc đến bài “Đêm đông” của tác giả trẻ Trương Thị Hằng Nga, tôi thật cảm động, và những cảm xúc ấy dâng trào ra mà khó có những ngôn từ diễn tả cho hết được!
Đêm đông
Lạnh
Cầm cập run
Ngoài kia gió bấc,
mưa phùn rơi rơi …
Hai câu thơ mở đầu với thể lục bát tách ra 5 dòng gợi trường liên tưởng thời tiết se lạnh của thiên nhiên thường gặp vào mùa đông giá buốt! Chủ thể tiếp nhận cái lạnh thiên nhiên thấm vào da thịt, cầm cập, run rẩy đối lập với tự nhiên bên ngoài “gió bấc” thổi và “mưa phùn rơi rơi”. Cái hình ảnh này chúng ta bắt gặp trong đời thường của biết bao người, nhưng đi vào trong thơ Hằng Nga tự nhiên như dòng chảy nhẹ nhàng mang cái buốt giá đêm đông. Trong cái lạnh của thiên nhiên, lẽ thường con người ta tự tìm đến cái ấm để chống chọi với cái rét khắc nghiệt của thời tiết. Do vậy câu thư 3 và 4 ra đời như một lẽ tự nhiên vốn có: “Lần tìm hơi ấm người ơi! Lòng nghe mặn chát, tả tơi lệ nhòa…” Tại sao “mặn chát”? Tại sao “tả tơi lệ nhòa”? Phải chăng cảnh cô đơn đến xót xa của người phụ nữ khát khao hơi ấm khong tìm được trong cái lạnh. Ngay cả trong cái chăn ấm người tìm ấp ủ “cho qua tháng ngày” cũng “tuột” ra ngoài. Nhường cho những hoài niệm, những dòng tâm trạng tuôn trào như dòng sông chảy về biển cả tình yêu ngọt- đắng:
Xa rồi. Đâu hỡi vòng tay?
Xa rồi. Đâu nữa nồng say - rượu tình!
Tình cảm con người thật kỳ lạ! Những người đang sống bên nhau thì có thể chưa nhận ra hạnh phúc cạnh mình cứ mãi kiếm tìm nơi chân trời góc bể, những người xa nhau mới cảm thấy hết nỗi cách xa thương nhớ, để tình thương yêu dâng lên với khát khao ấm áp! Thèm cụng nhau chén “rượu tình” chếnh choáng men say trong vòng tay say đắm, trao nhau yêu thương nghìn năm vốn có. “Xa rồi. Đâu rồi hỡi vòng tay?” Hai câu trong một câu lục, nói lên hai điều: Trước hết là khẳng định “Xa rồi”- Nghĩa là tình yêu quá khứ đã không còn nữa hoặc có thể “chia xa” – Có lẽ trắc trở trong tình duyên, một sự trắc trở không ít của các cặp vợ chồng trong cuộc sống…Nhưng có thể khẳng định rằng nhân vật trữ tình trong bài thơ thật sự cô độc. Ý thứ hai trong câu này là một câu hỏi tu từ! “Vòng tay” “không còn” không phải hỏi mà khẳng định! Điệp từ “xa rồi” vừa nhấn mạnh vừa khẳng định kết quả cuộc chia tay, không phải tiếc nuối mà là xót xa, quặn thắt!
Ý thơ trải dài, lời thơ cô đọng, tình thơ mênh mang pha chút xót xa chua xót! Hai câu kết khiến người đọc không thể không “cầm lòng” cuốn hút theo tâm trạng tưởng chừng lơ lửng của người thơ: “ Bây giờ cô lẻ một mình/ Cầm lòng sao đặng khi bình minh lên ?” Lại kết thúc bằng câu hỏi tu từ nhưng lần này khác với tâm trạng trước. Chính câu hỏi kết bài này giúp bài thơ nâng tầm tư tưởng, hướng niềm cô đơn khát khao cháy bỏng trở lên tích cực hơn, ấm áp hơn. “Khi bình minh lên” chính là lúc mặt trời xua đi giá lạnh, mang lại sự ấm áp cho vạn vật, có cả con người. Và hy vọng mặt trời anh cũng mang lại ấm áp cho tình yêu!
Bài thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, đằm thắm nhưng để lại trong lòng người đọc có nỗi buồn xa xót, có tin yêu về tương lai, có hạnh phúc đợi chờ, có bình minh ấm áp của cuộc sống! Với tôi, đây là một bài thơ hay đáng trân trọng!
10.01.2010
Lê Bá Duy
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
*Bài thơ Đêm Đông của Trương Thị Hằng Nga xếp thứ 4 của tháng thứ 3 nên không vào được vòng 3 (chung khảo)
Tạm biệt Phong Nha
Quảng Bình có động Phong Nha
Nửa đêm trăng xuống là đà trên sông
Người đi nổi nhớ chìm mong
Câu thơ gởi lại mãi bồng bềnh trôi.
Động Tiên tiên ở trên trời
Tôi theo níu vội rối bời sợi tơ
Kìa em Mái Tóc mộng mơ
Chàng Khổng Lồ ngó cứ vờ không quen …
Chén nồng cạn với đêm đen
Gió thu rạo rực cũng len lén về
Phong Nha sóng vỗ tứ bề
Nhanh tay hứng được câu thề tặng em.
Sông Son son sắt nào quên
Giọng hò xứ Quảng cứ chênh vênh sầu
Nụ cười em rải sông sâu
Trăm năm tôi vớt
Vẫn màu nhớ nhung …2009
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Bình thơ:
Đọc Tạm biệt Phong Nha của Thanh Trắc Nguyễn Văn
Động Phong Nha là một trong những danh lam thắng cảnh nổi tiếng nhất của Việt Nam. Tôi cũng đã đến Phong Nha được hai lần nhưng đều là ban ngày. Tác giả Thanh Trắc Nguyễn Văn tỏ ra rất sắc sảo khi chọn cảnh đêm có trăng để đặc tả cảnh đẹp của động Phong Nha. Đối với tôi đó là điều khá bất ngờ và khá độc đáo!
“Quảng Bình có động Phong Nha
Nửa đêm trăng xuống là đà trên sông”
Câu thơ rất tự nhiên và cảnh cũng rất đẹp. Trăng xuống ở đây không phải là trăng trên bầu trời rơi xuống mà là chính ánh trăng rọi rơi xuống mặt nước sông và nổi là đà theo sóng. Theo ý bài thơ thì có lẽ tác giả đang ngồi trên thuyền và sắp ra đi “tạm biệt Phong Nha”. Một cảnh chia ly thật nhiều cảm xúc. Cảm xúc như được nhân lên gấp bội theo các câu thơ:
“Người đi nổi nhớ chìm mong
Câu thơ gởi lại mãi bồng bềnh trôi”
Thuyền đưa người đi bập bềnh theo sóng. Khi sóng đưa thuyền “nổi” lên thì “nhớ”,còn khi sóng đưa thuyền “chìm” xuống thì lại “mong”! Câu thơ tác giả gởi lại cũng da diết không kém: “bồng bềnh trôi”, nghĩa là cũng có “mong” có “nhớ” trong đó! Bút pháp thơ tình của Thanh Trắc Nguyễn Văn thật lãng mạng và cũng thật là đa tình!
“Động Tiên tiên ở trên trời
Tôi theo níu vội rối bời sợi tơ
Kìa em Mái Tóc mộng mơ
Chàng Khổng Lồ ngó cứ vờ không quen …”
Đây có lẽ là đoạn thơ tác giả hồi tưởng khi vào thăm động Phong Nha. Những địa danh trong động Phong Nha như Động Tiên,Mái Tóc,Chàng Khổng Lồ,… đều được tác giả nhân cách hóa rất khéo và cài vào bài thơ một cách thật sinh động. “Em” chính là cảnh, cảnh cũng chính là người thiếu nữ đất Quảng Bình? Thơ tả cảnh nhưng thật ra tả tình, thơ tả tình thật ra để tả cảnh. Ảo và thật cứ hòa quyện vào nhau đúng như một người đi lạc vào “Động Tiên” vậy!
“Chén nồng cạn với đêm đen
Gió thu rạo rực cũng len lén về
Phong Nha sóng vỗ tứ bề
Nhanh tay hứng được câu thề tặng em.”
Đây là đoạn thơ mà có rất nhiều bạn thích. Theo các bạn ấy thì câu thơ nghe thật sinh động và thật trữ tình,nhất là từ "gió thu rạo rực". Nhưng theo tôi lại nghĩ khác. Đồng ý là đoạn thơ này Thanh Trắc Nguyễn Văn đã viết được những câu thơ lục bát rất điêu luyện, nhuần nhuyễn khiến âm điệu nghe thật nhịp nhàng,ý tứ thật mới lạ,thật bay bổng. Song le “câu thề mà hứng từ sóng nước” lên rồi trao tặng cho “người đẹp” thì tôi e có vẻ ngẫu nhiên và không thật lòng! Nhưng xin cũng đừng trách Thanh Trắc Nguyễn Văn vội. Đó là bản chất của các nhà thơ. Họ luôn thường rất đa tình,đa sầu,đa cảm và cũng rất đa mang!
