TUỘT DỐC

Cái blog đầu đời

Subscribe to RSS feed

THƠ : BẾN NHÀ THỜ

BẾN NHÀ THỜ

Từ nơi ấy: Bến Nhà thờ
Tiếng chuông xưa vẫn gọi chờ sớm mai
Từng hạt ngọc, từng hạt trai
Trong tay lần đọc, chuỗi dài Mân côi
Mẹ đứng đó, môi mĩm cười
Hào quang rực rỡ, sáng đời tối tăm
Con tới đây, bớt giá băng
Đặt lên vai Mẹ trăm năm gánh sầu
Giang tịnh
[IMGCảnh nguyenvanphuong

KÝ TÚC XÁ

KÝ TÚC XÁ PHANXICO NHA TRANG
NHỮNG THÁNG NĂM VƯƠNG VẤN


(Các lớp ở KTX với cha Lữ từ niên khóa 1968 trở về sau)

Tôi còn nhớ như in, ngày ấy, một buổi trưa hè nắng rát da, trên đường phố Nha Trang, một người đi bên cạnh một người, là tôi và Nguyễn ngọc Kính, cùng sánh bước nhễ nhại mồ hôi, cùng hồi hộp lý thú, chẳng ai nói với ai, cùng theo chân hai người dẫn đường: một anh tôi nhiệt huyết, Nguyễn Khiêm Nhượng, cùng bên kia một bà chị chân thành của Nguyễn ngọc Kính, cùng lao nhanh tới một nơi chưa từng đi tới, sau khi rời chuyến xe đò Renault từ bến chợ Tân Bình, Cam Ranh đi về Nha trang, rồi thêm một chuyến Lambro Nha Trang-Đồng đế nữa, để rồi dừng lại một nơi, mà có lẽ chỉ có tôi và Kính sững sờ, lạ lẫm trước một tấm biển hoành tráng, kẻ một dòng chữ lớn màu xanh đậm trên nền trắng: “KÝ TÚC XÁ PHANXICO NHATRANG”, tấm biển cao nghêu hướng về một tấm biển nhỏ bé hơn bên kia đường: “Xưởng Mộc Nam Trung”, trên một đường dốc thoai thoài lát đá dăm pha đất đỏ, dẫn ra Hòn Chồng, Thánh Kinh Thần học Viện, Dòng Lasan và Tu Viện Phanxico. Đó là một buổi trưa mang dấu ấn “thú đau thương” mà tôi chưa hề cảm nghiệm được trong thời niên thiếu của tôi, nó đáng được ghi vào lịch sử đời tôi, vì nó đã mở ra một trang đời mới cho tôi, khi cánh cửa KTX mở rộng đón tôi vào. Một buổi trưa như một cột mốc vĩnh cữu, đã làm biến đổi tâm hồn, biến đổi thể chất, biến đổi cả một con người.
Từ một thằng nhóc, cứ mỗi sáng, gặm củ khoai lang luộc, hay một trái bắp toét, cắp sách đến trường làng Tiểu Học Mến Thánh Giá Tân Bình.Trưa về, dù bụng đói cồn cào, trời nắng đỏ lửa, vẫn cố rảo qua khu nghĩa địa cát nóng, dò bẫy bắt giông. Chiều về, ra đồng chăn bò, cắt cỏ, bắt dế, tìm tổ chim cu, hay chơi khăng , đá kiện…Đêm trăng, rủ nhau chơi trốn tìm, bắn súng bóc, chơi cướp cờ, u mọi…thế mà giờ đây, quần áo chỉnh tề, nai nịch oai phong, khăn gói ra tỉnh học, tự dưng sao mà sướng, mà hãnh diện lắm thay. Ngày ra đi, tôi vừa tròn 12, cái tuổi còn mê chơi hơn mê học. Bị tống vào KTX này, như cái thưở anh tôi ôm ném xuống nước, để tôi tự tập bơi, tôi đã hụt hẫng chơi vơi, uống no tròn những ngụm nước mặn mà nhớ đời, giống như cái hụt hẫng hôm nay: Chới với nhớ nhà da diết, lạc lỏng khôn cùng, lo sợ miên man.
Ngày ấy của đầu năm học 1966, cơ sở KTX còn rất thô sơ, mộc mạc, những dãy nhà thấp bé khiêm nhu, nhìn ra vạt sân đất đỏ đầy sạn, được be bờ bằng tường đá hoa cương, hàng phượng vỹ viền quanh sân, đỏ chói những chùm hoa nở muộn, khoe ra giữa trời trưa, như cố níu kéo mùa hè dài thêm chút nữa, để lũ trẻ còn có thêm những ngày rong chơi thơ thới. Nhưng một hình ảnh đã làm xao động hồn tôi, khi hướng tầm mắt khuất sau bậc đất bên kia sân bóng, trên ngọn đồi um tùm cây xanh cao vút, tu viện Phanxico ẩn hiện,trầm mặc, bí ẩn, thiêng liêng, mà thưở ấy tôi cứ mường tượng như một tòa lâu đài huyền bí trong truyện cổ Âu Châu. Rồi ước mong sao khi lớn lên, biết đâu tôi lại được vinh phúc khoác áo chùng nâu, sống trong tòa lâu đài bí ẩn ấy. Dãy phượng rực rỡ này, và cái lâu đài thanh tịnh kia, là khúc dạo đầu, và là phần chung kết trong trí tưởng tượng dạt dào của tôi thưở ấy.
NHỮNG VỊ CHA, THẦY ĐÁNG KÍNH
Tôi sớm nguôi ngoai căn bệnh nhớ nhà, khi những người thay thế bo mạ tôi dưỡng dục nơi này, các người đã có tấm lòng yêu thương, rộng lượng ngoài dự tưởng của tôi: Người tôi kính trọng và biết ơn đầu tiên là Cha Daniel Nguyễn Thăng Cao, giám đốc KTX. Ngoài bộ áo chùng nâu,cặp kiếng cận trễ xuống đầu mũi, cùng cái giọng Huế nằng nặng, thân quen, thì nụ cười đôn hậu dưới vầng trán rộng nguy nga, là những thông điệp phơi phới trấn an nỗi lo lắng của tôi, xoa dịu vết đau nhớ nhà của tôi. Ở cha, tôi có thể tìm thấy cái phong thái nghiêm nghị của một đấng bề trên, cái bản chất cứng cáp của một người làm bọ mẫu mực, và bản tính rộng lượng, chân phương của một nhà giáo dục tâm huyết.Chính vì thế mà có bao giờ thấy đứa nào ngỗ nghịch bị đòn roi đâu. Nếu lỗi lầm ư, cha sắc mặt nghiêm nghị cảnh cáo, và tiếng la rầy thường ôn tồn, nhân ái. Một lối giáo dục“giơ cao đánh sẻ” mà vẫn có hiệu quả “răn đe” ngăn chận sai phạm. Cái cốt lõi thúc đẩy học trò phục thiện nhanh chóng nhờ lòng nhân hậu, yêu thương ở cha mang đến. Tôi sớm nhận ra tính đơn sơ, khó nghèo nơi cha, khi vinh dự được cha chỉ định giao nhiệm vụ, là cứ sau giờ chơi ban chiều, bê một thau nước lạnh và một chiếc khăn mặt tới trước thềm cửa, nơi căn phòng cha ở, thuộc dãy nhà nằm gần cổng chính, để cha rửa ráy tại đó, vì nơi ở của cha vẫn chưa có lavabo, một nhu cầu tối thiểu đối với một người bình thường trung lưu thời đó, thế mà ở vai trò giám đốc, cha vẫn chưa có được nhu cầu này. Từ đó tôi suy ra cái nghèo của dòng, và dần hiểu được di sản tinh thần nghèo khó của Cha Thánh, mà chấp nhận hoàn cảnh khó khăn ban đầu,khi mỗi buổi sáng, chúng tôi xếp hàng, chờ múc nước từ giếng lên, đổ vào chiếc thau nhỏ của từng người mà đánh răng, rửa mặt. Cái nghèo cón được thấy ở gian phòng học, mà bình thường là để học hành, nhưng thoáng chốc tời giờ lễ, bức màn trên bục giảng được kéo ra, để lộ một bàn thờ phủ khăn trắng trang nghiệm. Cũng năm đầu tiên này, tôi được vinh dự qua sự chỉ định của thầy Chín lụi, phụ trách dọn đồ lễ. Cũng thấy hãnh diện lắm thay.

(Lớp 11 năm học 72-73 ở ĐTV Nha Trang, với Cha Tỉnh, Cha Cao, Cha Lư và thầy Vui)
Đằng sau bóng dáng người cha thân thương ấy, chúng tôi có diễm phúc gần gủi một người cha khác rất đỗi “phóng khoáng”, đó là cha Damien Đoàn Văn Lữ, giám thị KTX. Vừa du học từ Pháp về, cha liền xắn tay áo, xông xáo vật lộn với bao công việc gian nan ban đầu, trước mắt là chung tay với cha giám đốc, để dắt dìu đàn con thơ bé đến từ muôn phương. Có đến 40 thằng nhóc, họ từ Nha trang, Ban Mê thuộc, Đà lạt, Phan Thiết, Bình Tuy, Long Khánh, Biên Hòa, Sài gòn,Cam Ranh…đến. Họ từ lớp nhất lên (tương đương lớp 5 bây giờ) hoặc từ đệ thất xuống, đều vào cùng lớp đệ thất (tương đương lớp 6 bây giờ) của KTX trong năm đầu tiên khai trương. Ngoài tham vọng truyền tải nỗi đam mê âm nhạc dân ca, cha còn là kho văn hóa cung cấp nhiều kiến thức phổ thông rất hữu ích cho chúng tôi. Muốn biết các tháng trong năm có bao nhiêu ngày, hãy thuộc lòng bài thơ: “Chạp, giêng, năm, ba, bảy, tám, mười, ấy là bảy tháng ba mươi mốt ngày, tháng hai hăm chin là may, còn bao tháng khác đều ngày ba mươi”. Thưở ấy, KTX có chương trình học võ Tae Kwon Do, do một số võ sĩ Đại hàn vào dạy, thế là chúng tôi được cha tập một câu chào: “a nhong a xi mi ni cà…”, hoặc một bài ca truyền thống Triều Tiên, Bản “Arirang”. Nhờ cha, chúng tôi được biết đến trường ca “Mẹ Trùng Dương”, Bà Mẹ Quê, Trống cơm, Đèn cù,…Tôi cũng được vinh dự cùng với Đỗ đình Lễ solo hoặc song ca trong các chương trình văn nghệ cây nhà lá vườn. Sau mỗi lần tập, chúng tôi được cha thưởng kẹo “nougat” tuyệt vời, kể cả kẹo chocolat quý hiếm, mấy lũ bạn khác có mà thèm nhỏ gĩai. Chúng tôi cũng được tham gia sinh hoạt đoàn thể trong phong trào “tiền đạo”, một hình thức tương tự như hướng đạo do các frère Lasan phụ trách, mà cho tới nay, chúng tôi vẫn không quên hình ảnh vị huynh trưởng Hướng đạo đạo mạo, hiền lành, mang tên Frere Nguyễn Trọng Nhàn. Không thể nào quên, những chiều thứ năm, một đoàn rồng rắn chúng tôi theo chân cha Lữ, tiến ra Bãi Dương ngụp lặn sướng đời. Vì mệt, vì đói, ai nấy đều“tắt đài” cố lết về nhà cho mau, để giải quyết cái bao tử đang “lên đồng”.Cha còn cho chúng tôi xem những cuốn phim câm, mà chủ yếu được thể hiện bằng kỹ thuật máy chiếu đèn tungstein công suất cao. Những tấm phim nhựa hình vuông,lần lượt được lắp vào, lôi ra…thế mà những câu chuyện Công Chúa Đội Đèn, Công Chúa Bạch Tuyết, Ali Baba và 40 tên cướp…hiện lên trên tấm màn trắng, được cha thuyết minh rành rẽ, hấp dẫn.. Đôi lúc, cha là hiện thân của một người mẹ, vỗ về từng đứa con xa nhà, những viên thuốc Aspirin cho vài đứa cảm cúm, những chai thuốc nước trị bao tử cho đứa ôm bụng đau, một lọ dầu “con sóc” bôi lên người cho những thằng mới té bầm mặt ngoài sân bóng…Thưở ấy tôi cũng thường bị đau tức vùng bụng, thế là được cha cho uống một viên thuốc tiêu tròn tròn màu trắng, bỏ vào ly nước lọc sủi bọt.
Chúng tôi có những kỷ niệm đẹp ở KTX là nhờ cái thú ghi hình của cha. Đến giờ tôi vẫn không hiểu lúc ấy, cha lấy tiền đâu ra mà cứ chụp hoài, trong khi chúng tôi cứ tha hồ đứng làm dáng. Cứ chụp hoài mà chẳng thấy cha bắt trả tiền.Đi đâu cha cũng mang theo máy ảnh, cha chụp lia lịa, từng cá nhân, từng nhóm, từng lớp, từng cảnh trí…Cha không nề hà, không phân biệt một ai. Cha chụp vi thương lũ chúng tôi, vì nghĩ đến tương lai mà hoài niệm, vì sợ mất đi những giây phút quý báu hiện tại.
Vào đây, tuyệt đối không mang tiền riêng, nếu có chút đỉnh thì buộc phải gửi cho thầy Marcel Hoàng Văn Khoát, quản lý KTX, giữ dùm. Thầy là người tốt lành, đảm đang, phúc hậu như một hiền mẫu. Những nhu yếu phẩm, dụng cụ học sinh, thậm chí bánh kẹo…luôn có sẵn trong phòng thầy, chẳng khác nào một quầy tạp hóa mini. Thứ bảy, chủ nhật, hoặc giờ chơi, nếu thèm ngọt, hãy ghé vào căn phòng này, vốn nằm ở dãy nhà sát cổng trường, chọn ngay một phong chocolat, một tút kẹo bạc hà, thậm chí cả cái ống hít chống cảm cúm, sổ mũi…có thể ký nợ, nếu trong “tài khoản” đã hết, hoặc còn tiền thì thoải mái mà mua, nhưng cũng coi chừng, thầy có quyển “stop”, nếu ăn quá nhiều bánh kẹo, hay tiêu xài vượt quá tiêu chuẩn. Phần nhiều các dụng cụ học sinh đều được thầy mua về cung cấp cho chúng tôi, nói bán thì hoàn toàn không đúng, vì xem như thầy bỏ công đi mua dùm mà không lời lãi xu nào. Những thứ nằm ngoài danh sách , nếu có nhu cầu, thầy cũng sẽ mua giúp. Việc làm này nhằm hạn chế tình trạng xin phép ra ngoài mua vật dụng. Thầy có chiếc xe Lambro dùng để đi chợ, chúng tôi rất vinh dự khi có dịp “công tác” ra ngoài: Có thể là đi khuân vác hàng hóa gì đó lên xe, quá giang theo cho vui hoặc nhân cơ hội ấy mà đi bát phố…
Không lâu sau, cha giám đốc chuyển đến ở căn phòng khác gần nhà cơm, phòng củ giao lại chủ nhân mới là cha Clément Trần Thế Minh, thế là từ ngày ấy, cứ vào giờ chơi, hay sau giờ học, chúng tôi lại thấy hình bóng cha thướt tha cùng cây vĩ cầm réo rắt, réo rắt. Lũ chúng tôi thưở ấy còn thô thiễn trong cái nhìn về âm nhạc, nên khi nghe cha kéo violon, chẳng một ai lấy làm thích thú hay tò mò đến xem. Thế mà tôi lại vinh dự, có đôi lần tôi xách cây ghi ta được cùng song tấu với cha, dù tiếng đàn của tôi lúc ấy đang trong thời kỳ tập tễnh với cuốn “Tự Học Tây Ban Cầm” của Lan Đài, một món quà đặc biệt của thầy Được (hình như cùng lớp với cha Đinh Huỳnh Hoa) tặng làm kỷ vật trước khi thầy xách vali xuất tu. Cha Clément là người khá nóng tính nhưng rất điêu luyện với ngón đàn armonium. Những buổi lễ trọng ở Tu Viện Phanxico, bao giờ cũng có phần biểu diễn độc tấu tuyệt vời của cha. Chúng tôi cũng có dịp học nhạc với cha. Một lần hú vía khi cha bất ngờ nhảy phóc lên bàn học, quất túi bụi vào một tay lơ đễnh nào đó trong giờ học nhạc của lớp đệ lục (lớp 7 bây giờ) năm 1967, từ đó cả lớp nơm nớp sợ tới giờ nhạc của cha, vì đa phần thưở ấy, không hứng khởi học nhạc,khiến cha phải nổi cơn thịnh nộ. Học vẽ thì có cha Gerard Trần Anh Thái, một người gầy ốm, dịu dàng thục nữ, nhưng thông minh,đĩnh đạc, cha đã truyền lại cho tôi nhiều kỹ năng hội họa tuyệt vời, nhiều bài học cơ bản đến giờ tôi vẫn còn nhớ mồn một.Chúng tôi còn được học phụ đạo tiếng Pháp với cha Mitchel Trần Thế Luân, một người tiếng tăm trong phong trào cấp tiến thời ấy.

