Văn Hóa Các Nước Trên Thế Giới

Thế Giới và Sự Tuyệt Diệu

Subscribe to RSS feed

Văn Hóa Trung Hoa 1

VỀ SỐ PHẬN NHO GIÁO (PHẦN 2)
1. Tồn tại hay không tồn tại? Với Nho giáo, câu hỏi này được đặt ra cách nay hơn 1.000 năm, năm 213-212 TrCN. Lúc đó. Nho giáo phải chịu sự định đoạt nghiệt ngã về sự sống còn của mình trong chính sách " Phần thư khanh Nho" của Nhà Tần. Dù có những nghiên cứu vẫn bênh vực hay biện minh cho lý do ít nhiều xác đáng khiến Tần Thủy Hoàng "xuống tay" thì Nho giáo cũng vẫn phải ghi tên vào lịch sử như một thứ triết học - cai trị cần cảnh giác.
2. "Học thuyết ăn thịt người" là lời lên án không thể nặng hơn của Lỗ Tấn hồi đầu thế kỷ XX khi ông đánh thức văn hóa Trung Hoa về bộ mặt của Nho Giáo. Lúc đó, dưới ảnh hưởng của khắc nhất trong so sánh với văn hóa Phương Tây. Những níu kéo, cản trở của Nho giáo trong xã hội hiện đại được phân tích, phải nói là khó có thể sâu sắc hơn. Những tưởng nho giáo sẽ vĩnh viễn đi vào lịch sử, nhưng không.
3. Ở Trung Quốc đại lục, ngay trong cơ chế mệnh lệnh - hành chính. Khổng tử vẫn tồn tại như một thực thể chính trị đến mức bị đem ra phê phán cùng với lâm Bưu cuối những năm 60 ( thế kỷ XX) trong thời "Cách mạng văn hóa". Với sự kiện này, một lần nữa các di sản văn tự Nho giáo lại bị mất mát. Mộ khổng tử ở Khúc Phụ cũng suýt bị quật lên.
4. Nhưng ở các xã hội Nho giáo khác - Đài Loan và Hồng Kông, Hàn Quốc và Singapore, Nho giáo chẳng những không mất vị thế của mình trong những thập niên công nghiệp hóa, mà ngược lại còn được đánh giá là nhân tố văn hóa tích cực, góp phần làm nên những con hổ mới (NICs/NICs) ở đông á. Các giá trị cần cù, hiếu học, cộng đồng, trách nhiệm, gia đình...đã được nhiều học giả Đông Tây coi là những phẩm chất tốt đẹp mà các nước NICs biết kế thừa và duy trì truyền thống văn hóa Nho giáo.
Từ đây, xu hướng đánh giá tích cực, thậm chí đề cao Nho giáo lại được hồi phục bắt đều từ cuối những năm 80 (thế kỷ XX).
Với người Việt Nam, mặc dù ảnh hưởng của Nho giáo vẫn còn gây nhiều tranh cãi, nhưng PGS. Phan Ngọc cũng đã có một nhận xét đáng chú ý:" Tâm thức là cái không cần học cũng biết. Việt kiều hầu như không biết gì tới Nho giáo, ngoài miệng đả kích Nho giáo kịch liệt, nhưng họ vẫn vươn lên từ những địa vị thấp kém nhất để trở thành người chủ kinh kế, khoa học kỹ thuật chính nhờ truyền thống ham học mà khổng tử đề xướng. Số ngoại kiều ở các nước hết sức đông đảo, nhưng ngoài các nước theo văn hóa này, chỉ thấy người Do Thái là sánh được với họ mà thôi.
5. Bước sang thế kỷ XXI, khi nền kinh tế Trung Quốc vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng cao và ngày một lớn mạnh, ở Trung Quốc đại lục, việc đề cao Khổng Tử và Nho học đột nhiên trở thành thời thượng. Các học giả phương Tây nhận thấy dường như Trung Quốc muốn lấp đầy những thiếu hụt và những khoảng trống về ý thức thế hệ. Có những nghiên cứu còn nói rằng Trung Quốc có ý đồ chuyển ý thức hệ Marx sang Khổng. Ở trong nước, Trung Quốc chủ trương xây dựng một " Xã hội hài hòa", đẩy mạnh tuyên truyền, giảng dạy và quảng bá các trước tác và các ấn phẩm bình luận về khổng tử...văn hóa tiêu dùng cũng đua nhau lạm dụng những biểu tượng Nho giáo. Ở nước ngoài, Trung Quốc xúc tiến xây dựng các " Học Viện Khổng Tử". Học Viện kiểu này được xây dựng đầu tiên tại Seoul vào năm 2004. Đến nay đã có hơn 80 trụ sở xuất hiện và hoạt động ở gần 40 quốc gia. Tại Việt Nam, tháng 4 năm 2009, Thủ tướng chính phủ cũng đã có chủ trương cho phép thí điểm thành lập một Học viện Khổng Tử tại Việt Nam.