“Sông Son son sắt nào quên
Giọng hò xứ Quảng cứ chênh vênh sầu”
Đoạn thơ cuối đưa người đọc rời khỏi cảnh hồi tưởng để quay về cảnh đầu lúc chia ly. Sông Son theo tôi biết nước có màu xanh ngọc rất đẹp, nhưng ở đây tác giả muốn nói đến một ý khác: “son sắt”, nhằm để nói lên cái tình của người con gái Quảng Bình thủy chung như nhất.Hình tượng cuối bài thơ được trải dài và thật đẹp:
“Nụ cười em rải sông sâu
Trăm năm tôi vớt
Vẫn màu nhớ nhung …”
Tạm biệt Phong Nha là một bài thơ tình hay. Lời thơ thật trong sáng,thật dễ hiểu nhưng cũng rất trữ tình. Tác giả cố ý dùng nhiều từ lấp láy như: là đà,bồng bềnh,chênh vênh,… hoặc sử dụng tu từ điệp từ như: Động Tiên tiên ở trên trời (hai từ “tiên” liền nhau), Sông Son son sắt nào quên (hai từ “son” liền nhau) khiến các câu thơ trở nên giàu âm điệu và giàu hình ảnh một cách rất đặc sắc
Huỳnh Ngọc
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
Quảng Bình có động Phong Nha
Nửa đêm trăng xuống là đà trên sông
Người đi nổi nhớ chìm mong
Câu thơ gởi lại mãi bồng bềnh trôi.
Động Tiên tiên ở trên trời
Tôi theo níu vội rối bời sợi tơ
Kìa em Mái Tóc mộng mơ
Chàng Khổng Lồ ngó cứ vờ không quen …
Chén nồng cạn với đêm đen
Gió thu rạo rực cũng len lén về
Phong Nha sóng vỗ tứ bề
Nhanh tay hứng được câu thề tặng em.
Sông Son son sắt nào quên
Giọng hò xứ Quảng cứ chênh vênh sầu
Nụ cười em rải sông sâu
Trăm năm tôi vớt
Vẫn màu nhớ nhung …2009
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Bình thơ:
Đọc Tạm biệt Phong Nha của Thanh Trắc Nguyễn Văn
Động Phong Nha là một trong những danh lam thắng cảnh nổi tiếng nhất của Việt Nam. Tôi cũng đã đến Phong Nha được hai lần nhưng đều là ban ngày. Tác giả Thanh Trắc Nguyễn Văn tỏ ra rất sắc sảo khi chọn cảnh đêm có trăng để đặc tả cảnh đẹp của động Phong Nha. Đối với tôi đó là điều khá bất ngờ và khá độc đáo!
“Quảng Bình có động Phong Nha
Nửa đêm trăng xuống là đà trên sông”
Câu thơ rất tự nhiên và cảnh cũng rất đẹp. Trăng xuống ở đây không phải là trăng trên bầu trời rơi xuống mà là chính ánh trăng rọi rơi xuống mặt nước sông và nổi là đà theo sóng. Theo ý bài thơ thì có lẽ tác giả đang ngồi trên thuyền và sắp ra đi “tạm biệt Phong Nha”. Một cảnh chia ly thật nhiều cảm xúc. Cảm xúc như được nhân lên gấp bội theo các câu thơ:
“Người đi nổi nhớ chìm mong
Câu thơ gởi lại mãi bồng bềnh trôi”
Thuyền đưa người đi bập bềnh theo sóng. Khi sóng đưa thuyền “nổi” lên thì “nhớ”,còn khi sóng đưa thuyền “chìm” xuống thì lại “mong”! Câu thơ tác giả gởi lại cũng da diết không kém: “bồng bềnh trôi”, nghĩa là cũng có “mong” có “nhớ” trong đó! Bút pháp thơ tình của Thanh Trắc Nguyễn Văn thật lãng mạng và cũng thật là đa tình!
“Động Tiên tiên ở trên trời
Tôi theo níu vội rối bời sợi tơ
Kìa em Mái Tóc mộng mơ
Chàng Khổng Lồ ngó cứ vờ không quen …”
Đây có lẽ là đoạn thơ tác giả hồi tưởng khi vào thăm động Phong Nha. Những địa danh trong động Phong Nha như Động Tiên,Mái Tóc,Chàng Khổng Lồ,… đều được tác giả nhân cách hóa rất khéo và cài vào bài thơ một cách thật sinh động. “Em” chính là cảnh, cảnh cũng chính là người thiếu nữ đất Quảng Bình? Thơ tả cảnh nhưng thật ra tả tình, thơ tả tình thật ra để tả cảnh. Ảo và thật cứ hòa quyện vào nhau đúng như một người đi lạc vào “Động Tiên” vậy!
“Chén nồng cạn với đêm đen
Gió thu rạo rực cũng len lén về
Phong Nha sóng vỗ tứ bề
Nhanh tay hứng được câu thề tặng em.”
Đây là đoạn thơ mà có rất nhiều bạn thích. Theo các bạn ấy thì câu thơ nghe thật sinh động và thật trữ tình,nhất là từ "gió thu rạo rực". Nhưng theo tôi lại nghĩ khác. Đồng ý là đoạn thơ này Thanh Trắc Nguyễn Văn đã viết được những câu thơ lục bát rất điêu luyện, nhuần nhuyễn khiến âm điệu nghe thật nhịp nhàng,ý tứ thật mới lạ,thật bay bổng. Song le “câu thề mà hứng từ sóng nước” lên rồi trao tặng cho “người đẹp” thì tôi e có vẻ ngẫu nhiên và không thật lòng! Nhưng xin cũng đừng trách Thanh Trắc Nguyễn Văn vội. Đó là bản chất của các nhà thơ. Họ luôn thường rất đa tình,đa sầu,đa cảm và cũng rất đa mang!
“Sông Son son sắt nào quên
Giọng hò xứ Quảng cứ chênh vênh sầu”
Đoạn thơ cuối đưa người đọc rời khỏi cảnh hồi tưởng để quay về cảnh đầu lúc chia ly. Sông Son theo tôi biết nước có màu xanh ngọc rất đẹp, nhưng ở đây tác giả muốn nói đến một ý khác: “son sắt”, nhằm để nói lên cái tình của người con gái Quảng Bình thủy chung như nhất.Hình tượng cuối bài thơ được trải dài và thật đẹp:
“Nụ cười em rải sông sâu
Trăm năm tôi vớt
Vẫn màu nhớ nhung …”
Tạm biệt Phong Nha là một bài thơ tình hay. Lời thơ thật trong sáng,thật dễ hiểu nhưng cũng rất trữ tình. Tác giả cố ý dùng nhiều từ lấp láy như: là đà,bồng bềnh,chênh vênh,… hoặc sử dụng tu từ điệp từ như: Động Tiên tiên ở trên trời (hai từ “tiên” liền nhau), Sông Son son sắt nào quên (hai từ “son” liền nhau) khiến các câu thơ trở nên giàu âm điệu và giàu hình ảnh một cách rất đặc sắc
Huỳnh Ngọc
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
29. May 2010, 05:00:01 (edited)
Nửa đời
Nửa đời
Nhỏ lệ làm sông
Thuyền yêu chèo mãi
Vẫn không thấy bờ .
Nửa đời
Xếp chữ làm thơ
Chữ “tình” đi mất
Bỏ “khờ” chèo queo .
Nửa đời
Bán mảnh trăng treo
Tháng năm rơi trắng
Cái nghèo còn mang .
Nửa đời
Nhặt giấc mơ hoang
Một đêm vấp nhớ
Bàng hoàng tìm em .
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Bình thơ:
Đọc bài thơ Nửa đời của Thanh Trắc Nguyễn Văn
Tôi biết Thanh Trắc Nguyễn Văn hơn 10 năm nay! Rồi gặp anh với 2 nhà thơ Trần Ngọc Hưởng và Thái Thanh Nguyên năm 2006 tại thành phố Hồ Chí Minh. Lần gặp ấy, ba thi sĩ (hai nam, một nữ) đã để lại trong tôi ấn tượng không thể quên được, nhất là tác giả bài thơ NỬA ĐỜI này!
Tôi không loanh quanh kể lại chuyện gặp gỡ xúc động ấy nhưng tôi muốn nhớ lại để chiêm nghiệm với bài thơ mà nhân vật tâm trữ tình chính là tác giả -nhà thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn- một người đã cầm bút hơn 10 năm kể từ “Hoa sứ trắng” (tập thơ đầu tay xuất bản năm 1997)… Thanh Trắc Nguyễn Văn sinh năm 1962 là một nhà giáo yêu văn học (tôi khẳng định như thế vì biết anh đã góp mặt rất nhiều thi tuyển và từ 1997 đến nay đã cho ra mắt độc giả 4 tập thơ riêng) vừa tham gia dạy học và sáng tác thơ, văn đặc biệt thơ anh được chọn vào “Nghìn câu thơ tài hoa Việt Nam” (NXB Văn học, 2000).
“Nửa đời” là bài thơ viết cho mình, mang tâm trạng như nhiều thi sĩ khác, viết để giải bày tâm trạng của người làm thơ. Bài thơ viết khi nhà thơ ngoài bốn mươi tuổi- cái tuổi đến độ chín của người thơ, đủ để trải nghiệm, đủ để biểu đạt triết lý ẩn chứa trong ngôn ngữ thi ca... Bằng thể lục bát vắt dòng nhấn ý thể hiện rõ nét tứ- ý , nhấn mạnh nội dung biểu đạt cô và sắc với cách lựa chọn ngôn từ cẩn trọng của một người cầm bút khá lâu:
Nửa đời
Nhỏ lệ làm sông
Thuyền yêu chèo mãi
Vẫn không thấy bờ .