Năm đệ ngũ là năm có nhiều đổi thay, trong đó còn phải kể đến sự chuyển đi Cù Lao Giêng của Cha Lữ, và sự thay thế của Cha Charles Phan Châu Lý, phó giám đốc, bên cạnh nhiệm vụ giám thị mới được thầy Gerard Liên đảm trách. Cũng không quên nhắc lại công lao to lớn của Cha Cao, dường như suốt năm đệ lục, cha đã vất vả ngược xuôi, nhờ các cơ quan từ thiện của Mỹ hỗ trợ xây nên hai dãy nhà lầu khang trang kiến cố, để chúng tôi khỏi phải gồng mình kéo nước từ giếng lên, hay phải tắm tập thể ngoài trời bằng hệ thống vòi sen, hay phải đi toilette rất "cổ điển"ở dãy phòng sát hàng rào thưở trước. Cũng nhờ mối quan hệ với cơ quan từ thiện, đời sống tinh thần và vật chất được nâng cao: Đó là vui sướng được nhận quà trong các dịp lễ Noel, Trung Thu, tôi còn nhớ món quà đó là những chiếc túi vải có giây rút, mà trong đó hên xui là sách vở, bút mực, đồ chơi , bánh kẹo…Chúng tôi có sữa tươi uống hắng ngày, nhưng do không quen uống, vả lại không ngọt nên ai nấy không them ngó, rồi bữa gouter lại có sữa chocolat hộp thiếc, hay chuối và hương, cũng do không quen uống nhạt, nên bọn nhóc chúng tôi âm thầm đưa về cất vào vali,chờ ngày về pha thêm đường uống. Âm mưu này bị bại lộ, thế là cha giám đốc mở chiến dịch thu hồi để tiêu hủy, vì quá hạn dung.
BẠN BÈ THÂN THƯƠNG
Năm đệ Thất mới vào, bạn bè đông lắm, như Dương dê, Khanh cao bồi già, Hải toét…thậm chí có cả học sinh lương dân. Rồi từng năm vơi dần đi số lượng. Một số qua năm đệ lục được tuyển vào Chủng viện Phanxico Thủ Đức, trong đó có Long Vân (nhà báo Sài gòn), Ngọc Kính (Lm giám đốc Học Viện Phanxico TĐ, Duy Lam (Lm dòng Phanxico), Văn Vàng (?), Ngọc Sơn (?), Huy Mỹ (tu sĩ Phanxico)…Một số khác như Đình Diệm, Công Thanh, Ngọc Mai, Văn Dương… chuyển đến trường tu khác, hoặc ra trường đời, mỗi người mỗi nơi không thể nào biết. Năm đệ lục, KTX đón nhận thêm một số học sinh mới, như Bùi Thanh Tâm, Mai văn Lý, Bạch Duy Nam, Nguyễn viết Đoàn…Qua năm đệ ngũ thì quân số còn lại rất ít, con số này là những học sinh có “triễn vọng” đi tu, nên định hướng của ban giám đốc là chờ xem “năm tới chúng có trổ bông kết trái tốt không”. Nếu chờ mãi mà vẫn cứ thất vọng thì “chặt đi cho vào lửa”, để chúng phải nghiến răng khổ cực ngoài đời. Lúc này chúng tôi được quyền đạp xe đạp, đến trường Lasan Bá Ninh học. Cũng là dịp thỏa chí tang bồng, mà đồng thời cũng phải học hành cạnh tranh quyết liệt. Trường Bá Ninh rất kỷ luật, đi trễ 3 lần không lý do sẽ bị đuổi, học kém cũng cho số dze, đánh lộn thì có ngay giấy mời chuyển chỗ học, nơi đến chỉ có thể là trường Kim Yến Nha Trang. Nhờ kỷ luật thép mà học sinh Bá Ninh giỏi giang, chúng tôi cũng hưởng được vinh dự này. Qua năm đệ Tứ, ngành Giáo dục có nhiều sửa đổi, lớp đệ tứ trở thành lớp 10, đồng thời cũng là năm bắt đầu học Tân Toán học, chúng tôi cũng tiếp tục học ở Bá Ninh, do sư huynh Nguyễn văn Tốt làm hiệu trưởng, giám thị là Frere Juvenal, mặt mày lúc nào cũng lạnh lùng như cảnh sát hình sự, để lũ quỹ học trò phải kiêng dè, mà tuân giữ kỷ luật. Như vậy năm này chúng tôi chỉ còn “sống sót” mấy mạng, trong đó có tôi, Bùi Thanh Tâm,(nay ở Mỹ?) Nguyễn ngọc Sáng (nay ở Bỉ), Bạch Duy Nam,(ở Tân Bình), Hùng con (ở nước ngoài), Mai văn Lý (Ban Mê Thuột), Nguyễn ngọc Toàn (Toàn gà mổ-ở Mỹ), Đỗ đình Lễ (mất tích).

(Ảnh chụp chung 3 lớp ở ĐTV Nha Trang năm 72-73), cùng với Cha Cao,Cha Lư, Cha Tỉnh và thầy Vui)
Qua năm 11, bị rớt thêm vài “con” nữa, chỉ còn tôi, Bùi Thanh Tâm, Hùng con, Ngọc Sáng, Bạch Duy Nam, Nguyễn viết Đoàn (nay là Lm ở Đà Lạt), Nguyễn Trí (ở nước ngoài), Mai Văn Lý lên Đệ Tử Viện Phanxico trên đồi , cùng học chung lớp 11 ở trường Hưng Đạo, với Bá Huệ, Nguyễn văn Hậu, Hoàng Sơn (từ Cù Lao Giêng), Nguyễn ngọc Châu Lang (từ CV Thủ Đức)…Cha Pascal Tỉnh, giám đốc mô hình Đệ Tử Viện đầu tiên của dòng Phanxico Việt Nam, luôn là người mực thước, rõ ràng. Cha rất thích âm nhạc, phục trách giờ tiếng Pháp cho chúng tôi, bên cạnh cha có sự trợ giúp của thầy Tạ đình Vui, giám thị, cha Vincent Hoàng văn Lư, giám học. ĐTV lúc đó gồm 3 lớp: 10.11.12. Ngoài lớp tôi nói trên, lớp 10 gồm những đệ tử đến từ Cù Lao Giêng (như Đình Pháp, Nguyễn Khánh, Đậu Lệ, Huynh, Quế (Lm)…, lớp 12 từ CV Thủ Đức có anh Bài, anh Hải (lm), anh Bạch, anh Hùng, anh Kỳ (lm)…
Sau năm 11 ở ĐTV, tôi và Bùi Thanh Tâm từ giã mái trưởng dòng Phanxico, ra đi mỗi người mỗi ngã. Dù có đi đâu, hay làm gì, tôi vẫn luôn nhớ về Cha, Thầy, bạn cũ, trường xưa. Những năm tháng đầy vơi ấy đã tràn ngập ký ức tôi những kỷ niệm, những hồng ân, những nỗi niềm yêu dấu, và tình bạn thắm thiết, nguyên tuyền.
Cùng đi với nhau ngày xưa mà nay :Nguyễn ngọc Kính là Linh mục Giám đốc Học Viện Phanxico Thủ Đức, còn tôi là “giám đốc” một trường đời với một vợ bốn con. Không biết, sắp tới Cha Kính có lên chức Đức Ông không, với tôi, chức này đã được “rửa” từ 4 năm nay rồi.
Mặc dù ra đi mỗi người mỗi phương, làm mỗi người mỗi việc, nhưng tất cả đều có mặt trong mái nhà chung yêu thương của Chúa, cùng hưởng ân đức thiêng liêng của Cha Thánh, và rồi cũng lại trở thành những thành viên đơn sơ, chân thành, nhân ái, đoàn kết…trong đại gia đình Phan sinh Việt Nam.