Văn Hóa Trung Hoa 1

VỀ SỐ PHẬN CỦA NHO GIÁO (Phần I) Nho giáo là một trong số hiếm hoi các học thuyết chính trị - xã hội có số phận thật đặc biệt trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Đặc biệt ở chỗ, trải qua hàng nghìn năm, đến nay, Nho giáo vẫn là một “học thuyết sống”- còn đang sống, chứ không phải chỉ được trưng bày trong các “bảo tàng” như không ít học thuyết khác. Tuy trường tồn, nhưng số phận của Nho giáo lại “chẳng hề may mắn”, ngược lại, vị thế của Nho giáo rất thăng trầm. Nó thường bị người đời và các chính thể cầm quyền nhìn nhận khá phức tạp. Và do vậy, việc đánh giá vai trò của Nho giáo trong các thời đại cũng luôn diễn ra theo những khuôn thước khác nhau, với các thái độ khác biệt nhau, và thường là đối lập nhau. Sang thế kỷ XXI, Nho giáo vẫn gây tranh cãi ở sức sống và tính lợi hại của nó. Mức độ ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo và sức thu hút của bản thân học thuyết Nho giáo vẫn phụ thuộc một cách đáng ngại vào những quan điểm thế quyền. Điều đó làm rối thêm sự tranh cãi trong nhiều diễn đàn và dường như đang có xu hướng tăng lên cùng với sự trỗi dậy của “con sư tử Trung Hoa” đương đại. Bởi lẽ, ở Trung Quốc ngày nay, đời sống tinh thần xã hội đang có nhu cầu (đến mức đôi khi được gọi là “cơn sốt”) về một học thuyết đủ sâu sắc, có nguồn gốc bản địa, phù hợp hơn với tinh thần trỗi dậy của văn minh Trung Hoa… để làm một thứ sức mạnh mềm (Soft power) nhằm thay thế, lấp chỗ thiếu hụt, quảng bá hoặc làm công cụ giải quyết những vấn đề thuộc khu vực tư tưởng - tinh thần.

Bài 68: Phong Tục Việt Nam - Chọn Ngày, Giờ (Thiên can, địa chi là gì?)

1. Mười thiên can: Theo thứ tự từ 1 đến 10 là:

Giáp(1), ất (2), bính (3), đinh(4), mậu (5) kỷ (6), canh(7), tân (8), nhâm (9), quí (10).
- Số lẻ là dương can (giáp, bính mậu, canh, nhâm)
- Số chẵn là âm (ất, đinh, kỷ, tân, quí)
- Ngày lẻ (dương can) là ngày cương (đối ngoại)
- Ngày chẵn (âm can) là ngày cương (đối nội)
- Những cặp đối xung: Giáp và kỷ, ất và canh, bính và tân, đinh và nhâm, mậu và quí.

2. Mười hai địa chi:

Theo thứ tự từ 1 đến 12 là : Tý (1), sửu (2), dần (3) , mão (4), thìn (5), tỵ (6), ngọ (7), mùi (8), thân (9),dậu (10), tuất (11), hợi (12).
-Số lẻ là dương chi chỉ kết hợp với âm can.
- Ví dụ: Giáp tý, canh ngọ....
- Số chẵn là âm chi chỉ kết hợp với âm can

Ví dụ: Tân sửu, quí mùi...

- Những cặp đối xung: Tý và ngọ, sửu và mùi, dần và thân, mão và dậu, thìn và tuất, tị và hợi (nghĩa là hơn kém nhau 6).

- Tương hợp: có hai loại, nhị hợp và tam hợp.

Nhị hợp:
Tý - sửu, Mão - tuất, Tị - thân, Dần- hợi, Thìn- dậu, Ngọ- mùi
Tam hợp:
Thân - tý - thìn, Dần - ngọ- tuất, Hơi- mão - mùi, Tị -dậu - sửu

Như vậy mỗi chi chỉ có một xung (ví dụ tý xung ngọ), ba hợp (ví dụ tý hợp sửu, tý hợp với thân và thìn)
February 2012
M T W T F S S
January 2012March 2012
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29