Khổ thơ thứ nhất mở đầu bằng cách giới thiệu “Nửa đời nhỏ lệ làm sông/ Thuyền yêu chèo mãi vẫn không thấy bờ…”. Tôi cứ nghĩ mãi hình ảnh “nhỏ lệ làm sông"?! Thi sĩ trời phú cho trái tim đa sầu đa cảm, buồn vui chợt đến, chợt đi để rồi từ trái tim ấy những câu thơ cất lên như xé ruột gan. Biện pháp tu từ nói quá của anh “nhỏ lệ làm sông” chấp nhận, nhưng xét trong mạch cảm, mạch nghĩ với câu thơ sau thì đó chính là gom góp yêu thương của con thuyền tình yêu hành trình trên con đường kiếp người. Viết được câu thơ này chắc hẳn người thơ có sự trải nghiệm trong tình yêu, đổ vỡ trong hôn nhân, xót xa cay đắng trước con đường đi tìm bến hạnh phúc cho tâm hồn mình! Tôi cảm như thế bởi câu thơ thứ hai trong khổ thứ nhất “vẫn không thấy bờ” của anh ngầm truyền vào tôi nỗi xa xót khi kết hợp với “nhỏ lệ làm sông”…
Khổ thứ hai cũng chỉ hai câu lục tách thành 4 dòng:
Nửa đời
xếp chữ làm thơ
Chữ “tình” đi mất
bỏ “khờ” chèo queo…
kéo tôi về với thực tại đắng đót của những người làm thơ. Thật ra có người làm thơ may mắn bởi tri âm tri kỷ, người bạn đời của mình cũng có trái tim đồng cảm sẻ chia thông cảm với họ; nhưng có người khó có sự đồng thuận khi làm thơ với gia đình. Có phải chăng đó là luật bù trừ mà “giời đày” cho các thi sĩ? Hay do sự “tỉnh táo” khác người của người làm thơ mà người thân yêu xa cách? Có phải trong thời buổi mà “cơm áo gạo tiền” đầy vất vả lo toan, khiến cho người vợ khó chấp nhận khi thấy chồng suốt ngày đam mê với văn chương? “Cơm áo không đùa với khách thơ” ? Tôi đã nghe, thấy và chứng kiến nhiều thi sĩ mải đeo đuổi đam mê và cuối cùng phải chia tay với “người bạn trăm năm” trong nỗi niềm đau đớn khắc khoải đến cô độc cháy lòng! Chữ “tình” ở đây, trong khổ thơ này phải chăng là điều ấy? Người đi rồi để lại nỗi cô đơn! Cô đơn ngập tràn đến “khờ” để rồi “chèo queo “ với đời, “chèo queo” với thơ, “chèo queo” khắc khoải giữa đời…..
Đến khổ thứ ba, chất thi sĩ tài hoa thoắt hiện trong cái “chiêm nghiệm” thực tế phủ phàng:
Nửa đời
Bán mảnh trăng treo
Tháng năm rơi trắng
Cái nghèo còn mang…
Hàn Mặc Tử đã từng rao “Ai mua trăng tôi bán trăng cho…” Trăng là hình ảnh thiên nhiên vĩnh hằng! Không riêng ai, không sở hữu của ai phải mua bán! Có “bán” chăng là cách nói của thi sĩ, khát vọng và tình yêu; xót xa và hạnh phúc …tháng năm thi sĩ miệt mài lao động nghệ thuật chưng cất nên những câu thơ góp cho đời những “bông hoa” ngát hương trong “vườn văn học”. Người làm nghệ thuật chân chính, thường họ không nghĩ đến làm kinh tế , có khi cả đời chỉ viết được một tác phẩm hay. Nhưng không đam mê, không lao vào, tận tâm tận lực với văn chương liệu có thành công, có tác phẩm hay không? Trải qua nửa đời rồi ngẫm lại, người thơ thấy “cái nghèo còn mang”. Không phải đó là sự hối tiếc, ân hận; không phải là xót xa cái nghèo bám víu người thơ- còn có sự liên tưởng thú vị hơn nhiều với hình ảnh tưởng tượng khá độc đáo “tháng năm rơi trắng..” Tính từ “trắng” (theo cách ngắt nhịp của câu thơ) gơi lên ý thức sống- ý thức thời gian, khát khao dâng hiến nhưng chưa có được cái mà mình khao khát ước mơ rất chân thành không cao xa diệu vợi. Và chiêm nghiệm hành trình trên con đường thi ca đến đích trải qua bao thăng trầm gian khó, có khi trắng cả thời gian tâm huyết hoài bão của mình mà kết quả không thành!
Khổ cuối của bài thơ cũng lặp lại điệp khúc “nửa đời” khởi đầu câu lục, nhưng ý thơ làm tôi “ngộ” ra một điều mới phát hiện từ chiêm nghiệm của “anh” của “mình”!
Nửa đời
Nhặt giấc mơ hoang
Một đêm vấp nhớ
Bàng hoàng tìm em .
“Sống trên đời cần có một tấm lòng” (TCS). Tấm lòng với tình yêu, với cuộc sống, với đam mê, với gia đình…Nhưng để làm được mơ ước hoài bão mình khao khát chỉ có một con đường “đi tới” trên con đường đầy chông gai trắc trở khó khăn, với quyết tâm và nghị lực phi thường! Trên con đường “nhặt giấc mơ hoang” đến “nửa đời” bỗng “một đêm” nhận ra tình yêu anh dành cho em, dành cho cái nửa của mình thật lớn lao ắp đầy nỗi nhớ, để rồi “bàng hoàng” đi tim “cái nửa” mình đã đánh mất lâu nay!
“Em”- chủ thể thứ hai- hiện lên cuối bài thơ đi kèm với một tính từ “bàng hoàng” và một động từ “tìm” cho thấy một tâm trạng vừa bàng hoàng vừa khắc khoải xa xót của một tâm hồn thi sĩ sau những “giấc mơ hoang”….
“Nửa đời” của Thanh Trắc Nguyễn Văn là một bài thơ hay! Thật khó có thể cảm nhận hết bằng ngôn ngữ. Những cảm nhận của tôi theo cách cảm của người làm thơ, yêu thơ, say thơ và có sự đồng cảm sẻ chia với người thơ! Hy vọng “nửa đời” còn lại của tác giả bài thơ này sẽ gặt hái hạnh phúc trên con đường “tìm em”- Em trong tình yêu và em tác phẩm nghệ thuật mà mọi người yêu thích!
Bình Định, 20.01.2010
Lê Bá Duy
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
*Bài thơ Nửa Đời của Thanh Trắc Nguyễn Văn chỉ xếp thứ 3 của tháng thứ 3 nên không vào được vòng 3 (chung khảo) [
Nửa đời
Nhỏ lệ làm sông
Thuyền yêu chèo mãi
Vẫn không thấy bờ .
Nửa đời
Xếp chữ làm thơ
Chữ “tình” đi mất
Bỏ “khờ” chèo queo .
Nửa đời
Bán mảnh trăng treo
Tháng năm rơi trắng
Cái nghèo còn mang .
Nửa đời
Nhặt giấc mơ hoang
Một đêm vấp nhớ
Bàng hoàng tìm em .
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Bình thơ:
Đọc bài thơ Nửa đời của Thanh Trắc Nguyễn Văn
Tôi biết Thanh Trắc Nguyễn Văn hơn 10 năm nay! Rồi gặp anh với 2 nhà thơ Trần Ngọc Hưởng và Thái Thanh Nguyên năm 2006 tại thành phố Hồ Chí Minh. Lần gặp ấy, ba thi sĩ (hai nam, một nữ) đã để lại trong tôi ấn tượng không thể quên được, nhất là tác giả bài thơ NỬA ĐỜI này!
Tôi không loanh quanh kể lại chuyện gặp gỡ xúc động ấy nhưng tôi muốn nhớ lại để chiêm nghiệm với bài thơ mà nhân vật tâm trữ tình chính là tác giả -nhà thơ Thanh Trắc Nguyễn Văn- một người đã cầm bút hơn 10 năm kể từ “Hoa sứ trắng” (tập thơ đầu tay xuất bản năm 1997)… Thanh Trắc Nguyễn Văn sinh năm 1962 là một nhà giáo yêu văn học (tôi khẳng định như thế vì biết anh đã góp mặt rất nhiều thi tuyển và từ 1997 đến nay đã cho ra mắt độc giả 4 tập thơ riêng) vừa tham gia dạy học và sáng tác thơ, văn đặc biệt thơ anh được chọn vào “Nghìn câu thơ tài hoa Việt Nam” (NXB Văn học, 2000).
“Nửa đời” là bài thơ viết cho mình, mang tâm trạng như nhiều thi sĩ khác, viết để giải bày tâm trạng của người làm thơ. Bài thơ viết khi nhà thơ ngoài bốn mươi tuổi- cái tuổi đến độ chín của người thơ, đủ để trải nghiệm, đủ để biểu đạt triết lý ẩn chứa trong ngôn ngữ thi ca... Bằng thể lục bát vắt dòng nhấn ý thể hiện rõ nét tứ- ý , nhấn mạnh nội dung biểu đạt cô và sắc với cách lựa chọn ngôn từ cẩn trọng của một người cầm bút khá lâu:
Nửa đời
Nhỏ lệ làm sông
Thuyền yêu chèo mãi
Vẫn không thấy bờ .