Sài gòn, ngày 28.8.2010

NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

BAN NHẠC LABIKA VÀ VĂN NGHỆ LÂM BÍCH

ĐÃ TỪNG CÓ MỘT BAN NHẠC
MANG TÊN LABIKA



ẢNH: (Hàng dưới) Thứ nùng, Cường Dzé, Phương C, Hải Hùng; (Hàng trên): Nguyễn Thiết, Tâm noir

BỐI CẢNH RA ĐỜI
Những anh em nào từng có mặt trong niên học 1973-1974 ở Lâm Bích có lẽ không quên trận bão lụt khủng khiếp xảy ra ở Miền Trung, trong đó kể cả tỉnh Khánh Hoà, đã gây thiệt hại rất lớn cho nhân mạng và tài sản, thậm chí có cả một ngôi làng chài bị cuốn trôi. Cả Miền Nam bàng hoàng. Việc trước mắt là bắt tay vào viêc cứu trợ khẩn cấp Miền Trung. Các cơ quan, các tổ chức, các phong trào, các cá nhân , các tập thể…tuỳ theo phương thế của mình đứng ra vận động , quyên góp tiền bạc, thực phẩm, nhu yếu phẩm…để nhanh chóng chuyển ra Miền Trung.
Chủng Viện Lâm Bích,mặc dù nhà bị tốc mái, Nội phải thân hành ra đứng dưới mưa bão ở cầu thang để hướng dẫn anh em đến nơi an toàn, đã không thể dửng dưng an cư tự tại, buộc phải hạ sơn hành hiệp. Phương thế của Lâm Bích là thực hiện một chương trình Hội Chợ Từ Thiện tại trường Lasan Bá Ninh.Có lẽ chính Nội và Ban Giám Đốc đã đề xuất hoạt động này. Đây là một chương trình được phối hợp tổ chức khá xôm tụ giữa chủng viên Lâm Bích và Liên Trường Công Giáo Nha Trang. Trong đó có nhiều khu vực, nhiều gian hàng trò chơi giải trí, như ném lon, bàn tay ngọc, quay số có thưởng (của chuyên gia điện tử Hồ Kim Tân), quán cà phê…đã được ra mắt công chúng, và dĩ nhiên có cả một thính phòng trình diễn âm nhạc. Ban nhạc Lâm Bích 73 vừa mới cắt rốn thì bị đặt vào tình thế triệt buộc là phải đóng vai trò gia chủ của phần trình diễn này.

BAN NHẠC ĐƯỢC THÀNH LẬP CHỚP NHOÁNG
Đầu năm học 1973, có lẽ theo thông lệ hằng năm, nhóm ban nhạc của năm cũ lại phải cất công tìm kiếm nhạc công, để bổ sung và hình thành ban nhạc mới. Lần này cuộc tìm kiếm diễn ra cấp tốc, sau một buổi cơm tối còn khá bỡ ngỡ của những gã “tân binh”chưa quen mùi cơm hấp ép chặt trong chiếc nồi 4 người ăn. Khung cảnh nơi diễn ra cuộc thi tuyển là một căn phòng kế bên nhà cơm, (có thể là phòng tập Judo sau này). Nhiều anh em đang xúm quanh một số tay guitar biểu diễn ngón đàn của mình, tiếng trống cũng dồn dập như ngày hội. Tôi liền tìm đến và thấy danh sách ghi danh tuyển lựa “tài năng văn nghệ” đã khá nhiều, tôi cũng đăng ký. Không còn nhớ hôm đó ai là người đứng ra tuyển lựa nhạc công, có thể đó là anh Nguyễn Thiết chăng, vì khi tôi mới đến làm thủ tục nhập chủng viện, thì anh Nguyễn Thiết dường như đã có mặt rất sớm để phụ trách nhận chủng sinh mới. Anh vốn là tay keyboard organ. Sau ngón đàn lã lướt một bản classic số 14 của Carulli, cộng thêm một số khúc daọ đầu của các tiết tấu Fox Trox, Valse, Tango, Slowrock…hoà nhịp cùng tiếng trống dồn dập, tôi đã đủ điểm chuẩn để đựơc tuyển chọn vào ban nhạc Chủng Viện.
Thời gian chuẩn bị cho hội chợ vô cùng ít ỏi, khoảng 2 tuần để vào cuộc. Những câu hỏi hóc búa dành cho ban nhạc mới thành hình được đặt ra. Làm thế nào đây, khi mà thời gian chuẩn bị ngắn ngủi như thế, có thể đủ kịp để thuộc nằm lòng ít nhất 10 ca khúc hay không ? Thậm chí không cần nghĩ đến sẽ hay hoặc dở, miễn là phải có số bài tủ cần thiết để đủ khí thế xông trận, thi thố tài năng với những bậc “lão làng” như Bluesky, Yellowstone, Blackbird…trên sàn diễn “quốc tế”ở Nha Trang?”
Vì cứ hằng năm ban nhạc LB lại phải tái lập , bổ sung để ra mắt một ban nhạc mới. Chẳng hạn như tay guitar Châu, Tân Bình, CR.xúât năm 1972, hay hàng loạt nhạc công khác ra đi năm 1973, như Cường Dzé, Tâm Noir, Thứ Nùng, Hùng Lùn… Do đó vốn liếng ca khúc sẽ bị “thiếu hụt” là điều đương nhiên. Nhưng nếu dùng lại bài cũ chưa chắc là thích hợp cho một sàn diễn mới, bởi lâu nay ban nhạc LB không nằm ngoài mục đích chính, là phục vụ sinh hoạt văn nghệ truyền thống cây nhà lá vườn, chứ không hề nghĩ đến chính sách đem chuông đi đánh xứ người, để biết mình biết ta mà trăm trận trăm thắng, thành thử ban nhạc LB vẫn giữ mãi hình hài gà què ăn quẩn cối xay. Đúng trước tình thế bắt buộc phải ra khơi, lần này ban nhạc LB phải thoát ra khỏi ám ảnh nhà quê đó, để xuống phố vào đời, đúng theo tình thần nhất quán của LB, là vượt ra khỏi bốn bức tường cố hữu của nhà tu để đến với tha nhân qua các sinh hoạt đời thường: y tế, giáo dục, báo chí, đoàn thể, mục vụ,..mà trong đó văn nghệ là phương thế phổ cập quần chúng khá hiệu quả.

SẴN SÀNG NHẬP CUỘC
Trước tiên phải cám ơn Má Thạnh đã hà hơi tiếp sức cho ban nhạc bằng cách tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho ban, chẳng hạn Má đã cung cấp một chiếc máy cassette hiệu Sony riêng để anh em thay nhau nghe nhạc liên tục khi rảnh, và từ đó rút ra được kỹ thuật chơi riêng cho mình, Má rất nuông chiều ban nhạc, có thể cho phá rào các giờ qui định, để tăng cường thời gian tập dợt.Vào các giờ chiều, trong khi tất cả anh em khác mải lo việc dọn dẹp vệ sinh trong nhà trường, thì anh em ban nhạc một mình một cõi inh ỏi đàn ca xướng hát, thoải mái tập dợt tuỳ hứng, tuỳ chọn bản nhạc mà không bị kiểm duyệt, nên nhiều bản nhạc vàng đã lọt lưới để lên sàn diễn. Dầu sao mình cũng sắp phục vụ khán giả ngoài đời mà ! Riêng nhạc cụ, chủng viện đã có sẵn 4 cây guitar điện, một dàn trống mới tinh do Má Thạnh tặng, một dàn âm ly đèn công suất lớn, dàn loa 3 thùng, thùng loa bass gồm 6 loa cỡ đường kính 20cm, hai thùng loa solo mỗi cái 3 loa 20 cm. Nhân dịp Hội Chợ, Má Thạnh tăng cường mua thêm một echo amply loại xịn, 2 micro sensible và một micro sans file. Một nhạc cụ đã làm nên “đình đám” cho Labika, là chiếc organ mới toanh chưa ai có ở Nha trang, TGM đã nhập về 2 cái , một cho LB và một cho Sao Biển, (với giá 650.000 đVNCH/một cái, bây giờ trị giá tương đương 22 lượng vàng SJC!). Việc vận chuyển nhạc cụ và nhạc công đã có chiếc Ford 12 chỗ, đời mới, do bác tài Trịnh Hoà Đào đảm nhiệm.

HỘI CHỢ CỨU TRỢ ĐÃ KHAI SINH LABIKA
Hội Chợ đã rình rang diễn ra 3 ngày, cả khuôn viên trường Bá Ninh lúc nào cũng đông đúc kẻ vào người ra. Nơi ồn ào náo nhiệt nhất trong khuôn viên là phòng Văn Nghệ, nơi ban nhạc LB đã trở thành cậu bé Labika vừa mới ra ràng cũng đã có dịp ngồi chung mâm với nhiều ban nhạc lão làng ở Nha Trang, để thi thố tài năng cho bao người chen chân vào thưởng thức. Và tình hình càng trở nên hấp dẫn hơn khi nghe tin có ca sĩ từ Sài gòn đến tham gia trình diễn. Nhưng rút cục cậu bé Labika có phải nhờ lộc Trời mà bỗng nhiên lớn nhanh như Phù Đổng Thiên vương, đã tả xung hữu đột với hơn 20 ca khúc thịnh hành, cộng với sự hỗ trợ của phương tiện hiện đại và một phong cách trình diễn lạ mắt, đã bứt phá ngoạn mục ngay từ phút khởi đầu, và tiếp tục duy trì đẳng cấp ngang ngửa với các ban nhạc kỳ cựu, để khán giả một phen không khỏi nuối tiếc muốn nghe thêm nữa, và nghe mãi cũng đành phải chờ một show khác, bởi vì mỗi show diễn chỉ kéo dài 1 tiếng. Mỗi vé vào cửa chỉ có giá trị một show, nghỉ năm, mười phút rồi tiếp tục show kế tiếp. Tuy nhiên cũng phải cám ơn những ban nhạc “đồng nghiệp” lão làng, đã hỗ trợ tham gia chương trình một cách tích cực để chủ gia không bị đuối, vì không thể một mình bao sân liên tục suốt ba ngày được. Tuy dù mệt nhoài, nhưng lúc nào anh em cũng phấn khởi, vì sự thành công trên sân khấu đã làm cho tất cả anh em quên hết nhọc nhằn.
Labika thành công ở Hội Chợ phải kể đến những đặc điểm trổi vượt sau:
1.Có số vốn “tủ” hơn 20 bài: Tiêu biểu như Beautiful SundayNo Milk Today, Season In The Sun, Oyé Comova, Imagine, Yesterday, Love Story…; những ca khúc Pháp đang thịnh hành như Et pourtant, Donna Donna, Je T’aime, Adieu Jolie Candy, L’amour C’est Pour Rien, một số ca khúc của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang như Tôi Muốn, Yêu Người Yêu Đời, Mặt Trời Đen…
2.Phần đệm và solo nổi bật hơn nhờ âm thanh réo rắt của tiếng Organ do anh Nguyễn Thiết đảm trách. Nhạc cụ này các ban nhạc khác không có.
3.Dàn trống LB xịn nhất, được dùng suốt chương trình và dùng chung cho các ban nhạc khác.
4.Tất cả thành viên trong ban trong khi cầm đàn, giữ trống mà vẫn cùng hát, cùng hoà bè, cùng phụ hoạ với những ca khúc hào hứng như Beautiful sunday, Oyé Comova…và phong cách biểu diễn cũng khác. Toàn ban có thể nhún nhảy theo nhạc khiến cho cả hội trường càng thêm phấn chấn, một hình thức trình diễn phóng khoáng mà giới nhà tu thường vẫn còn xa lạ vào thời đó.
5.Một điểm nổi bật mà ban nhạc thừa hưởng là phần xướng ngôn viên (nay gọi là MC) do anh ĐàoVăn Hoàng đảm trách, với chất giọng trầm ấm, gợi cảm, Đào Hoàng đã đưa chương trình âm nhạc trở nên trang trọng, cuốn hút và hào hứng hơn, và cũng không quên là phần âm thanh dùng để giới thiệu và hát đã đựơc “nâng cấp” nhờ một loại amply hiện đại do Lasan cung cấp khiến cho tiếng hát và lời giới thiệu của MC trở nên hay hơn và “sang” hơn.

ĐIỂM QUA CÁC THÀNH VIÊN BAN NHẠC LABIKA NĂM 1973
Ngoại trừ Nguyễn Thiết(lớp 13) và Trần Hải Hùng (10), các thành viên còn lại của ban nhạc có tên dưới đây cho thấy đều đang vào lớp 12, tức là năm thi tú tài IBM đầu tiên và cuối cùng của chế độ cũ. Mới đầu ai cũng nghĩ chuyện đàn đúm và xướng ca vô loài chỉ để mua vui cho tàn trống canh mà thôi. Nhưng rồi nghĩ thế mà không phải thế. Chính thời thế của nạn lụt đã tạo ra anh hùng cho ban nhạc LB vừa mới khai sanh. Labika như một dấu ấn khó phai bên cạnh như những dấu ấn cho người Nha trang một thời không quên như Mai hoa Công Chúa, Thành Cát Tư Hãn, hay còn cả một Tóc Mây đang chờ phía trước nữa. Dẫu có bận rộn với thi cử, hay nợ nần với một chương trình hội chợ nhân đạo, anh em ban nhạc Labika lớp 12 vẫn hoàn thành mỹ mãn bài thi trên sàn diễn và cuối năm vẫn có tên đầy đủ trên bảng vàng. Đó mới là hồ sơ “đỏ” nhất mà anh em LB 12 nói chung và Labika nói riêng lấy làm tự hào:
Một Nguyễn Thiết (lớp 13), người dong dỏng cao, lanh lợi, tháo vát, cặp mắt khá ấn tượng, luôn có mặt “trên từng cây số” ngay từ những ngày đầu chưa nhập học ở Lâm Bích của niên khoá 73-74, chuyên ôm keyboard của nhà nguyện TGM và dĩ nhiên kiêm luôn keyboard Organ ban nhạc Labika. Oui Devant Dieu dạo ấy nếu không có tiếng Organ của NguyễnThiết thì bản nhạc này sẽ nhạt nhẽo biết mấy.
Một Nguyễn Tâm,(12B), biệt danh “Tâm Noir” có thể nói là cả LB không ai không biết. Nếu quên thì chỉ cần thấy một gã cao gầy, mắt sáng, dí dỏm, mái tóc bồng bềnh phiêu bạt giang hồ tứ chiến, làn da đen sạm thì đó là Tâm Noir, gã lãng tử đến từ xứ sở Chăm, nhưng không phải người Chăm, mà là Kinh 100%. Chuyên trị guitar accord, tay trống thâm niên, xuất thân từ “lò” trống của Má Thạnh , “tu nghiệp” với Cường Dzé, hát bè rất chuẩn, nhớ lời rất mau và đầu óc luôn luôn năng động, sáng tạo.
Một Nguyễn Văn Phương (12C) , người đủ thước tấc, có đặc điểm hai gò má nhô ra dễ nhận dạng khi cần, nếu đàn bà thì bị coi là “sát phu, còn đàn ông thì chưa nghe thầy bói nói gì. Chơi guitar bass, accord , hát bè cũng nghe được, hát solo cũng không tồi, bài ca đáng nhớ Green Field Đồng Xanh đã từng hát chung với Vinam trong một show diễn nội bộ sau Hội Chợ. Chiếc áo gilet màu đen của Minh 12B cũng đã tạo nên một khác biệt và tự tin cho Phương trên sàn diễn.
Một Nguyễn Hữu Cường, biệt danh Cường Dzé ,cùng lớp 12B với Tâm Noir, chữ Dzé thời ấy được các huynh đệ đặt cho quả là chính xác đến từng li, nói đến Cường Dzé là nói đến một gã chuyên lo trau chuốt “đời trai” để luôn trong trạng thái à la mode mà “dzé” với thiên hạ, đôi khi trở thành đam mê điên cuồng, (xin lỗi, nếu nói quá đáng). Cường Dzé tự tạo cho mình một phong cách mà nhìn vào anh em dễ nhận ra, mang dáng dấp của môt thành viên tứ quái Beattles. Điều đặc biệt là Cường Dzé có tài sưu tầm thời trang cho mình rất nhà nghề, không ai có thể bì nổi. Chỉ cần vài phút đồng hồ trước lúc trình diễn, Cường Dzé đã xúng xính bộ vó mới đến lạ thường mà lâu nay chẳng thấy gã mang. Nhưng nổi lên trên tất cả cái biệt danh Cường Dzé là một tay trống cừ khôi, tiếp thu bài nhạc rất nhanh và khua trống rất nhuyễn, Lâm Bích dễ có mấy ai cả tài năng và nghệ sĩ tính như vậy.
Một Trịnh Minh Thứ (12B), chàng trai đến từ vùng đất Xuân Ninh, Cam Ranh, có âm giọng gần giống ba làng choa, nhỏ con nhất trong nhóm, nhưng lướt solo trên cây guitar điện thì cũng chát chúa hùng vỹ không kém những tay đàn chuyên nghiệp.
Một Trần Hải Hùng ( 10 ), “mập mà lùn”, xuất sớm nhưng vẫn gắn bó với ban nhạc, lầm lì ít nói nhưng khi lên sàn thì chết điếng cho người nghe với tiếng guitar accord rạo rực, tiếng solo cuốn hút tận chân may. Với bài Imagine của John Lennon trong ban Tứ Quái Beatles, Trần Hải Hùng hát rất nổi đính nổi đám thời đó, vì đây là bài hot nhất của Hùng. Các em nghe mà cứ chảy cả nước dãi (Thật đấy !). ( Chú thích của Đào Hoàng )

Một điều cần phải nói thêm là sau khi kết thúc Hội Chợ, Labika vô cùng phấn chấn, tự tin đến độ cả nhóm đề nghị má Thạnh chi một khoản tiền để ban nhạc may riêng một bộ đồng phục Labika. Cả đám đã ra tận đường Độc Lập để tìm mua vải, còn nhớ đó là loại vải màu vàng dệt hoa văn, may xong mỗi người một cái mang thấy lạ thường. Labika dự tính sẽ xin Bố, Má ra ngoài trình diễn trong các câu lạc bộ để tập tành quen dần, cho sau này phục vụ các chương trình văn nghệ tại các giáo xứ. Một tham vọng đáng nhớ của tuổi đôi mươi rất hồn nhiên, dẫu rằng ước mơ ấy không thành và đồng thời cuối năm đó Labika rã đám, chỉ còn lại một Nguyễn Văn Phương. Từ dạo ấy, Labika xem như khai tử và trở lại kiếp gà què với số thành viên mới còn “non tay nghề và rời rạc, xộc xệch, tuy nhiên cũng ráng cầm cự, cũng thực hiện được các chương trình hỗ trợ văn nghệ cho đại học Cộng Đồng Duyên Hải được tổ chức tại rạp Tân Quang, Hôm đó tay trống là Đỗ Văn Hoà, organ là một “tân binh” đến từ Tabert Saigon, solo do Nguyễn Văn Phương, accord là một thành viên lớp 10 (nk 1974-1975) không còn nhớ tên. Những bản đáng nhớ và ấn tượng hôm đó là I Love You To Want Me, L’amour C’est Pour Rien”( solo),Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà (hợp ca), Love Story(độc tấu piano), Love Is Blue (hoà tấu), Doctor Zivago…
Cũng năm đó, ban Văn Nghệ LB đã bận rộn với nhiều chương trình trình diễn vào đời khác, để hỗ trợ cho truyền thông Giáo phận và nội bộ LB . Các nhóm sinh hoạt văn nghệ được BĐD điều động đến các giáo xứ có nhu cầu nhân dịp Noel, riêng Labika thì nhận công tác Noel ở HQ. Ban Văn Nghệ cùng với Labika thực hiện một show truyền hình, nhân dịp lễ Phục Sinh mà trong đó Nội đã đọc một bài diễn văn trang nghiêm và xúc động đến độ mất tập trung, khiến các cameraman phải quay lại lần nữa. Tôi còn nhớ, trước khi chuẩn bị lên chương cho buổi ghi hình tại studio đài truyền hình Nha trang, chính tôi phải tự vẽ một logo cho từng tiết mục trong chương trình của Toà Giám Mục Nha trang, và mỗi tiết mục cũng phải vẽ riêng một tấm hình giới thiệu tiêu đề và logo minh hoạ. Khuôn khổ mẫu giới thiệu này là bề 20 x 30 được vẽ trên giấy croquis. Dựa vào những mẫu giới thiệu này, các cameramen của đài sẽ quay cận cảnh từng bản, rồi sau đó tuần tự đưa vào chương trình theo từng tiết mục cụ thể.Chương trình đại khái trước tiên là tiết mục hợp ca, kế đến là tiết mục “Lời phát biểu của Đức Cha F.X Nguyễn văn Thuận”, theo sau là đơn ca, hợp ca, hoạt cảnh, kịch..v.v... Lần đầu tiên anh em trong ban Văn Nghệ cũng được dịp xâm nhập studio của đài truyền hình Nha Trang. Lúc bấy giờ đài thu đặt ở đất liền, còn đài phát thì ở ngoài Hòn Tre. Thời ấy việc trang trí, đạo cụ, áp phích cho chương trình đều do mình tự mày mò làm lấy. Đài truyền hình chỉ đảm trách việc quay hình và thu tiếng. Về phát thanh, anh em Văn Nghệ cũng đã có dịp tham gia đi thu âm tại đài truyền thanh ở Mã Vòng, trong một phòng thu rất cũ kỹ và chật hẹp. LB đã chở đến một cây đàn piano, một cây guitar điện, một cây guitar thùng, đệm cho một số bản hợp ca, đơn ca để làm nền cho những nội dung thuyết giáo của địa phận.
Năm 1974-75 là năm thiệt thòi lớn cho Văn Nghệ LB, khi đồng loạt các tài năng cùng ra đi với nhiều lý do khác nhau. Lớp 10 có tay organ từ Taberd, Lớp 11 danh hài Hoà Wíu, lớp 12 có Cường Dzé, Tâm Noir, Thứ Nùng, lớp 13 có Mậu Thành (diễn viên gạo cội), lớp 14 khởi hành Đi Gieo như Đức Thắng (đạo diễn), Đào Hoàng(MC), Vinam( ca sĩ )…
Labika là một cái tên đã đi vào ký ức văn nghệ của gia đình LB từ sau năm 73. Nhưng có thể sẽ đi xa, vươn cao và lớn mạnh nữa, nếu như dự án cùa chủng viện, là sẽ “ra đi rao giảng Tin Mừng”, luân phiên trình diễn văn nghệ trên mọi nẻo đường giáo phận, đến từng vùng, gõ cửa từng giáo xứ mà truyền rao tin vui qua cây đàn, tiếng hát, qua hoạt cảnh, kịch vui…Lúc ấy không phải là một Labika tiếng tăm lừng lẫy để mà tự tôn, tự phụ, mà là cho một Tin Vui sẽ lớn mạnh trong lòng mọi ngừời, để “Thiên Chúa thì lớn lên, còn tôi thì nhỏ lại”
Sàigòn, ngày 29 tháng 5 năm 2009
NGUYỄN -VĂN-PHƯƠNG
(12C 1973-1974 & lớp 13 -1974-1975)


HỌC VIF Ở TRƯỜNG COLLEGE FRANCAISE DE NHA TRANG

Những anh em Labika từng trải qua niên học 1973-1974 ở Lâm bích đều không thể quên một chương trình hôc tiếng Pháp khá đặc biệt; Đó là chương trình học VIF (viết tắt của cụm từ voir des images Francaises) Ở TRƯỜNG College Francaise de Nha Trang. Có thể coi đây là một đường lối giáo dục rất thực tiễn mà chủng viện muốn nâng cao khả năng nghe và nói tiếng Pháp cho chủng sinh Lâm Bích.
Tôi không nhớ trước đó đã có lớp nào tiên phong học chương trình này chưa, nhưng với anh em Labika lúc ấy quả là thú vị, vì không những đây là môn học ngoại khoá sinh động theo như bản chất truyền thống của nó, mà còn là dịp để hít thở không khí bên ngoài chùng vịên.
Còn nhớ những buổi học ấy thường diễn ra buổi sáng, thời gian học kéo dài khoảng một tiếng đồng hồ, mỗi tuần hình như một hai lần gì đó, lâu quá cũng không nhớ rõ lắm. Đúng giờ qui định,anh em tản bộ cả đám ra đừơng Duy Tân nhìn biển xanh, tung tăng đùa vui trên lòng đường khi vắng xe, hoặc vừa đi vừa mơ mộng nhìn mây trôi lãng đãng, hay trộm nhìn những cô nữ sinh lác đác ôm cặp đi dọc hè phố hay ở bãi biển , có thể đó là những nữ sinh từ các trường Nữ Trung học Nha Trang, trường Lê Quý Đôn, Kim Yến, Võ Tánh... rồi chúng tôi cua vào đấu đường Nguyễn Tri Phương, đi ngang qua một cơ sở quân sự mà trước đó vào năm Mậu Thân 1968, đã xảy vụ nổ bom kiểu tự sát làm cho một người đạp xích lô tan xác, mà tôi có chứng kiến thấy da thịt máu me còn dín lỗ chỗ trên tấm bảng cỗng trường Lasan Bá Ninh. Đối diện trường Lasan Bá ninh này chính là trường College Francaise, nơi chúng tôi theo học.
Với tấm bảng trường cũng rất hoành tráng không thua kém tấm bảng của trường Bá Ninh. College Francaise, quả thực là một cơ sở giáo dục dưới mắt chúng tôi thuở ấy như là tử cấm thành, hay một trung tâm bí mật mà chúng tôi không mấy ai tường tận hiểu biết cách giáo dục, sinh hoạt chuyên biệt của nó.
Dân ta thường gọi trường này là trường Tây. Nghe nói được vào học trường Tây thì ai nấy cũng thấy vinh dự, khoái chí. Có thể quan niệm và cách nhìn thời đó xem trường Tây là một nơi chốn khá riêng biệt, một môi trường dành riêng cho giới quí tộc , trưởng giả, con nhà giàu mới vào được nơi đây. Thế nên khi ông Nội gửi gắm cái đám lông nhông hằm bà lằng như chúng tôi thuở đó vào học nơi đây, chúng tôi cảm thấy lâ lẩm không những môi trường mới mà là cách học mới hoàn toàn. Nói hằm bà lằng như thế vì qủa thực anh em Lâm sinh chúng ta là những người đến chủng viện này với nhiều hoàn cảnh, môi trường học và trình độ hơi khác nhau. Có người đã từng ăn cơm ở một nhà dòng nào đó, có người chuyển đến từ một chủng viện trong địa phận hay ngoài địa phận, có người chưa hế bước chân vào nhà tu lần nào, có người "lưu ban từ năm trước lại. Tuổi tác đôi khi cũng xê xích nhau đôi năm, nên không lạ gì có người trông bệ vệ hơn, có người thấy chững chạc hơn, có người non nớt hơn, có người ngoại ngữ có khá hơn. Những khác biệt này tưởng lớn mà không hề lớn chút nào khi ai nấy có cơ hội thấy được nơi đây là một môi trường tu trì khác hẳn, lối sinh hoạt mang có tính chất hoà đồng, quãng đại, chân tình, với một đường hướng tự quản tự giác là chính.Do đó, người chưa tu và người đã từng tu đều cảm thấy thoải mái như nhau.
Ông thầy dạy chúng tôi lúc bấy giờ tôi còn nhớ tên là thầy Latuillerie . Hình như ông ấy là người gốc Algerie hay Marốc gì đó, ví da ông màu đen, lại tóc quăn, cao và gầy. Nếu nhìn lại lũ trẻ ngày hay học ở các trường Hội Việt Mỹ, trường ILA, hay một số trường ngoại ngữ thực hành ở thành phố Sàigòn, thì xem ra kiểu học chúng tôi hồi đó chẳng khác nào những em học sinh lớp chồi lớp lá như ngày nay của các trường này.
Dụng cụ học tập ở đây là một chiếc máy chiếu kiểu cổ dùng một bóng đèn tungstein cực mạnh, công suất có thể cả ngàn watt, chiếu qua những tấm phim nhựa màu để đưa hình ảnh và câu chữ lên một tấm màn màu trắng, tựa như tấm màn được sử dụng để chiếu như ngày nay. Với kỹ thuật này vào thời điểm ấy đựoc coi là văn minh hiện đại lắm. Tôi còn nhớ khi còn Tu viện Phanxico Nha trang thời kỳ năm 1966, cha Damien Lữ, khi du học từ Pháp về, Cha đã giới thiệu dụng cụ chiếu phim này cho chúng tôi xem, trong đó có cả phim Bạch Tuyết và 7 chú lùn. Cha vừa lắp vào từng cảnh một vừa chiếu lên cho xem rồi giải thích bằng miệng. Thì ở đây ông thầy Latuillerie cũng áp dụng dụng phương pháp này vào việc học tiêng Pháp.
Tuy rằng thời gian học không được nhiều, nhưng chúng tôi cũng nắm được một số từ vựng với cách phát âm trực tiếp từ người thầy chính tông Pháp.