Khổ thơ thứ nhất mở đầu bằng cách giới thiệu “Nửa đời nhỏ lệ làm sông/ Thuyền yêu chèo mãi vẫn không thấy bờ…”. Tôi cứ nghĩ mãi hình ảnh “nhỏ lệ làm sông"?! Thi sĩ trời phú cho trái tim đa sầu đa cảm, buồn vui chợt đến, chợt đi để rồi từ trái tim ấy những câu thơ cất lên như xé ruột gan. Biện pháp tu từ nói quá của anh “nhỏ lệ làm sông” chấp nhận, nhưng xét trong mạch cảm, mạch nghĩ với câu thơ sau thì đó chính là gom góp yêu thương của con thuyền tình yêu hành trình trên con đường kiếp người. Viết được câu thơ này chắc hẳn người thơ có sự trải nghiệm trong tình yêu, đổ vỡ trong hôn nhân, xót xa cay đắng trước con đường đi tìm bến hạnh phúc cho tâm hồn mình! Tôi cảm như thế bởi câu thơ thứ hai trong khổ thứ nhất “vẫn không thấy bờ” của anh ngầm truyền vào tôi nỗi xa xót khi kết hợp với “nhỏ lệ làm sông”…
Khổ thứ hai cũng chỉ hai câu lục tách thành 4 dòng:
Nửa đời
xếp chữ làm thơ
Chữ “tình” đi mất
bỏ “khờ” chèo queo…
kéo tôi về với thực tại đắng đót của những người làm thơ. Thật ra có người làm thơ may mắn bởi tri âm tri kỷ, người bạn đời của mình cũng có trái tim đồng cảm sẻ chia thông cảm với họ; nhưng có người khó có sự đồng thuận khi làm thơ với gia đình. Có phải chăng đó là luật bù trừ mà “giời đày” cho các thi sĩ? Hay do sự “tỉnh táo” khác người của người làm thơ mà người thân yêu xa cách? Có phải trong thời buổi mà “cơm áo gạo tiền” đầy vất vả lo toan, khiến cho người vợ khó chấp nhận khi thấy chồng suốt ngày đam mê với văn chương? “Cơm áo không đùa với khách thơ” ? Tôi đã nghe, thấy và chứng kiến nhiều thi sĩ mải đeo đuổi đam mê và cuối cùng phải chia tay với “người bạn trăm năm” trong nỗi niềm đau đớn khắc khoải đến cô độc cháy lòng! Chữ “tình” ở đây, trong khổ thơ này phải chăng là điều ấy? Người đi rồi để lại nỗi cô đơn! Cô đơn ngập tràn đến “khờ” để rồi “chèo queo “ với đời, “chèo queo” với thơ, “chèo queo” khắc khoải giữa đời…..
Đến khổ thứ ba, chất thi sĩ tài hoa thoắt hiện trong cái “chiêm nghiệm” thực tế phủ phàng:
Nửa đời
Bán mảnh trăng treo
Tháng năm rơi trắng
Cái nghèo còn mang…
Hàn Mặc Tử đã từng rao “Ai mua trăng tôi bán trăng cho…” Trăng là hình ảnh thiên nhiên vĩnh hằng! Không riêng ai, không sở hữu của ai phải mua bán! Có “bán” chăng là cách nói của thi sĩ, khát vọng và tình yêu; xót xa và hạnh phúc …tháng năm thi sĩ miệt mài lao động nghệ thuật chưng cất nên những câu thơ góp cho đời những “bông hoa” ngát hương trong “vườn văn học”. Người làm nghệ thuật chân chính, thường họ không nghĩ đến làm kinh tế , có khi cả đời chỉ viết được một tác phẩm hay. Nhưng không đam mê, không lao vào, tận tâm tận lực với văn chương liệu có thành công, có tác phẩm hay không? Trải qua nửa đời rồi ngẫm lại, người thơ thấy “cái nghèo còn mang”. Không phải đó là sự hối tiếc, ân hận; không phải là xót xa cái nghèo bám víu người thơ- còn có sự liên tưởng thú vị hơn nhiều với hình ảnh tưởng tượng khá độc đáo “tháng năm rơi trắng..” Tính từ “trắng” (theo cách ngắt nhịp của câu thơ) gơi lên ý thức sống- ý thức thời gian, khát khao dâng hiến nhưng chưa có được cái mà mình khao khát ước mơ rất chân thành không cao xa diệu vợi. Và chiêm nghiệm hành trình trên con đường thi ca đến đích trải qua bao thăng trầm gian khó, có khi trắng cả thời gian tâm huyết hoài bão của mình mà kết quả không thành!
Khổ cuối của bài thơ cũng lặp lại điệp khúc “nửa đời” khởi đầu câu lục, nhưng ý thơ làm tôi “ngộ” ra một điều mới phát hiện từ chiêm nghiệm của “anh” của “mình”!
Nửa đời
Nhặt giấc mơ hoang
Một đêm vấp nhớ
Bàng hoàng tìm em .
“Sống trên đời cần có một tấm lòng” (TCS). Tấm lòng với tình yêu, với cuộc sống, với đam mê, với gia đình…Nhưng để làm được mơ ước hoài bão mình khao khát chỉ có một con đường “đi tới” trên con đường đầy chông gai trắc trở khó khăn, với quyết tâm và nghị lực phi thường! Trên con đường “nhặt giấc mơ hoang” đến “nửa đời” bỗng “một đêm” nhận ra tình yêu anh dành cho em, dành cho cái nửa của mình thật lớn lao ắp đầy nỗi nhớ, để rồi “bàng hoàng” đi tim “cái nửa” mình đã đánh mất lâu nay!
“Em”- chủ thể thứ hai- hiện lên cuối bài thơ đi kèm với một tính từ “bàng hoàng” và một động từ “tìm” cho thấy một tâm trạng vừa bàng hoàng vừa khắc khoải xa xót của một tâm hồn thi sĩ sau những “giấc mơ hoang”….
“Nửa đời” của Thanh Trắc Nguyễn Văn là một bài thơ hay! Thật khó có thể cảm nhận hết bằng ngôn ngữ. Những cảm nhận của tôi theo cách cảm của người làm thơ, yêu thơ, say thơ và có sự đồng cảm sẻ chia với người thơ! Hy vọng “nửa đời” còn lại của tác giả bài thơ này sẽ gặt hái hạnh phúc trên con đường “tìm em”- Em trong tình yêu và em tác phẩm nghệ thuật mà mọi người yêu thích!
Bình Định, 20.01.2010
Lê Bá Duy
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
*Bài thơ Nửa Đời của Thanh Trắc Nguyễn Văn chỉ xếp thứ 3 của tháng thứ 3 nên không vào được vòng 3 (chung khảo) [
Nửa đời
Nửa đời
Nhỏ lệ làm sông
Thuyền yêu chèo mãi
Vẫn không thấy bờ .
Nửa đời
Xếp chữ làm thơ
Chữ “tình” đi mất
Bỏ “khờ” chèo queo .
Nửa đời
Bán mảnh trăng treo
Tháng năm rơi trắng
Cái nghèo còn mang .
Nửa đời
Nhặt giấc mơ hoang
Một đêm vấp nhớ
Bàng hoàng tìm em .
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Bình thơ:
Bài thơ Nửa đời của Thanh Trắc Nguyễn Văn và 4 bi kịch lớn của con người
1.Bi kịch thứ nhất: Bi kịch trong tình yêu
Nửa đời
Nhỏ lệ làm sông
Thuyền yêu chèo mãi
Vẫn không thấy bờ .
Với giọng thơ lục bát nhưng Thanh Trắc Nguyễn Văn đã vận dụng lối ngắt nhịp biến 2 câu thơ lục bát 6-8 thành 2-4-4-4 để tạo nên một âm điệu vừa trữ tình vừa khoắc khoải bi thương.Yêu như trong bài thơ thì làm sao giữ gìn hạnh phúc được? Yêu là phải có nghị lực vươn lên.Tôi nhớ một bài thơ khác cũng của Thanh Trắc Nguyễn Văn,đã có một ý thức và một cách xử lý trong tình yêu hoàn toàn khác hẳn:
Cầm lên một trái khổ qua
Khổ mà kêu khổ đúng là khổ thôi
Yêu nhau leo núi vượt đồi
Chia bùi xẻ đắng khổ rồi cũng qua!
(Trái khổ qua – Thanh Trắc Nguyễn Văn)
Bi kịch trong tình yêu chính là sự ủy mị,sướt mướt.Nước mắt chỉ làm người ta thương hại chứ không giữ được tình yêu.Khoảng những năm 1980 Liên Xô có bộ phim nổi tiếng Mat-xcơ-va không tin vào những giọt nước mắt.Nay qua bốn câu thơ đầu của bài thơ Nửa đời nên có thêm một thành ngữ mới: ”Tình yêu không giữ được từ những giọt nước mắt”.Hình ảnh và hình tượng bài thơ rất đắt:”Nhỏ lệ làm sông”,”Thuyền yêu chèo mãi/Vẫn không thấy bờ” gợi đến những hình ảnh đã có từ rất lâu trong tình yêu:”biển tình”,”biển ái” nhưng nghiệt ngã hơn rất nhiều.Cái giá phải trả của một người không có ”bản lĩnh” trong tình yêu cũng thật đáng thương ”thuyền yêu chèo mãi vẫn không thấy bờ”.Thanh Trắc Nguyễn Văn đã khéo léo dùng tu từ và nghệ thuật đúc kết cho người đọc một kinh nghiệm trong tình trường mà chắc có lẽ anh đã từng ít nhiều trải nghiệm qua.
2.Bi kịch thứ hai: Bi kịch của những người muốn làm ”nhà thơ”
Nửa đời
Xếp chữ làm thơ
Chữ “tình” đi mất
Bỏ “khờ” chèo queo .
Chưa bao giờ nước ta lại có rất nhiều người làm thơ như hiện nay.Người làm thơ thì nhiều nhưng những nhà thơ đúng nghĩa thì lại rất ít.Thơ phải viết ra từ cảm xúc,từ nghệ thuật tinh tế.”Sáng tác” thơ mà xếp chữ cho ra một bài thơ có vần,có điệu như quay một khối rubik thì còn gì là thơ! Đó là ”thợ thơ” thì đúng hơn! Tôi còn nhớ có lần nghe một ”nhà thơ ” tự phong ở một câu lạc bộ thơ nọ,tuổi cũng đã lục tuần,lên hội trường đọc những câu thơ ngô nghê như sau:
Sáng nay mùng tám tháng ba
Chào mừng đại hội các bà các cô ...