Ảnh: Lớp Labika học VIF về trên đường Duy Tân
(Từ trái sang) :Rev Nguyễn Thành Công, Nguyễn văn Phiến (quặp), không nhớ tên, Hoàng văn Đoàn (sếu),Hoàng Niên, NguyễnThành Lập, Nguyễn Công Thành, Phạm cảnh Thuỷ (RIP) Nguyễn văn Phương, Hùng đà lạt, Trần Kim Tòng (RIP), Đào đức Thành, Đỗ Phụng Hoàng, Lâm Thái KHâm, Trấn Kim Hồng (REV), Long đà lạt, Trương văn Phúc (REV), Nguyễn ngọc Phương (trề),
Một số người khuất phía sau không thể nhận ra, ai biết mình có sau đó xin lên tiếng bổ sung ảo

HỌP MẶT TÂN NIÊN CỦA LBSG

LÂM BÍCH SÀI GÒN TÂN NIÊN

TỪ MỘT NGƯỜI RA ĐI
Trước tiên anh em Sàigòn, một lần nữa xin chia buồn với anh chị Nguyễn Văn Thông cùng tang quyến, về một mất mát lớn lao nhất trong cuộc đời, khi cụ thân sinh Tadeo Nguyễn Thông Ơn ra đi mãi mãi, giữa lúc mọi người đang đón xuân rộn rã, hương xuân còn vương vấn cõi lòng. Sự đau buồn này cũng diễn ra vào thời điểm anh em Sàigòn họp mặt chào Tân niên tại bản doanh của anh Nguyễn Hoàng Nam từ lúc 18 giờ tối ngày mồng 6 tết Canh Dần, mà không hề biết. Xin lỗi Cụ và toàn thể anh em Lâm Gia. Khi về nhà lúc 23giờ thì nhận được tin buồn được post lên từ anh Bombo: Cụ Tadeo đã lìa cõi thế. Một cảm xúc sửng sờ, bàng hoàng khi hay tin này, bởi trước đó ai nấy cũng nhẹ nhỏm được biết cụ đã được gia đình đưa về quê nhà bình yên, coi như tai qua nạn khỏi, nhưng …không ngờ…Chúa đã gọi Cụ về vào lúc “không ai ngờ, vào giờ không ai hay ”…
Cuộc đời của con người chúng ta là thế, “trong giọt nước mắt đã lấp lánh nụ cười,và trong nụ cười đã le lói giọt nước mắt”. Nó như chuỗi tràng hạt được nối kết, đan xen, liên tục mà một tín hữu Công Giáo phải vân vê, suy gẩm từng ngày…cho tới khi nhắm mắt xuôi tay, lúc đó không còn biết vui biết buồn, không còn đối diện hay đối phó với khổ đau, tục luỵ.
NGHĨ TỚI CUỘC ĐỜI MÌNH
Chẳng phải ngẫu nhiên mà ý tưởng này của tôi trong đêm họp mặt chào Tân niên này, cái ý tưởng về cuộc đời sống chết kề cận nhau, buồn vui đan xen, đã thối thúc tôi truyền đạt lại với anh em Sàigòn,để suy gẩm từ đó mà nghĩ tới một chương trình họp mặt LB Xuân Lộc năm nay, một chương trình cần phải mang một sắc thái đậm đà bản chất LB hơn, nghĩa là phải thiết thực hơn, linh động hơn, tươi trẻ hơn, để quên đi thực tại hữu hạn của con người. Đứng trước một thách thức về chiều hướng lão hoá thể xác, và bải hoải về tinh thần, nếu không muốn nói là bi quan, chán nản cho cuộc đời anh em mình đang xuống dốc thời gian, thì không gì tốt hơn là hướng đến đời sống tâm linh tích cực, đồng thời tìm một lối sinh hoạt vui tươi, năng động, nếu thời gian còn cho phép. Hãy quay về thời thơ ấu, thời còn ngồi chung với nhau ở CV, tìm lại nét hồn nhiên, năng nổ, trai tráng,…để cùng ngụp lặn trong làn nước biển trong xanh của Nha trang thuờ nào, để vỗ tay nhịp nhàng cùng sinh hoạt đòan thể với những trò chơi lắt léo, cười ra nước mắt, để kể lại cho nhau nghe những trò đùa bất kham của những “ngựa chứng trong sân trường”, những kiểu tinh nghịc thuộc tầm “ma quỷ học trò”, để tò mò nói nhỏ cho nhau những bí mật “cấm kỵ” mà Bề Trên nghe được thì coi chừng xách valy về nhà, để nghe lại tiếng đàn điện réo rắt , tiếng trống dồn dập, hay các chương trình văn nghệ vui nhộn, linh đình vang xa, để nghe nhạc giao hưởng trong giờ cơm trưa ngày thứ bảy,để nghe lại những ca khúc vang bóng một thời của ban nhạc Labika đình đám ngày xưa…vv... Hãy tìm lại cánh đồng xanh thời thơ ấu, nơi ấy ta thả tâm hồn “rong chơi cuối trời quên lãng”, nhớ lại những buổi học ôn thi căng thẳng để có lúc nghĩ tới việc “quẳng gánh lo đi vui sống”, hãy cùng hát , cùng chơi cùng, cùng múa, cùng cho nhau hết miệng cười, cùng nói lời yêu thương bất tận, cùng trao những ánh mắt xanh màu hy vọng. Hãy tạm quên mọi ưu phiền một năm qua như lãng quên giả dối đời thường, mà vui hưởng cuộc sống, như hưởng 3 ngày xuân cùng quên đi năm tháng nhọc nhằn, hối hả.
Chẳng thể ngẫu nhiên mà luồng gió xuân đã thổi vào tâm hồn khoảng 12 thành viên LBSG cùng với 4 phu nhân tháp tùng, một sức sống mới để cùng thống nhất nghĩ tới một chương trình cởi mở như thế, cùng ngồi bên nhau thưởng thức những món ăn đạm bạc đầu xuân, do các bác cháu của anh Hoàng Nam hy sinh nấu nướng tươm, anh em đã cùng ca hát xen lẫn từng ý kiến mỗi người qua MC Mậu Thành hướng dẫn , cùng nghe đôi đũa gõ chén trùm Huyên rộn rã, cùng với 2 cây guitar do Hoàng Nam, anh Bác Hoàng Nam và tôi thay nhau đệm tiếng, bỗng như làm sống lại một thời bên nhau ca hát vui chơi, trong những lần sinh hoạt Hướng đạo, Nghĩa sinh…ngày xưa. Tôi cứ mường tượng buổi gặp đầu năm này như một buổi họp mặt “tập dượt”, để rồi ai có quyền nghĩ tới cuộc họp lần tới đây sẽ rộn rã,tưng bừng gấp nhiều lần như thế này. Thời gian không còn bao xa, anh em Lâm gia lại gặp nhau. Tôi cứ nghĩ lần họp mặt 40 vừa qua như vừa kết thúc ngày hôm qua, ấy thế mà con già 3 tháng nữa thôi là anh em mình tái ngộ. Thế mới thấy thời gian “ngựa chạy tên bay” là hoàn toàn chính xác. Nếu biết thế tại sao chúng ta không tổ chức một ngày họp mặt thực sự mang lại tiếng cười ngoại cỡ, niềm vui tràn lan, hạnh phúc bạt ngàn, hân hoan bất tận…
Tại sao các cuộc họp ngoại giao quan trọng giữa các nước trên thế giới, người ta thường được tổ chức bên bàn tròn, trong một không gian thoáng đãng , trong một môi trường thiên nhiên sông nứơc hữu tình, trong bầu không khí tươi vui, trong lành, …thì tại sao chúng ta không nghĩ đến một kỳ họp mặt cũng không nằm ngoài ý tưởng tổ chức mang tính khoa học như thế?
Hãy tạm thời xoá đi kiểu dàn trang họp hành củ kỹ trước đây, hãy dẹp bỏ một mô hình được cài đặt trước, mà hãy trở về với một kiểu họp mặt thuần tuý “dẫn dã”, mộc mạc, chân thành. Ở đó, ta cứ coi ta như những kẻ du mục trên cõi đời này, như những người dân Đigan, lang thang kiếm tìm hạnh phúc bên bờ suối thơ, múc chén hồng Ân ngọt ngào ở giếng nước Cứu Độ, thanh thản ngồi trên lưng con ngựa yên bình nhất thời hiện tại, hãy để con mắt mình sáng láng Thánh Thiện như trẻ thơ, hãy trải rộng bàn tay Bác ái Yêu thương. Hãy nhân lên niềm vui trong sáng cho nhau. Hãy vượt ra ngoài ranh giới giai cấp, tuổi tác, sang hèn. Phải huỷ bỏ mọi thành kiến không đáng có, những toan tính tầm thường, vụn vặt cần phải xem là lạc hậu, thoái trào.
VÀ MỘT CHƯƠNG TRÌNH HỌP MẶT SINH ĐỘNG
Để có được môt ngày họp mặt thực đi vào cuộc sống như thế,thiết tưởng ngay từ lúc này, chúng ta cùng góp ý đi đến một chương trình cụ thể, để mỗi người, mỗi nhóm, mỗi vùng, mỗi thế hệ…hãy tìm ra một đề tài, tiết mục cho riêng mình,chuẩn bị cho ngày trọng đại này. Nếu ai cũng làm, cũng tự tìm tòi, sáng tạo một hình thức, một tiết mục ý nghĩa, hấp dẫn thì chắc chắn chúng ta sẽ vui như chưa bao giờ vui cho lần này.
Riêng anh em Labika giờ đây, theo như ý kiến thống nhất của anh em Sàigòn họp mặt Tân niên, thì chương trình văn nghệ tạm thời do Labika đứng mũi chịu sào. Và tôi cũng tạm thời đại diện Labika nhận trách nhiệm này, trước mắt là Labika sẽ chuẩn bị những bài ca lưu danh thuờ nào, trong đó ít nhất 20 ca khúc sẽ đem tái trỉnh làng trong dịp này, còn các tiết mục khác tuỳ theo số lượng nhiều ít để ban tổ chức chuẩn bị sắp xếp chương trình. Do tầm nhìn còn hạn chế, vì lúc này đây mình chỉ có thể có cái vốn của 20 ca khúc này làm men cho sinh hoạt họp mặt, mà qua những lần gặp gỡ Labika và lần Tân Niên này, nhận thấy rằng, cuộc họp mặt sẽ tưng bừng biết bao, nếu chúng ta cứ đan xen một chương trình nhạc sống linh hoạt, cảm hứng hoài niệm.
Trong ngày họp met sắp tới, đề nghị tất cả những báo cáo của các ban ngành nên gửi lên thư đàn, in ra nhiều bản để phát cho anh em, còn ai có ý kiến gì thì chỉ dành ra một thời gian nào đónđể thảo luận ngắn gọn, thậm chí có thể đan xem trong chương trình văn nghệ, để ai nấy cũng dễ tập trung theo dõi từng tiết mục, cho dầu đó là một phát biểu của Bố, của anh Đại diện. Điều này cũng có ý nói rằng, vừa thưởng thức văn nghệ, nhưng cũng không quên nghĩ tới các trăn trở về gia đình LB , như vấn đề duy trì Gia đình Lâm Bích ở thế hệ tiếp nối chẳng hạn.
Không dám tự hào, anh em Labika chúng tôi khi ngồi lại bên nhau, cũng đã không quên nghĩ đến nhau, bàn về sự tồn vong của LB, của Labika…Dịp đi thăm Hồ Đình Diệm vừa qua, cùng với Bác Thiện và Tế Dân ở Lagi Bình Tuy, tuy ngồi với nhau bên ly rượu Tây, nhấm mồi hải sản tuyệt vời…mà vẫn tranh thủ nghĩ suy cùng với Bác Kim Anh về viễn cảnh của Gia đình LB trong tương lai, và rồi lần Tân Niên hôm qua, anh em Sàigòn chúng tôi lại thao thức cho một ngày họp mặt LB đang tới.
Tôi là kẻ kém tin, thế mà qua những lần gặp gỡ anh LB như thế, tôi càng thấy có sợi giây nhiệm mầu đang buộc chặt anh em LB của chúng ta trong khối tình của một Cha chung trên Trời, của một Ông Nội rạng ngời cõi trần ai, của một Ông Bố, Hai Bà Má nhiệt thành lien kết anh em chung dưới một mái nhà ấm êm. Giờ này tôi càng thấm thía bài ca hằng đêm trước khi lên giường đi ngủ ở LB thuở nào: “Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời”

Sàigòn ngày mồng 7 tết Canh Dần
Nguyễn Văn Phương

NGƯỜI ĐI NHẶT QUÁ KHỨ

MÀO ĐẦU VỀ HỒ ĐÌNH DIỆM

Nhận tiện anh em Labika chuẩn bị một chuyến hành trình đến thăm người bạn Hồ đình Diệm, biệt danh Diệm Ngủ,tôi xin mào đầu về nhân thân và mối quan hệ bạn hữu giữa tôi và gã.

Khoảng năm 1967, tôi đã học chung với gã năm lớp 7 tại KTX Phanxicô Nha Trang. Hồ Đình Diệm thuở ấy là một học sinh xuất sắc trong lớp, đặc biệt rất giỏi về môn toán. Tới giờ Toán, gã chỉ cần ngóng tai và đưa cặp mắt đẹp, với đôi mi cong vút như con gái, nhìn chằm chằm vào ông thầy Toán, sau chừng 15 phút tiếp thu bài giảng, Gã dễ dàng nắm bắt nội dung bài học mới. Hôm nào, nếu ông thầy bất ngờ chỉ thị tất cả học sinh xếp sách vở lại, lấy ra một tờ giấy đôi, ghi tên phía bên trái và chừa một ô bên phải ghi lời phê, và làm bài kiểm tra 15 phút, thì kết quả sẽ thấy ngay sau đó,vì loại bài toán chạy này thường được ông thầy chấm ngay sau đó, và gã bao giờ cũng đem về số điểm từ 15 đến 19/20. Trong trường hợp không làm bài kiểm tra, mà ông thầy tiếp tục giảng bài, hoặc cho làm bài tập , thì gã lặng thầm nhét cuốn tiểu thuyết trinh thám, hoặc kiếm hiệp dưới hộc bàn, đọc mê say, nhưng không quên liếc mắt theo dõi ôg thầy. Đó là những môn học quan trọng, lý hoá cũng thế và ngoại ngữ cũng vậy. Gã cứ tà tà, chẳng cần gạo ngày đêm như bao anh em khác, vốn dĩ phải cần cù mới bù được thông minh cho mình. Đối với những môn phụ khác thì coi như Gã xem nhẹ tực lông hồng, và Gã cứ tha hồ vi vu thả hồn theo diễn tiến hấp dẫn trong những tập truyện trinh thám hoặc kiếm hiệp dài tập. Ra ngoài lớp trong giờ chơi, gã chẳng hề có mặt ở sân Volley, hay sân Bóng rổ, cũng chẳng bước chân vào sân bóng đá, cùng lắm đôi lúc ngứa tay lướt vài ván bóng bàn với Tâm lai, hay Sơn Ba néo là cùng...còn không thì đường ta ta cứ đi, Gã chuồn êm vào một xó xỉnh nào đó, có thể là khu rừng thưa phía sau Tu Viện trên đồi, nhưng an toàn nhất là chui vào toilette, nhất cử lưỡng tiện: Vừa đọc truyện thoải mái, vừa phì phà khói thuốc Lucky không đầu lọc... Cuộc đời HĐDiệm gắn liền với biệt danh Diệm Á Phiện là ở chỗ đó, và cái biệt danh thứ hai sau này là Diệm ngủ cũng bắt nguồn từ hậu quả mất ngủ do tranh thủ giờ ngủ đọc truyện mà ra.

HĐD học với tôi được 2 năm, sau đó HĐ Diệm ra đi, tôi không biết đi đâu, hay chọn dòng tu nào để nối tiếp hành trình đi tìm lý tưởng dấn thân. Rồi Hồ Đình Diệm cũng có lần về quê Cam Ranh của tôi, tới Giáo xứ Tân Bình, nơi gã có bà con với anh Lê Vĩnh Dzụ cùng lớp, Từ Tân Bình, gã tới thăm tôi ở Xứ Bắc Vĩnh, cách đó khoảng 1 cây số, chúng tôi đã đi uống cà phê, chơi bóng chuyền với thanh niên trong làng...và hút thuốc. Rượu thì thuở ấy chưa biết tới.

Mãi đến năm 1973, tôi gặp lại gã ở LB, lúc này gã học 12 B, còn tôi 12 C. Cũng đã ngồi cạnh nhau trong những giờ Công Dân của Dương Kiền...Cũng cuối năm này, tôi được nhận chức trưởng phòng khánh tiết, nên đảm trách việc phục nước non cho giáo sư, khách khứa của chủng viện, trong đó tôi quản lý một phòng khách, và một phòng ngủ cho khách. Phòng khách thuở ấy cũng được trang bị nước ngọt, đà lạnh, trái cây, lâu lâu cũng hưởng xái chút chút với nước ngọt dư, trái cây thừa...Còn phòng ngủ thì những ngày không có khách sử dụng, Hồ Đình Diệm gạ gẩm tôi cho vào nằm. Không phải gã trốn học, hay trốn ngủ, mà chỉ vào để đọc truyện, hút thuốc. Ở LB, tôi cũng thấy lại một HĐD với thói quen muôn thuở: hút thuốc và đọc truyện. Xem ra, cái tật nghiện thuốc của gã đã trở thành mãn tính, thâm căn cố đế, nổi tiếng nên anh em đặt cho gã là Diệm Á Phiện, chính xác 90%, còn tên Diệm Ngủ là biệt danh ăn theo do đọc truyện tranh thủ cả giờ ngủ nên khi vào lớp thì ngủ gục. Có lần Gã bị Bố Thoại phang một lời phê độc chiêu có môt không hai trong đời Gã trong phiếu điểm, một lời phê cực ngắn và cực chính xác, khiến Gã thổ lộ ngay sau đó với tôi, Gã nói : "Tao bị phê : Ngang, ngược" .Nói chuyện về Hồ Đình Diệm như vậy cũng không có nghĩa là nói xấu về gã đâu nhé. Đó là những kỷ niệm một thời của gã dưới sự hiểu biết của tôi thôi.

Sau ngày giải phóng , tôi không gặp lại gã, mãi cho tới khoảng năm 1999, tôi đến thăm gã ở Trung tâm Y tế Q.10. Sài gòn, lúc này gã đau buồn vì bà xã nằm viện do một căn bệnh hiểm nghèo, hình như là ung thư tử cung. Lúc này hai vợ chồng chưa có con. Sau đó nghe tin xuất viện về Ban Mê thuột, có thể quê vợ của gã. Rồi chừng một năm sau đó, tôi gặp gã tham dự Họp Mặt Cự Phansinh ở Thủ Đức, hỏi sức khoẻ gia đình và bà xã của gã thì gã trả lời thật bất ngờ: "Đang ở trên Trời". Mới đầu tôi không hiểu gã nói gì, môt lúc lâu mới biết bà xã đã qua đời.

Rồi môt năm sau đó , tứ ckhoảng 2001, gã tới thăm tôi tại Sài gòn, khi còn ở căn nhà nhỏ, gã lại có ý tưởng tiếp tục đi tu, gã nhờ tôi chở tới một tu viện nào đó ở Bình Dương, nhưng do sức khoẻ , tôi không thể thoả mãn yêu cầu của gã. Từ đó gã theo tiếng gọi lương tâm của mình , đi tìm hiểu ơn gọi mới...rồi một thời gian sau nữa, tôi lại nghe tin gã về Ban Mê Thuột nuôi ong lấy mật, và biệt tích cho tới nay...khi nghe anh em nói Hồ Đình Diệm đã trở thành ...người không bình thường ở Bình Tuy.

Tôi phải đi thăm người bạn xưa ấy, xem dung nhan nay thế nào, cuộc sống ra sao...Xin một lời cầu nguyện cho người bạn tôi: Anh Hồ đình Diệm


Kể từ khi Phổ trọc tung lên mạng 2 bức ảnh hiếm của Hồ Đình Diệm (HĐD), nhiều anh em đã thấy “kinh hoàng”. Nhìn lại mình, cho dẫu đã xuống dốc tuổi đời, chân chồn gối mỏi…vẫn còn tự an ủi mình với cái phanh còn tốt, để giảm tốc độ tàn phai, nhưng khi xem dung nhan của một HĐD thông minh, đĩnh đạc thuở nào, ai nấy không ngờ gã lại tuột phanh xuống dốc đến mức tàn tạ nhanh như thế. Đó là một hình ảnh gây sốc nhất từ trước tới nay trong anh em Labika, khiến đã thôi thúc tôi cũng như mọi người trong lớp Labika phải trăn trở, thao thức chờ đợi để tìm gặp HĐD.
Một đêm khó ngủ trước khi hẹn gặp nhau 5 giờ sáng tại nhà Tâm noir, để lên đường thăm HĐD vào ngày 6/2/2010.Tôi nôn nao chờ đợi đêm này, cũng là đêm tôi phải ngủ hẹn giờ để chở ông anh ra bến xe lúc 2 giờ sáng, rồi hẹn temp hai vào lúc 5 giờ sáng ở nhà Tâm noir. Coi như một đêm chập chờn, mà cái chập chờn trước mắt là hình ảnh “ông cụ HĐD”. Thì ra khi gặp Tâm noir, hắn cũng chập chờn trăn trở như mình đêm qua, cũng là đêm không ngủ vì cái hình hài liêu xiêu tơi tả ấy.
Cuộc hành trình kéo dài khoảng 3 tiếng đồng hồ, vượt qua 200 cây số đường, đi qua ngã 3 Vũng Tàu đón Phuơng Chề, ghé Bà Rịa tải Phổ trọc, rồi trực chỉ Lagi –Bình Tuy, men theo tỉnh lộ ven biển chạy từ Bà Rịa, đi qua Bình Châu, Hồ Cốc, …để tới cái thị trấn có hai người anh em LB : Nguyễn Tế Dân và HĐD. Chương trình hôm nay cũng có chút thay đổi, thay vì anh em sẽ mời HĐD đi ăn trưa để tâm tình đâu đó, thì nhân dịp có tiệc mừng đính hôn đứa con trai tình thần của Bác Thiện, nên sẵn dịp, Bác nhã ý mời anh em tham dự ở nhà hàng luôn.