Nghe thật tức cười nhưng cũng thật giật mình vì nghe đâu ”nhà thơ” này đã xuất bản được hơn tám tập thơ và hiện đang chuẩn bị xuất bản tập thơ thứ chín!Thế mới hay làm thơ thì dễ nhưng làm thơ để đi được vào lòng người thì khó vô cùng.Cái giá phải trả của những người làm thơ loại này là đến một lúc nào đó họ mới hiểu ra mình đã quá dại dột.Họ làm thơ ”tình” nhưng chỉ để người ta xem xong và cười,có người còn xấu miệng hơn bảo họ là những kẻ háo danh.Đó chính là chữ ”khờ” của những ”nhà thơ” không có thực tài.Tuy nhiên đây là bi kịch rất dễ thương.Họ ”khờ” vì sự đam mê nghệ thuật quá đáng của mình.Có thể sự đam mê đó gây phiền nhiễu cho nhiếu người khác nhưng không hề gây ra nguy hại nghiêm trọng cho xã hội.Thanh Trắc Nguyễn Văn đã dùng tu từ nhân cách hóa cho chữ ”tình” và chữ ”khờ” để biểu hiện một cách thật sinh động và cũng thật hài hước:
Chữ “tình” đi mất
Bỏ “khờ” chèo queo
Nhìn chung Thanh Trắc Nguyễn Văn đã khá thành công khi anh tạo nên một tiếng cười vui nhưng đầy cảm thông cho loại bi kịch đáng yêu này.
3.Bi kịch thứ ba : Bi kịch trong kinh doanh
Nửa đời
Bán mảnh trăng treo
Tháng năm rơi trắng
Cái nghèo còn mang .
Đã là nhà thơ hầu hết ai cũng có chút bệnh ngông!Ở Trung Quốc có nhà thơ Lý Bạch nhảy xuống dòng sông ôm trăng mà chết.Ở Việt Nam ta thì có nhà thơ Hàn Mặc Tử cũng đòi bán trăng trên trời!Nhiều người khác cũng thế,họ kinh doanh rất nhiều thứ và nhiều người trong số đó đã phải cam chịu thất bại,chẳng hạn như những người ”kinh doanh thơ”.Trong một bài thơ trào lộng nhà thơ Tản Đà cũng đã từng kể chuyện ông gánh ”đống thơ ế” lên bán chợ trời!
Ở đây Thanh Trắc Nguyễn Văn dùng tu từ ẩn dụ ”mảnh trăng treo” để nói lên những cái gì rất đẹp và rất nghệ thuật.Nhưng cái đẹp,cái nghệ thuật ấy chưa chắc đã kiếm ra tiền!Kết quả là gì?Là hơn ”nửa đời” người kinh doanh,đầu tư nhưng trắng tay vẫn hoàn trắng tay!Họ hoàn toàn hiểu những điều gì họ đã và đang làm nhưng chưa chắc họ đã nhận được sự đồng cảm của những người thân.Có những người luôn bị vợ hoặc con cái chì chiết là ”vô dụng” hoặc nặng nề hơn ”là đồ ăn hại”!
Câu thơ thật phũ phàng:
Tháng năm rơi trắng
Không sinh được lợi lại còn bị mất thời gian:”tháng năm rơi”.Càng đọc,càng ngẫm nghĩ lại càng thêm chua xót.Thật đúng là ”Cơm áo không áo không đùa với khách thơ” (Thơ Xuân Diệu).
4.Bi kịch thứ tư: Bi kịch cho những người đi tìm hạnh phúc
Nửa đời
Nhặt giấc mơ hoang
Một đêm vấp nhớ
Bàng hoàng tìm em .
Nhân vật trong bài thơ hình như yêu rất nhiều.Anh ta luôn mơ đến những mối tình cao và xa đối với những nàng hoa hậu chân dài.Những chuyện tình đó thật phù phiếm và không thực.Thanh Trắc Nguyễn Văn đã dùng hình ảnh rất sinh động để diễn tả :
Nhặt giấc mơ hoang
Vâng đúng vậy, loại tình yêu đơn phương chỉ một chiều,không cân xứng kiểu như Trương Chi yêu Mỵ Nương thì quả thật đúng là một loại bi hài kịch xã hội.Đó là những ”giấc mơ hoang tưởng” không thực tế.
Thanh Trắc Nguyễn Văn đã dùng một từ rất ”đắc” đó là ”vấp”!”Vấp” chỉ xảy ra khi người ta không chú ý và giúp con người thật sự được ”bừng tỉnh”!Đã vậy,ở đây còn lại là ”vấp” vào nỗi ”nhớ”,Thật rất mới và rất lạ!Nhờ ”vấp” mà nhân vật trữ tình trong bài thơ chợt ”nhớ” đến một người con gái vẫn còn yêu thương mình thật lòng.Nhân vật vội vã ”bàng hoàng” đi ”tìm em”.Nhưng dù sao cũng đã hơn ”nửa đời” người rồi,không biết ”người ấy” đã mất hay vẫn còn trên dương thế?Nếu vẫn còn liệu người ấy có còn chờ đợi hay đã sang thuyền khác mất rồi?Than ôi!
Hùng Thanh
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
*Bài thơ Nửa Đời của Thanh Trắc Nguyễn Văn chỉ xếp thứ 3 của tháng thứ 3 nên không vào được vòng 3 (chung khảo)
Nửa đời
Nhỏ lệ làm sông
Thuyền yêu chèo mãi
Vẫn không thấy bờ .
Nửa đời
Xếp chữ làm thơ
Chữ “tình” đi mất
Bỏ “khờ” chèo queo .
Nửa đời
Bán mảnh trăng treo
Tháng năm rơi trắng
Cái nghèo còn mang .
Nửa đời
Nhặt giấc mơ hoang
Một đêm vấp nhớ
Bàng hoàng tìm em .
Thanh Trắc Nguyễn Văn
Bình thơ:
Bài thơ Nửa đời của Thanh Trắc Nguyễn Văn và 4 bi kịch lớn của con người
1.Bi kịch thứ nhất: Bi kịch trong tình yêu
Nửa đời
Nhỏ lệ làm sông
Thuyền yêu chèo mãi
Vẫn không thấy bờ .
Với giọng thơ lục bát nhưng Thanh Trắc Nguyễn Văn đã vận dụng lối ngắt nhịp biến 2 câu thơ lục bát 6-8 thành 2-4-4-4 để tạo nên một âm điệu vừa trữ tình vừa khoắc khoải bi thương.Yêu như trong bài thơ thì làm sao giữ gìn hạnh phúc được? Yêu là phải có nghị lực vươn lên.Tôi nhớ một bài thơ khác cũng của Thanh Trắc Nguyễn Văn,đã có một ý thức và một cách xử lý trong tình yêu hoàn toàn khác hẳn:
Cầm lên một trái khổ qua
Khổ mà kêu khổ đúng là khổ thôi
Yêu nhau leo núi vượt đồi
Chia bùi xẻ đắng khổ rồi cũng qua!
(Trái khổ qua – Thanh Trắc Nguyễn Văn)
Bi kịch trong tình yêu chính là sự ủy mị,sướt mướt.Nước mắt chỉ làm người ta thương hại chứ không giữ được tình yêu.Khoảng những năm 1980 Liên Xô có bộ phim nổi tiếng Mat-xcơ-va không tin vào những giọt nước mắt.Nay qua bốn câu thơ đầu của bài thơ Nửa đời nên có thêm một thành ngữ mới: ”Tình yêu không giữ được từ những giọt nước mắt”.Hình ảnh và hình tượng bài thơ rất đắt:”Nhỏ lệ làm sông”,”Thuyền yêu chèo mãi/Vẫn không thấy bờ” gợi đến những hình ảnh đã có từ rất lâu trong tình yêu:”biển tình”,”biển ái” nhưng nghiệt ngã hơn rất nhiều.Cái giá phải trả của một người không có ”bản lĩnh” trong tình yêu cũng thật đáng thương ”thuyền yêu chèo mãi vẫn không thấy bờ”.Thanh Trắc Nguyễn Văn đã khéo léo dùng tu từ và nghệ thuật đúc kết cho người đọc một kinh nghiệm trong tình trường mà chắc có lẽ anh đã từng ít nhiều trải nghiệm qua.
2.Bi kịch thứ hai: Bi kịch của những người muốn làm ”nhà thơ”
Nửa đời
Xếp chữ làm thơ
Chữ “tình” đi mất
Bỏ “khờ” chèo queo .
Chưa bao giờ nước ta lại có rất nhiều người làm thơ như hiện nay.Người làm thơ thì nhiều nhưng những nhà thơ đúng nghĩa thì lại rất ít.Thơ phải viết ra từ cảm xúc,từ nghệ thuật tinh tế.”Sáng tác” thơ mà xếp chữ cho ra một bài thơ có vần,có điệu như quay một khối rubik thì còn gì là thơ! Đó là ”thợ thơ” thì đúng hơn! Tôi còn nhớ có lần nghe một ”nhà thơ ” tự phong ở một câu lạc bộ thơ nọ,tuổi cũng đã lục tuần,lên hội trường đọc những câu thơ ngô nghê như sau:
Sáng nay mùng tám tháng ba
Chào mừng đại hội các bà các cô ...