Ảnh:Bình minh trên đường tới Bà Rịa

Cái không khí đón xuân ở thành phố nó ồn ào xao động chừng nào, thì khi trở ra các vùng ven duyên hải Bà rịa-Bình Tuy này càng thấy yên ắng thanh bình chừng ấy. Chừng như nàng xuân ở đây vẫn còn e ấp thẹn thùng, như cô thôn nữ ngày xưa trinh trắng, chân chất, đơn sơ, mộc mạc. Hình ảnh và bầu không khí xuân ở đây quá ấn tượng, tôi không thể không hồi tưởng những cái xuân ấu thời, cái thuở mà bầu không khí của xuân thôn dã ,đã hằn sâu trong ký ức của tôi: Đạm bạc trong sinh hoạt ăn uống, thâm tình trong cái nhân ái, nghĩa hiệp, êm đềm trong sự chấp nhận cái nghèo đeo đẳng…Có thể thêm được những tràng pháo xuân nữa thì hẳn là tôi đã tìm lại hoàn toàn cái xuân năm xưa ở chốn này. Chắc gì tôi hưởng được cái xuân tiền tiêu như thế này sau khi về lại đất Sài Thành, nơi khói bụi vẫn mịt mù khắp nơi, nơi cái nỗi ám ảnh về các thứ ô nhiễm cứ mãi làm đầu óc ai đờ đẩn…Tôi không ởm ờ để tự dối lòng rằng, xuân vẫn chưa đến bên tôi, này những đồi cát vàng ven biển như ngọn sóng lượn lờ qua mau, những rừng cây nguyên sơ mọc tự do như chưa hề có ai đụng vào chúng, ở đây vắng bóng con người, lâu lâu gặp thấy đàn bò gặm cỏ, hoạ chăng có thể hình dung ra những ông chủ ngồi xe hơi lướt qua đây chỉ chỏ, rồi khoanh vùng tậu những thửa đất ven biển, với những hàng rào kéo dài cả cây số,để mai này sẽ cho mọc lên những khu resort khang trang, để cho những ai thừa tiền kéo ra đây đổi gió và thưởng thức những món ăn hải sản đã quen từ bao đời.
Phải mất cả tiếng đồng hồ để chạy hết con đừơng ven biển này, thị trấn Lagi thoáng chốc đã mồn một trước mặt, gã Tâm noir từng qua đây mấy lần cùng với Bác Thiện, vẫn ởm ờ ngõ vào phố nhỏ, mà cái dịện tích của nó chắc còn nhỏ gấp mấy lần cái phố Núi “đi dăm phút đã về chốn cũ”, phải nhờ đến cái bộ nhớ của Phương Chề để tìm ra cái địa chỉ nhà của cô em Bác Thiện, rồi từ đó mò ra chỗ ở của Tế Dân. Thời đại tốc độ, chỉ cần một cú phone là thấy ngay Tế Dân xuất hiện ngay đầu xe.Tế Dân, người em lớp dưới này nghe quen tên, mà chưa gặp mặt, kề từ ngày LB tan hoang mỗi người mỗi ngã. Thì ra đó là một con người làm tôi hình dung ra nhân vật Vọi trong Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng, một gã ngư dân lực lưỡng, rắn rỏi, đen sạm, pha chút máu me nghệ sĩ ,cùng dáng vẻ nhà thầy vang bóng một thời. Thuở xưa anh em chỉ biết nhau qua sinh hoạt hằng ngày ở LB, bây giờ gặp nhau bỗng như thấy gần gủi, thân mật từ bao giờ, bởi cũng cái tính ưa hỏi han, vui vẻ. Tế Dân là một ngư dân thời @, mọi thông tin mail đàn LB, Tế Dân đều nắm rõ. Thế mới biết còn nhiều anh em LB nhà ta , tuy không chấp bút, gõ phím để gửi ít tâm tình phản hồi, cũng vẫn âm thầm theo dõi diễn biến thăng trầm của gia đình LB, chẳng khác nào như anh lặng lẽ ra khơi, chập chùng nỗi trôi theo con sóng ngọn gió lên xuống, mong sao đừng bão tố mà yên bình đánh bắt được nhiều tôm cá, mang về niềm vui cho vợ con ở nhà.


Ảnh: Tế Dân và Phương chề bước vào gia trang của Hồ Đình Diệm

Theo hướng dẫn của anh, tài xế cho xe trực chỉ nhà HĐD. Đi qua nhà thờ Tân Tạo không xa, xe dừng lại trước căn nhà nhỏ nhắn, vách xây mái tôn, có cây vú sữa trước nhà. Trước khi tới đây, Tế Dân cũng đã báo cho chú em của Diệm giữ Diệm ở nhà, vì gã Diệm thường đi lang thang đây đó. Thế mà khi đến nơi, chú em phải chạy tìm. Một điều mà trước đây tôi chưa mấy tin, nay mới mục sở thị biết được gã này đã không bình thường. Vào nhà ,việc trước tiên là mỗi anh em trực diện trước gã để gã nhận diện. Đó là bài trắc nghiệm trí nhớ đầu tiên với Gã. Vừa lúi cúi mặc quần dài, cũng còn biết lịch sự, mặc dù anh em nói không cần phải khách sáo làm chi. Hầu như bất cứ ai , Gã ta cũng nhanh chóng điểm mặt chỉ tên ngay, có người còn chau mày suy nghĩ vài phút, có người nhớ ngay tên tuổi như tôi.


HĐD mời chúng tôi ra phòng ngoài của căn nhà ngói 3 gian, Ở giữa, bên trên là bàn thờ Chúa, phía dưới là bàn thờ Bố Mẹ, Bố mất đã lâu, còn Mẹ đã mất cách đây 2 năm. Chúng tôi tìm bức ảnh người vợ xấu số của Gã, đã mất cách đây hơn mười mấy năm, do bệnh ung thư, thấy treo trên bức vách ngăn bên phải. Một chiếc bàn chữ nhật nằm ở góc trái, chỉ có 3 chiếc ghế nhựa, Gã ngồi một ghế, Phương Chề một ghế, Tâm noir một chế, còn lại ai nấy tạm thời đứng, vì chẳng còn chiếc ghế nào nữa. Trong lúc hỏi han chuyện vãn đôi điều, thì chú em đi mượn chồng ghế. Chúng tôi ngồi quây quần quanh Gã, một bình trà củ kỹ không có trà, mà là nước ấm, Phổ trọc xách ra cái chai rượu Bầu Đá quen thuộc, mỗi người một ly, Diệm ngủ, Gã cũng tự nhận cái biệt danh này của mình, cũng nâng cốc. Gã uống chập chững, vì như Gã nói, là sợ uống rượu xong tối sẽ trằn trọc không ngủ được. Tranh thủ thời gian, Phổ trọc trao vội 2 triệu tiền mặt cho Diệm ngủ, dù số tiền ít ỏi nhưng cũng chan chứa trong đó tấm lòng yêu thương, thông cảm của anh em Labika, nhằm phần nào đem lại niềm an ủi trong lúc ngặt nghèo, khó khăn. Tôi cũng hỏi han Diệm Ngủ đủ điều, chẳng hạn chuyện sinh hoạt gia đình, Gã cho biết, tất cả chi phí sinh hoạt của hai anh em nhờ vào đồng tiền 1 triệu nhỏ nhoi , khiêm tốn của ông em làm nghề thợ nề, lúc có lúc không, tôi hỏi người em này thì cũng cho biết thểm rằng, do phải lo chăm sóc cơm nước cho anh mình, nên đáng lý công việc thợ nề thay vì làm nguyên ngày, hay nguyên buổi , thì phải bỏ giữa chừng để về nhà đi chợ nấu ăn cho anh, rồi phải thường xuyên đi tìm Diệm vốn thuờng lang đây đó với chiếc tà lỏn, như kẻ không nhà. Cũng còn may là Gã chưa dám đi xa, và cũng còn biết tìm nhà mà về, thỉnh thoảng đợi lâu không về , thì người em lại phải tất tưởi đi tìm. Công việc lang thang của Diệm là nhìn trời nhìn đất, ngó trăng ngó sao, lượm lặt đủ thứ hằm bà lằng. Một bản chất quen thuộc thường thấy ở những người bất thường, đặc biệt ở những người có trình độ học vấn, thông minh, sau quá trình sinh hoạt đời thường bỗng nhiên phải đương đầu với nhiều gian nan trắc trở, chịu đựng quá mức về mặt tình thần , hay do quá trình lăn xả đam mê một cái gì đó quá đáng, dẫn tới tình trạng lơ mơ như Diệm ngủ.

Ảnh: Của ít lòng nhiều

Sợ lỡ cơ hội gặp gỡ tại gia của Gã, chúng tôi yêu cầu Gã thay bộ đồ vía cho nó sạch sẽ, tươi trẻ hơn để chụp vài tấm hình kỷ niệm. Gã cũng ngoan ngoãn đi vào thay đồ. Tôi thấy trên mắc áo phía trong có chừng 5,7 cái áo sơ mi đã cũ. Gã chọn một chiếc màu trắng ngắn tay, mặc vội chưa kịp cài nút thì anh em tranh thủ chớp vài tấm hình. Rồi cũng có với nhau những tấm có cả hai anh em Diệm với quần áo hẳn hoi. Chúng tôi muốn kéo nhau tới đâu đó đấu láo, chuyện trò cho vui vẻ, nhưng ý kiến của Tâm Noir lại không muốn, vì sắp đến giờ hẹn dự đám hỏi ở nhà hàng, từ nhà Diệm ngủ muốn đi tìm một cái quán nước cho ra hồn, thì cũng phải đỏ hom con mắt,mất nhiều thời gian, may ra mới thấy một cái, chẳng khác nào từ trong bưng biền tìm về miền xuôi vậy.


Ảnh: Phổ trọc test bộ nhớ của Diệm trong khi Gã chuẩn bị bộ vía tiếp khách

Đúng giờ đã định, kéo theo Diệm ngủ cùng đi, chúng tôi cho xe ghé vào nhà cô em của Bác Thiện, đó là căn nhà đôi mặt tiền đường lớn của thị trấn Lagi, trong nhà bề bộn hàng quà xuân,kinh doanh đủ thứ. Chúng tôi hân hạnh được gặp lại Bác Thiện trong bộ complet thời đại khiến thấy Bác bệ vệ hẳn ra. Vẫn nụ cười meo méo, dưới cặp kiếng trắng đeo đẳng từ thuở nào, anh em còn nhớ Bác ngay cả dáng đi vòng kiềng khệnh khạng, nhiều khi cứ tưởng là do di chứng của người miền biển, vốn dĩ thường bước đi vất vả trên các bãi cát hằng ngày, hoặc phải ra khơi ghì chặt tấm lưới bắt cá, kéo tôm…mà đôi chân như thế. Nhưng không phải, đó là di truyền, không biết có đúng thế không. Chúng tôi được Bác mời vào bàn khách, đồng thời giới thiệu Diệm ngủ với Bác, dĩ nhiên Bác có thể không nhận ra, nhưng Diệm ngủ thì có biết Trần Kim Thiện ngày xưa lớp trên, mà khi giáp mặt thì Diệm ngủ lại ú ớ, lơ mơ không nhận ra, đồng thời lại không tin Bác Thiện đã là ông Cha.


Ảnh: Tại nhà cô em của Bác Trần Kim Thiện

Ảnh : Chụp trước hiên nhà Diệm, (từ trái) Tế Dân,Tâm noir,em Diệm, Diệm và Phương chề

Uống vội ly cà phê tốc hành do cô em phì nhiêu của Bác Thiện mời khách, chúng tôi r a xe theo thời gian ấn định của Tiệc Đính Hôn. Xe chúng tôi bây giờ đón đưa cả Bác Thiện, người em trai Viêt kiều của Bác, một đứa cháu khác của Bác. Tới nhà hàng, khách khứa đã đông đủ. Chúng tôi được Bác chọn một vị trí chếch bên trái và gần với sân khấu. Ngồi đợi cũng cả tiếng đồng mới khai tiệc. Diệm ngủ cũng nâng ly chén chú chén anh vui vẻ, cũng phê bình chê bai cách hát điệu ca thời nay chói tai gai mắt của lớp trẻ. Nhưng dường như Gã có vẽ xa lạ với những nơi phồn hoa đô hội như hôm nay tại nhà hàng này, chứng tỏ lâu rồi, chắc Gã đã bị tụt hậu, sống lại cái thời còn hút thúôc G, ăn cơm độn, nấu cơm củi rừng…nên thế giới hoa đèn, xập xình tiếng nhạc…đối với Gã xem ra còn xa lạ hơn cả những ông nhà quê lên thành thị.
Cám ơn Bác Thiện đã thân mời anh em Labika tham dự buổi tiệc Đính Hôn trùng hợp với chuyến thăm hỏi HĐD, một buổi tiệc đính hôn rình rang, sang trọng và đầy đủ nghi thức như một đám tiệc Thành Hôn chính thức. Trong chương trình văn nghệ góp vui , Bác Thiện nhà ta cũng đã hứng thú lên trình diễn một ca khúc nổi tiếng thời thuyền nhân vượt biên cách đây hai thập niên, tình khúc “10 năm tình cũ”. Bản nhạc đã gây xúc động cho nhiều người, trong đó có HĐD.