Nghe thật tức cười nhưng cũng thật giật mình vì nghe đâu ”nhà thơ” này đã xuất bản được hơn tám tập thơ và hiện đang chuẩn bị xuất bản tập thơ thứ chín!Thế mới hay làm thơ thì dễ nhưng làm thơ để đi được vào lòng người thì khó vô cùng.Cái giá phải trả của những người làm thơ loại này là đến một lúc nào đó họ mới hiểu ra mình đã quá dại dột.Họ làm thơ ”tình” nhưng chỉ để người ta xem xong và cười,có người còn xấu miệng hơn bảo họ là những kẻ háo danh.Đó chính là chữ ”khờ” của những ”nhà thơ” không có thực tài.Tuy nhiên đây là bi kịch rất dễ thương.Họ ”khờ” vì sự đam mê nghệ thuật quá đáng của mình.Có thể sự đam mê đó gây phiền nhiễu cho nhiếu người khác nhưng không hề gây ra nguy hại nghiêm trọng cho xã hội.Thanh Trắc Nguyễn Văn đã dùng tu từ nhân cách hóa cho chữ ”tình” và chữ ”khờ” để biểu hiện một cách thật sinh động và cũng thật hài hước:
Chữ “tình” đi mất
Bỏ “khờ” chèo queo
Nhìn chung Thanh Trắc Nguyễn Văn đã khá thành công khi anh tạo nên một tiếng cười vui nhưng đầy cảm thông cho loại bi kịch đáng yêu này.
3.Bi kịch thứ ba : Bi kịch trong kinh doanh
Nửa đời
Bán mảnh trăng treo
Tháng năm rơi trắng
Cái nghèo còn mang .
Đã là nhà thơ hầu hết ai cũng có chút bệnh ngông!Ở Trung Quốc có nhà thơ Lý Bạch nhảy xuống dòng sông ôm trăng mà chết.Ở Việt Nam ta thì có nhà thơ Hàn Mặc Tử cũng đòi bán trăng trên trời!Nhiều người khác cũng thế,họ kinh doanh rất nhiều thứ và nhiều người trong số đó đã phải cam chịu thất bại,chẳng hạn như những người ”kinh doanh thơ”.Trong một bài thơ trào lộng nhà thơ Tản Đà cũng đã từng kể chuyện ông gánh ”đống thơ ế” lên bán chợ trời!
Ở đây Thanh Trắc Nguyễn Văn dùng tu từ ẩn dụ ”mảnh trăng treo” để nói lên những cái gì rất đẹp và rất nghệ thuật.Nhưng cái đẹp,cái nghệ thuật ấy chưa chắc đã kiếm ra tiền!Kết quả là gì?Là hơn ”nửa đời” người kinh doanh,đầu tư nhưng trắng tay vẫn hoàn trắng tay!Họ hoàn toàn hiểu những điều gì họ đã và đang làm nhưng chưa chắc họ đã nhận được sự đồng cảm của những người thân.Có những người luôn bị vợ hoặc con cái chì chiết là ”vô dụng” hoặc nặng nề hơn ”là đồ ăn hại”!
Câu thơ thật phũ phàng:
Tháng năm rơi trắng
Không sinh được lợi lại còn bị mất thời gian:”tháng năm rơi”.Càng đọc,càng ngẫm nghĩ lại càng thêm chua xót.Thật đúng là ”Cơm áo không áo không đùa với khách thơ” (Thơ Xuân Diệu).
4.Bi kịch thứ tư: Bi kịch cho những người đi tìm hạnh phúc
Nửa đời
Nhặt giấc mơ hoang
Một đêm vấp nhớ
Bàng hoàng tìm em .
Nhân vật trong bài thơ hình như yêu rất nhiều.Anh ta luôn mơ đến những mối tình cao và xa đối với những nàng hoa hậu chân dài.Những chuyện tình đó thật phù phiếm và không thực.Thanh Trắc Nguyễn Văn đã dùng hình ảnh rất sinh động để diễn tả :
Nhặt giấc mơ hoang
Vâng đúng vậy, loại tình yêu đơn phương chỉ một chiều,không cân xứng kiểu như Trương Chi yêu Mỵ Nương thì quả thật đúng là một loại bi hài kịch xã hội.Đó là những ”giấc mơ hoang tưởng” không thực tế.
Thanh Trắc Nguyễn Văn đã dùng một từ rất ”đắc” đó là ”vấp”!”Vấp” chỉ xảy ra khi người ta không chú ý và giúp con người thật sự được ”bừng tỉnh”!Đã vậy,ở đây còn lại là ”vấp” vào nỗi ”nhớ”,Thật rất mới và rất lạ!Nhờ ”vấp” mà nhân vật trữ tình trong bài thơ chợt ”nhớ” đến một người con gái vẫn còn yêu thương mình thật lòng.Nhân vật vội vã ”bàng hoàng” đi ”tìm em”.Nhưng dù sao cũng đã hơn ”nửa đời” người rồi,không biết ”người ấy” đã mất hay vẫn còn trên dương thế?Nếu vẫn còn liệu người ấy có còn chờ đợi hay đã sang thuyền khác mất rồi?Than ôi!
Hùng Thanh
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 3 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
*Bài thơ Nửa Đời của Thanh Trắc Nguyễn Văn chỉ xếp thứ 3 của tháng thứ 3 nên không vào được vòng 3 (chung khảo)
TRÁI MÙA
Trời thu khoát áo mùa đông
Rừng cây đứng ngóng cơn dông trắng chiều
Tường vôi giữ chút xanh rêu
Chênh chao giọt nắng quạnh hiu đọng buồn
Tiếng chim vườn cũ trong ngần
Lòng ta tím biếc nụ xuân trái mùa
Ngô Văn Cư
(Giải nhất thơ Lục Bát bình chọn tháng thứ 4 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
Trời thu khoát áo mùa đông
Rừng cây đứng ngóng cơn dông trắng chiều
Tường vôi giữ chút xanh rêu
Chênh chao giọt nắng quạnh hiu đọng buồn
Tiếng chim vườn cũ trong ngần
Lòng ta tím biếc nụ xuân trái mùa
Ngô Văn Cư
(Giải nhất thơ Lục Bát bình chọn tháng thứ 4 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
NGÀY CHIÊM BAO
Chợt nghe cây cỏ u buồn
Gọi làn mây trắng về nguồn đợi trăng
Nặng lòng chi cõi trăm năm
Cánh diều thơ ấu hồn nhiên giật mình.
Mơ màng ta niệm tâm kinh
Chiêm bao giữa chốn phù sinh khuyết mòn.
Ngô Văn Cư
(Giải nhất thơ Lục Bát bình chọn tháng thứ 4 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
Chợt nghe cây cỏ u buồn
Gọi làn mây trắng về nguồn đợi trăng
Nặng lòng chi cõi trăm năm
Cánh diều thơ ấu hồn nhiên giật mình.
Mơ màng ta niệm tâm kinh
Chiêm bao giữa chốn phù sinh khuyết mòn.
Ngô Văn Cư
(Giải nhất thơ Lục Bát bình chọn tháng thứ 4 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
TRÁI MÙA
Trời thu khoát áo mùa đông
Rừng cây đứng ngóng cơn dông trắng chiều
Tường vôi giữ chút xanh rêu
Chênh chao giọt nắng quạnh hiu đọng buồn
Tiếng chim vườn cũ trong ngần
Lòng ta tím biếc nụ xuân trái mùa
Ngô Văn Cư
Bình thơ:
Cảm nhận cùng bài thơ “Trái Mùa” của tác giả Ngô Văn Cư
* Để mở giòng tâm tư ký gửi vào “Trái Mùa”, tác giả Ngô Văn Cư đã mượn cảnh mùa thu héo buồn trong cái lạnh chớm đông:
“Trời thu khoát áo mùa đông
Rừng cây đứng ngóng cơn dông trắng chiều”
“Trời thu khoát áo mùa đông". Phải chăng tác giả muốn dụ ý rằng: Thu vốn đã buồn, nhưng cái buồn của sự đơn côi, tuyệt vọng thì lại càng thêm lạnh lẽo. Cái lạnh lẽo không chỉ bởi khung cảnh, bởi thời tiết thu chớm ngày đông mà còn chính là nỗi niềm đơn lạnh lẽo ngào ngào nơi cõi hồn tác giả.
"Rừng cây đứng ngóng cơn dông trắng chiều”. Tác giả đã vẽ nên một không gian thật trầm lặng nhưng lại chứa đựng bao muộn phiền, sóng nổi tâm tư. Không gian kia chỉ là một liên tưởng được bắt nguồn tự nội tâm tác giả, mà “Rừng Cây” chỉ là một phép nhân cách hóa nội tâm nọ. Thực vậy, dông về cỏ cây hẳn sẽ xác xơ thì lẽ nào “rừng cây” lại ngóng đợi cơn dông về để mà phải xác xơ kia chứ? Ấy thế nhưng với cảm nhận tự nội tâm, trong niềm mong mỏi sâu kín tác giả đã dự cảm một dông tố sẽ về khuấy đảo tâm tư, và “rừng cây” nọ đang nửa mong ngóng, nửa xót xa… Nhưng cho dù là gì đi nữa, từ trong thẳm sâu “rừng cây” vẫn “mong ngóng cơn dông” kia về cho dù biết rằng xác xơ là điều không tránh khỏi.
Quả là một mối ngóng trông đầy tâm trạng lẫn bất trắc! Không có một tâm tình sâu nặng thì chẳng bao giờ ngóng trông như vậy.
Đọc đến đây người đọc càng thấm hơn với lời thơ của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã được nhạc sỹ Phạm Duy phổ nhạc: “Thà như giọt mưa / vỡ trên tượng đá / thà như giọt mưa / khô trên tượng đá / thà như mưa gió / đến ôm tượng đá / có còn hơn không… có còn hơn không…”
“Trái Mùa” có cách biểu đạt tâm trạng thật nghịch lý nhưng lại đầy tinh tế; sự tinh tế làm xao động tâm tư của những tâm hồn tinh tế!
Mà đúng vậy! Tình cảm nói chung, tình yêu nói riêng chỉ có thể thấu cảm, đồng điệu chứ khó thể dùng lý luận thông thường để lý giải những chuyển biến, những xao động thật mong manh, thật tinh tế đến kỳ ảo kia theo logic thông thường. Một điều đơn giản rằng nếu mọi tâm tư tình cảm đều có thể mang ra để lý luận theo logic thông thường được thì khái niệm “Con Tim” chỉ còn dành cho nền Y Khoa hiện đại làm việc, và chắc rằng ngày nay computer đã biết viết nên những áng văn-thơ đầy xúc cảm thay cho con người. Rất may điều đó đã không xảy ra!
Trái tim con người thường có một logic rất riêng, và bởi chính vì rất riêng nên dù biết rằng đau, biết rằng buồn, biết rằng sẽ xơ xác đến “trắng chiều” nhưng cái “Rừng cây tâm tình” kia vẫn cứ “ngóng cơn dông” về… Có như thế cái tâm tình kia nó mới vừa “Nửa chừng quyến luyến – nửa chừng tái tê” (Phieuvan_Thlangdu) mà vẫn cứ ấp ủ, nặng mang là vậy!
* Chỉ hai câu mở đầu bài thơ với đúng 14 chữ của một cặp Lục bát mà tác giả đã khéo léo mượn cảnh trang trải biết bao tâm tình. Bằng bước mở thật nhuần nhị để rồi tác giả lại nhấn nhá một cặp lục bát tiếp theo như muốn khắc họa rõ nét tâm tư của “Rừng cây đứng ngóng cơn dông trắng chiều” bằng hai câu thơ mà chỉ đọc phớt qua sẽ khó lòng nhận ra rằng tác giả đã chắc chiu từng con chữ để gửi gắm nỗi lòng của bao ngày thắt the da diết.
“Tường vôi giữ chút xanh rêu
Chênh chao giọt nắng quạnh hiu đọng buồn”
“Tường vôi giữ chút xanh rêu”. Hay, hay thật!
“Rêu” trong thi ca thông thường nhằm chỉ chốn/điều hoang phế, vắng người lui tới; ở đây tác giữ dùng “giữ chút xanh rêu” thì tinh tế đến bất ngờ! Nếu tường vôi “PHỦ” hoặc “BÁM” rêu thì đơn giản chỉ là năm tháng trải qua, hoang phế thông thường của sự tất nhiên. Nhưng, “GIỮ” lại là dụ ý ghi khắc, nắm níu, ấp ủ ngày tháng xưa cho dù thời gian phai nhạt, năm tháng rêu phong...
Thật là ân tình, thật là tha thiết!
“Chênh chao giọt nắng quạnh hiu đọng buồn”. Nỗi niềm đến vậy mà sao không “Chênh chao giọt nắng, quạnh hiu đọng buồn” cho được. Nhưng nếu chỉ có thế thì câu thơ cũng bình thường quá, chỉ là một cách lộng tình vào cảnh thông thường chứ chẳng có gì đáng chú ý. Nhưng ở đây, tác giả đã rất chọn lọc để dùng chữ “đọng buồn” mà theo lẽ “xuôi câu thuận chữ” thì “Chênh chao giọt nắng quạnh hiu GIỌT buồn” nghe mới phải lẽ. Thế nhưng “đọng buồn” quả thật đã làm cho người đọc phải suy tư nhiều hơn về cách dùng chữ của tác giả. Và khi đã thú vị với "đọng buồn" thì lại càng thấm thía với cái buồn lẩn khuất, lắng đọng lại nơi nỗi niềm với bao tháng ngày “chênh chao giọt nắng”!
Chỉ một chữ mà biến khổ thơ tưởng chỉ nhằm tả cảnh thông thường thành một khổ thơ chứa chan ý tình sâu lắng, đầy nâng niu thì quả thật ít thấy trong thơ ca ngày nay vậy!
* Và như để xác tín những cảm nhận trên, tác giả Ngô Văn Cư đã hạ cặp lục bát kết bài thơ khiến bản thân Phiêu Vân tin tưởng cảm nhận đã không đánh lừa mình
“Tiếng chim vườn cũ trong ngần
Lòng ta tím biếc nụ xuân trái mùa.”
Màu tím thường được hiểu là màu biểu trưng cho sự nhớ thương, tan vỡ… Nói chung màu tím chẳng đại diện cho niềm vui. Ấy thế mà sao lại “Tiếng chim vườn cũ trong ngần” như mang đầy tin yêu, tươi đẹp thì liệu có lạ không nhỉ?
Qua 4 câu lục bát trước cũng đã cho người đọc nhận thấy sự trung trinh, chờ đợi của “Trái Mùa” thì cái lạ của câu hỏi trên trở nên thừa bởi trong tâm tư, trong niềm chung thủy của “Trái Mùa” thì: Niềm yêu vẫn trinh nguyên; trong ta vườn xưa vẫn trong ngần tiếng chim là thế. Nhưng than ôi,“Lòng ta tím biếc nụ xuân trái mùa”. “Nụ xuân trái mùa” vào thời điểm “Trời thu khoát áo mùa đông” thì nụ xuân kia liệu có rực rỡ dưới nắng, hay chỉ đón nhận những tàn phai trong tuyết nhuộm, sương phơi; trong bấc lạnh dập vùi?
Thay lời kết: Chỉ bằng 6 câu thơ lục bát mà “Trái Mùa” đã trang trải cả những nỗi niềm thật tinh tế, sâu kín một cách thật trọn vẹn để cho người đọc đủ cảm được tâm tình sâu lắng gửi vào bài thơ.
Để làm được điều đó đòi hỏi người viết phải thật khéo léo chọn và đặt từng con chữ thật “đắc địa” sao cho tạo nên sự súc tích của câu thơ, tứ thơ; sao cho hòa quyện liền lạc cùng tâm tình, ý nghĩa, âm vận... Nếu không thế, bài thơ chắc sẽ phải dài hơn rất nhiều với ngần ấy tâm tư, hình ảnh…
Trong bài thơ “Trái Mùa”, câu 4-5 tác giả Ngô Văn Cư đã dùng phép thông vận khiến âm vận bài thơ không được suông chỗ này. Tuy vậy, tôi cho rằng điều đó cũng không làm ảnh hưởng đến sức biểu cảm súc tích cả về tâm tình lẫn hình ảnh của bài thơ.
Mong sẽ được đọc nhiều bài Thơ thật Thơ như bài thơ “Trái Mùa” của tác giả.
19-02-2010
Phiêu Vân
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 4 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
Trời thu khoát áo mùa đông
Rừng cây đứng ngóng cơn dông trắng chiều
Tường vôi giữ chút xanh rêu
Chênh chao giọt nắng quạnh hiu đọng buồn
Tiếng chim vườn cũ trong ngần
Lòng ta tím biếc nụ xuân trái mùa
Ngô Văn Cư
Bình thơ:
Cảm nhận cùng bài thơ “Trái Mùa” của tác giả Ngô Văn Cư
* Để mở giòng tâm tư ký gửi vào “Trái Mùa”, tác giả Ngô Văn Cư đã mượn cảnh mùa thu héo buồn trong cái lạnh chớm đông:
“Trời thu khoát áo mùa đông
Rừng cây đứng ngóng cơn dông trắng chiều”
“Trời thu khoát áo mùa đông". Phải chăng tác giả muốn dụ ý rằng: Thu vốn đã buồn, nhưng cái buồn của sự đơn côi, tuyệt vọng thì lại càng thêm lạnh lẽo. Cái lạnh lẽo không chỉ bởi khung cảnh, bởi thời tiết thu chớm ngày đông mà còn chính là nỗi niềm đơn lạnh lẽo ngào ngào nơi cõi hồn tác giả.
"Rừng cây đứng ngóng cơn dông trắng chiều”. Tác giả đã vẽ nên một không gian thật trầm lặng nhưng lại chứa đựng bao muộn phiền, sóng nổi tâm tư. Không gian kia chỉ là một liên tưởng được bắt nguồn tự nội tâm tác giả, mà “Rừng Cây” chỉ là một phép nhân cách hóa nội tâm nọ. Thực vậy, dông về cỏ cây hẳn sẽ xác xơ thì lẽ nào “rừng cây” lại ngóng đợi cơn dông về để mà phải xác xơ kia chứ? Ấy thế nhưng với cảm nhận tự nội tâm, trong niềm mong mỏi sâu kín tác giả đã dự cảm một dông tố sẽ về khuấy đảo tâm tư, và “rừng cây” nọ đang nửa mong ngóng, nửa xót xa… Nhưng cho dù là gì đi nữa, từ trong thẳm sâu “rừng cây” vẫn “mong ngóng cơn dông” kia về cho dù biết rằng xác xơ là điều không tránh khỏi.
Quả là một mối ngóng trông đầy tâm trạng lẫn bất trắc! Không có một tâm tình sâu nặng thì chẳng bao giờ ngóng trông như vậy.
Đọc đến đây người đọc càng thấm hơn với lời thơ của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đã được nhạc sỹ Phạm Duy phổ nhạc: “Thà như giọt mưa / vỡ trên tượng đá / thà như giọt mưa / khô trên tượng đá / thà như mưa gió / đến ôm tượng đá / có còn hơn không… có còn hơn không…”
“Trái Mùa” có cách biểu đạt tâm trạng thật nghịch lý nhưng lại đầy tinh tế; sự tinh tế làm xao động tâm tư của những tâm hồn tinh tế!
Mà đúng vậy! Tình cảm nói chung, tình yêu nói riêng chỉ có thể thấu cảm, đồng điệu chứ khó thể dùng lý luận thông thường để lý giải những chuyển biến, những xao động thật mong manh, thật tinh tế đến kỳ ảo kia theo logic thông thường. Một điều đơn giản rằng nếu mọi tâm tư tình cảm đều có thể mang ra để lý luận theo logic thông thường được thì khái niệm “Con Tim” chỉ còn dành cho nền Y Khoa hiện đại làm việc, và chắc rằng ngày nay computer đã biết viết nên những áng văn-thơ đầy xúc cảm thay cho con người. Rất may điều đó đã không xảy ra!
Trái tim con người thường có một logic rất riêng, và bởi chính vì rất riêng nên dù biết rằng đau, biết rằng buồn, biết rằng sẽ xơ xác đến “trắng chiều” nhưng cái “Rừng cây tâm tình” kia vẫn cứ “ngóng cơn dông” về… Có như thế cái tâm tình kia nó mới vừa “Nửa chừng quyến luyến – nửa chừng tái tê” (Phieuvan_Thlangdu) mà vẫn cứ ấp ủ, nặng mang là vậy!
* Chỉ hai câu mở đầu bài thơ với đúng 14 chữ của một cặp Lục bát mà tác giả đã khéo léo mượn cảnh trang trải biết bao tâm tình. Bằng bước mở thật nhuần nhị để rồi tác giả lại nhấn nhá một cặp lục bát tiếp theo như muốn khắc họa rõ nét tâm tư của “Rừng cây đứng ngóng cơn dông trắng chiều” bằng hai câu thơ mà chỉ đọc phớt qua sẽ khó lòng nhận ra rằng tác giả đã chắc chiu từng con chữ để gửi gắm nỗi lòng của bao ngày thắt the da diết.
“Tường vôi giữ chút xanh rêu
Chênh chao giọt nắng quạnh hiu đọng buồn”
“Tường vôi giữ chút xanh rêu”. Hay, hay thật!
“Rêu” trong thi ca thông thường nhằm chỉ chốn/điều hoang phế, vắng người lui tới; ở đây tác giữ dùng “giữ chút xanh rêu” thì tinh tế đến bất ngờ! Nếu tường vôi “PHỦ” hoặc “BÁM” rêu thì đơn giản chỉ là năm tháng trải qua, hoang phế thông thường của sự tất nhiên. Nhưng, “GIỮ” lại là dụ ý ghi khắc, nắm níu, ấp ủ ngày tháng xưa cho dù thời gian phai nhạt, năm tháng rêu phong...
Thật là ân tình, thật là tha thiết!
“Chênh chao giọt nắng quạnh hiu đọng buồn”. Nỗi niềm đến vậy mà sao không “Chênh chao giọt nắng, quạnh hiu đọng buồn” cho được. Nhưng nếu chỉ có thế thì câu thơ cũng bình thường quá, chỉ là một cách lộng tình vào cảnh thông thường chứ chẳng có gì đáng chú ý. Nhưng ở đây, tác giả đã rất chọn lọc để dùng chữ “đọng buồn” mà theo lẽ “xuôi câu thuận chữ” thì “Chênh chao giọt nắng quạnh hiu GIỌT buồn” nghe mới phải lẽ. Thế nhưng “đọng buồn” quả thật đã làm cho người đọc phải suy tư nhiều hơn về cách dùng chữ của tác giả. Và khi đã thú vị với "đọng buồn" thì lại càng thấm thía với cái buồn lẩn khuất, lắng đọng lại nơi nỗi niềm với bao tháng ngày “chênh chao giọt nắng”!
Chỉ một chữ mà biến khổ thơ tưởng chỉ nhằm tả cảnh thông thường thành một khổ thơ chứa chan ý tình sâu lắng, đầy nâng niu thì quả thật ít thấy trong thơ ca ngày nay vậy!
* Và như để xác tín những cảm nhận trên, tác giả Ngô Văn Cư đã hạ cặp lục bát kết bài thơ khiến bản thân Phiêu Vân tin tưởng cảm nhận đã không đánh lừa mình
“Tiếng chim vườn cũ trong ngần
Lòng ta tím biếc nụ xuân trái mùa.”
Màu tím thường được hiểu là màu biểu trưng cho sự nhớ thương, tan vỡ… Nói chung màu tím chẳng đại diện cho niềm vui. Ấy thế mà sao lại “Tiếng chim vườn cũ trong ngần” như mang đầy tin yêu, tươi đẹp thì liệu có lạ không nhỉ?
Qua 4 câu lục bát trước cũng đã cho người đọc nhận thấy sự trung trinh, chờ đợi của “Trái Mùa” thì cái lạ của câu hỏi trên trở nên thừa bởi trong tâm tư, trong niềm chung thủy của “Trái Mùa” thì: Niềm yêu vẫn trinh nguyên; trong ta vườn xưa vẫn trong ngần tiếng chim là thế. Nhưng than ôi,“Lòng ta tím biếc nụ xuân trái mùa”. “Nụ xuân trái mùa” vào thời điểm “Trời thu khoát áo mùa đông” thì nụ xuân kia liệu có rực rỡ dưới nắng, hay chỉ đón nhận những tàn phai trong tuyết nhuộm, sương phơi; trong bấc lạnh dập vùi?
Thay lời kết: Chỉ bằng 6 câu thơ lục bát mà “Trái Mùa” đã trang trải cả những nỗi niềm thật tinh tế, sâu kín một cách thật trọn vẹn để cho người đọc đủ cảm được tâm tình sâu lắng gửi vào bài thơ.
Để làm được điều đó đòi hỏi người viết phải thật khéo léo chọn và đặt từng con chữ thật “đắc địa” sao cho tạo nên sự súc tích của câu thơ, tứ thơ; sao cho hòa quyện liền lạc cùng tâm tình, ý nghĩa, âm vận... Nếu không thế, bài thơ chắc sẽ phải dài hơn rất nhiều với ngần ấy tâm tư, hình ảnh…
Trong bài thơ “Trái Mùa”, câu 4-5 tác giả Ngô Văn Cư đã dùng phép thông vận khiến âm vận bài thơ không được suông chỗ này. Tuy vậy, tôi cho rằng điều đó cũng không làm ảnh hưởng đến sức biểu cảm súc tích cả về tâm tình lẫn hình ảnh của bài thơ.
Mong sẽ được đọc nhiều bài Thơ thật Thơ như bài thơ “Trái Mùa” của tác giả.
19-02-2010
Phiêu Vân
(Giải nhất Bình thơ tháng thứ 4 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
CHIỀU PHAI
Chiều phai, nắng đổ về đâu
Để con sóng nhớ bạc đầu, trào dâng.
Có còn đau khúc sâu nông...
Cái thời chung bắc nhịp lòng sang nhau.
Điệu vần, cung bậc, vàng thau ...
Mấy lần nhỏ lệ chia đau duyên mình.
Còn đâu ngày ấy bóng hình,
Còn đâu ngày ấy ân tình đầy tim!
Giờ thì tăm cá bóng chim,
Hữu duyên thiên lí, chắc tìm ra nhau
Chiều phai, nhặt những ước ao
Thương con sóng cũ dạt dào đêm đêm
Hoa cau gió rụng đầu thềm
Giây trầu nắng héo chiều thêm bẽ bàng.
LÊ MINH DUNG
(Giải nhất thơ Lục Bát bình chọn tháng thứ 5 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
Chiều phai, nắng đổ về đâu
Để con sóng nhớ bạc đầu, trào dâng.
Có còn đau khúc sâu nông...
Cái thời chung bắc nhịp lòng sang nhau.
Điệu vần, cung bậc, vàng thau ...
Mấy lần nhỏ lệ chia đau duyên mình.
Còn đâu ngày ấy bóng hình,
Còn đâu ngày ấy ân tình đầy tim!
Giờ thì tăm cá bóng chim,
Hữu duyên thiên lí, chắc tìm ra nhau
Chiều phai, nhặt những ước ao
Thương con sóng cũ dạt dào đêm đêm
Hoa cau gió rụng đầu thềm
Giây trầu nắng héo chiều thêm bẽ bàng.
LÊ MINH DUNG
(Giải nhất thơ Lục Bát bình chọn tháng thứ 5 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
5. August 2010, 06:28:33 (edited)
CHIẾC LÁ THU PHAI
Về đâu chiếc lá thu phai ?
Chiều rơi lãng đãng, mắt nai mơ màng.
Về đâu sương trắng ngày đông ?
Bao tha thiết, cũng mênh mông theo mùa!
Về đâu ngọn gió chiều xưa ?
Tri ân, tri kỷ cũng thưa tiếng lòng !
Vườn trăng ngập dấu rêu phong
Niềm xưa chan chứa, cõi lòng đầy vơi.
Về đâu ngày với hư vời ?
Chiều phai nắng gió, tơ trời ngại vương.
Thôi về, tìm lá diêu bông
Mặc cho con tạo phiêu bồng nhân gian!
LÊ MINH DUNG
(Giải nhất thơ Lục Bát bình chọn tháng thứ 5 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)
Về đâu chiếc lá thu phai ?
Chiều rơi lãng đãng, mắt nai mơ màng.
Về đâu sương trắng ngày đông ?
Bao tha thiết, cũng mênh mông theo mùa!
Về đâu ngọn gió chiều xưa ?
Tri ân, tri kỷ cũng thưa tiếng lòng !
Vườn trăng ngập dấu rêu phong
Niềm xưa chan chứa, cõi lòng đầy vơi.
Về đâu ngày với hư vời ?
Chiều phai nắng gió, tơ trời ngại vương.
Thôi về, tìm lá diêu bông
Mặc cho con tạo phiêu bồng nhân gian!
LÊ MINH DUNG
(Giải nhất thơ Lục Bát bình chọn tháng thứ 5 tại trang web Văn Nghệ Đất Đứng)