Ảnh: Tại bàn tiệc Đính Hôn


Ảnh: Bác Trần Kim Thiện (trái) với "Mười năm tình cũ"

NGƯỜI ĐI NHẶT QUÁ KHỨ

Đồ ăn quá nhiều, mà tâm hồn ăn uống có hạn , đến món lẫu cuối cùng dẫu tuyệt ngon, cũng đành gác đũa, HĐD vẫn thản nhiên ngồi ăn tiếp, trong khi anh em trong bàn đã ra ngoài hết, tôi cũng nán lại với Gã, chờ Gã thôn tính hết chén lẫu còn đầy . Gã như một đứa trẻ thơ: vô tư, thoải mái, không âu lo, không vội vã…Hình ảnh này làm tôi suy nghĩ và rất buồn, có ai ngờ rằng, một người bạn rất đỗi bình thường, bỗng sau một thời gian, hoá thành một người không bình thường, từ trạng thái này sang trạng thái khác ,một sự đổi thay đầy nghiệt ngã, . Với tôi, HĐD xem như không còn khả năng tư duy, không còn biết cảm nhận hỉ, nộ, ái, ố. Có chăng chỉ còn biết nhớ một chút quá khứ ,một vài biến cố trong di vãng, một thời học hành… khi ai đó nhắc đến, và chỉ nhắc đến mới nhớ ra. Có thể đó là một buổi tắm biển hằng tuần ngày thứ năm ở Bãi Dương, Hòn Chồng, mà có lần Gã chơi ngông, nếu không muốn nói “Vô lễ”, giựt phăng cặp kiếng cận nặng 6 độ đang đeo của Cha Giám Thị Damiano Đoàn Văn Lữ, người hiện nay thường xuyên gửi cho tôi chuyển tới toàn gia LB, bài Suy Gẩm hằng đêm trên e-mail, lặn sâu xuống nước rồi bơi ra xa, Cha Lữ cũng không phải tay vừa, phóng theo …rượt tới cùng, chộp được Gã, nhấn cho Diệm ta một chầu nước mặn thoả thuê. Gã Diệm bơi rất giỏi, nếu trời yên biển lạng, Gã có thể bơi từ Bãi Dương (gần CV Sao Biển cũ) ra tận Hòn Chồng, rồi bơi trở lại, khoảng cách cũng hơn cây số dài. Nhiều lần khác, lợi dụng những buổi tắm kế cận các cô choai choai, bây giờ gọi là giới xì-tin, Gã lặn sâu xuống nước, toucher một ả nào đó,rồi biến ra xa. Thế mới biết, HĐD ngày xưa đã có dấu hiệu của một con người ngông ngông khác thường, khác thường trong học vấn, ngông trong sinh hoạt đời thường. Ngay tại Lagi này, thuở trước Gã cũng đã từng bơi từ đất liền ra Hòn đảo nhỏ gần đó, khoảng cách cũng khoảng 2 cây số. Cú bơi liều lĩnh này đã bị ông già phát hiện, và cho Gã một trận nên thân, rồi còn cảnh cáo, nếu Gã tiếp tục bơi ra đó nữa thì sẽ biết tay ông. Từ đó nghe lời Bố, Gã không dám nữa. Một cái ngông khác cũng cần được nhắc ở đây, mà theo tôi là một kiểu ngông có định hướng, theo thông tin Hoàng Văn từ Canada, ngày xưa, lúc còn ở chủng viện LB, Gã thường qui định một tháng phải nhịn ăn một ngày, để bao tử nghỉ ngơi, lọc máu , và bữa nhịn ăn này Gã thường kéo Hoàng Văn Lô Tồ tới ngồi chung bàn, để ‘thanh toán phần ăn” của Gã, vì Văn Lô Tồ thuở ấy là chiếc tàu há mồm, ăn mấy cũng chẳng no.


Ảnh: Tại tiệc Đính Hôn

Sau quãng thời gian trải qua những biến cố trong đời, những người thân lần lượt đi, người vợ yêu quí nhất cũng vội vã chia lìa, các anh em ruột đều khó nghèo, người em hiện nay đang chung sống với mình thì cũng độc thân, vất vưởng qua ngày với nghề thợ nề., rồi cuộc sống của Diệm cũng long bong, vô định, đôi khi lao vào đam mê rượu chè, trầm tư hoang tưởng với những đường hướng dấn thân quá phi thường, mà chẳng bao giờ tới nơi tới chốn, nên rốt cục, Gã đành thúc thủ, đầu óc bần thần, chán chường, thất vọng…dẫn tới mất ngủ …mất ngủ riết dẫn tới lơ mơ,bơ phờ, hững hờ, vật vờ…như ngày hôm nay. Tôi có thể gọi Gã lúc này là “Người hành khất đi nhặt quá khứ”
Rời bàn tiệc đã gần 2 giờ chiều, Bác Thiện trân trọng mời anh em Labika cùng Tế Dân, HĐD, đến khu resort Ba Thật nằm sát biển cách đó không xa. Tại đây , không biết do sự thối thúc nào, hay do Chúa Thánh Thần soi sáng, hay Linh Đạo của Nội chiếu toả, mà Bác Thiện cùng anh em muốn lợi dụng cơ hội này, ngồi lại bên nhau tâm tình, không phải cho riêng mình , mà còn cho đại gia đình LB nữa, chính vì thế, mà cần phải phôn cho Bác Kim Anh, quản xứ gần đó tới chung vui, một kiểu chung vui “không quên nhiệm vụ”. Chờ một lúc, sau cú phôn thứ hai của Tế Dân, Bác Kim Anh đã thấy lù lù cua vào cổng chào, dựng xe, dở nón sáng láng một vầng trán rộng, tiến vào chiếc ghế bên cạnh Bác Thiện , đã dành sẵn cho Bác. Nếu chỉ ngồi nhâm nha uống vài lon Heineken, gắp chút mồi nhấm, tán hươu tán vượn thì cũng đâu gì khác hơn một cuộc hội nhậu chung vui lơn tơn của bao nhóm bạn bè, anh em thân hữu đồng môn khác. Điều khác biệt ở đây chính là nhân cơ hội này, cơ hội ngồi lại bên nhau, tận hưởng làn gió biển trong lành, mát mẻ, xua đi cái nóng ban trưa đang gia tăng nhiệt độ, mà bàn chuyện có tầm “vĩ mô” hơn, hữu ích hơn, cao cả hơn... Đó là câu chuyện xoay quanh cơ đồ LB nhà ta, tương lai của LB có tồn tại nữa không, hay sau khi lớp cây già này tuần tự bị đốn ngã, làm củi đun nấu cho mai sau? Nếu viễn cảnh của LB sẽ như thế ấy, thì quả là bi quan, thất vọng biết mấy. Đó là câu hỏi trăn trở của anh em Labika với hai Bác trong buổi gặp gỡ ngoại vi này. Cần phải có một đường hướng cụ thể trong tương lai, theo ý kiến chung là nên có chương trình trại hè cho các lớp F1, F2, để chúng làm quen với nhau, phải cho chúng tiếp cận, tham gia vào sinh hoạt của LB, dựatheo mô hình tổ chức sinh hoạt của Bố Mẹ , Ông Bà chúng, rồi dần dà chúng sẽ thay thế những vai trò thành viên, tổ nhóm hay lãnh đạo Gđ LB hôm nay, phải nuôi dưỡng thế hệ kế thừa, để dần dà “chuyển giao quyền lực”. Không thể “ đánh trống bỏ dùi”, kêu gọi tiếp nối mà để đókhông hành động, nói mà không làm. Không thể để thế hệ anh em mình qua đi, mà đàn con cháu sau này chỉ còn biết “tưởng niệm” di ảnh gia đình LB nhộn nhịp, tưng bừng, như một kỷ niệm, một hoài cổ, một chi tiết trong cuộc đời của chúng, không thể thấy một khoảng trống vô vọng sau này như thế, Phải có chương trình định hướng tương lai cho Gđ LB, để nó sẽ nối tiếp duy trì mô hình đoàn kết, yêu thương như hôm nay.



Ảnh: Tại Resort Ba Thật, Lagi-Bình Tuy

Muốn được như vậy, trước tiên, mỗi vùng nên tiến hành triễn khai các cuộc gặp gỡ, làm quen với nhau trước, rồi sau đó tiến tới chương trình trại hè tổng thể. Sinh hoạt bên cạnh Bố Mẹ chúng cho quen, rồi thả ra cho chúng tự sinh hoạt, tổ chức. Tập cho chúng lối sinh hoạt tự quản như truyền thống LB chúng ta. Ai bảo, những Gã tối ngày rượu bia tuý luý mà không làm được việc, “Say sưa không quên nhiệm vụ” là ở chỗ đó. Tôi cũng cảm phục nhiều anh em, cho dù họ có truyền thống ngồi lại với nhau là chèn chú chén anh, nhưng công việc gia đình, công việc xã hội, công việc của gia đình LB, và thậm chí công việc trên đầu trên cổ…vẫn hoàn thành tốt .
Trước khi chia tay Bác Kim Anh về làm mục vụ, Phổ Trọc cũng nhanh miệng chuyển giao HĐD lại cho Bác Trưởng Vùng , để Gã Diệm trở lại hoà nhập với anh em Phan Thiết. đồng thời nhờ Bác quan tâm nhắc nhở HĐD trong những dịp Họp Mặt…để Gã khỏi quên. Bác Kim Anh ra về cũng xem như anh em gác lại chuyện nhà LB, để tiếp tục cuộc vui không thể bỏ qua sau đó. Đây là cuộc vui mà mới đầu manh nha chỉ là cuộc thư giãn nhè nhẹ thân tình, giữa Bác Thiện và anh em Labika cùng HĐD và Tế Dân, không dè lại trở nên càng lúc càng náo nhiệt, tưng bừng, khi người nhà Bác Thiện đưa đến một chai Brandy chính tông, thể tích 1,75 l, cộng với bầu rượu trắng truyền thống lận lưng của Phổ trọc., chưa kể những thùng Heineken sẵn sàng ứng chiến được khênh ra từ sau tiệc cưới. Càng thấy trân trọng hơn, khi Bác Thiện không ngần ngại chăm sóc và chiêu đãi Labika tận tình với nhiều món ngon vật lạ, trong đó có hai món thuộc loại “Sơn hào hải vị”, đó là món heo rừng chính hiệu, do người nhà mua được từ biên giới Lào Việt, và món cá đục nướng, mà tôi vô cùng khoái khẩu thuở xưa. Anh em Labika và Bác Thiện đã trổ tài văn nghệ rình rang, rộn rã, mở hết cõi lòng, tạm thời xua đi mọi lo lắng, ưu phiền trong cuộc sống, mà thả hồn trong những câu chuyện vui, những ca khúc vang bóng một thời, quay về những gìong kỷ niệm thuở xa xưa…khiến làm vui lây, và gây hứng thú cho bao người khác. Những kỷ niệm ấy như hiện về đầy ắp trong từng anh em. Bầu không khí này đã vô hình chung lôi cuốn mọi người trong nhà họ trai , tới tấp tuôn đến càng lúc càng đông, cả hai dãy bàn dài gần như kín chỗ, khi tiếng đàn guitar của Phổ Trọc chập chùng, rộn rã rải âm thanh êm đềm, nhịp nhàng hoà trong những luồng gió mát rì rào thổi qua mấy tấm liếp che nắng, cùng tiếng ca của Tâm noir, Bác Thiện, Phương C, Tế Dân…nối tiếp đi qua nhiều ca khúc xưa làm cho các thực khách không khỏi hứng thú mà tập trung hát theo hoặc gõ nhịp theo, ngay cả người ngoài hành tinh như Diệm ngủ, cũng phải miên man cầm đũa gõ trống theo nhịp đàn, lời ca…Như tràng pháo sáng báo hiệu một cuộc nghinh xuân tưng bừng, một buổi trình diễn văn nghệ hấp dẫn, rộn rã tiếng cười, các thực khách già trẻ đều hoà chung tiếng hát, cùng vỗ tay, hợp bè, cùng đê mê, hào hứng.


Ảnh: Tại quán cà phê Tao Ngộ, Bà Rịa

Cuộc chia tay khá bịn rịn, khách đường xa như chúng tôi dự tính 5 giờ chiều lên đường trở về, mà vì cái vui còn lơ lững, món heo rừng còn lôi cuốn, và những bài ca còn lưu luyến chúng tôi, ghì bước chân chúng tôi, và bịn rịn nhất còn hệ tại ở chỗ, chính những người mới quen hôm nay đã tha thiết, thương yêu, muốn chúng tôi ở lại qua đêm nơi chốn này, nên mãi đến hơn 6 giờ mới yên vị lên xe. Để tạm thoả lòng các chiến hữu còn ở lại, Tế Dân như đại diện cho chúng tôi ở lại tiếp tục chiến đấu sau đó với mọi người, dĩ nhiên Bác Thiện cũng phải tiếp tục với con cháu họ trai ở đó.


ảnh: Cùng hát với nhau ở Resort Ba Thật

Xe chúng tôi chạy theo hướng dẫn của Phương chề tìm lại con đường dẫn về nhà HĐD, còn riêng Gã thì dĩ nhiên chẳng hề biết gì về đường xưa lối cũ nơi này. Trước khi xuống xe, Gã cũng còn tỉnh táo để mời anh em vào nhà uống nước, nhưng anh em khước từ để còn kịp giờ về lại Sài gòn, và một lần nữa Gã lại xin số điện thoại và địa chỉ của Tâm noir để liên lạc, trong khi những chi tiết này đã ghi cho Gã trong cuốn lịch cũ ở nhà vào ban sáng rồi, thế mà Gã cứ quên, và lần hỏi này không biết là lần thứ mấy trong ngày rồi, Gã lại hỏi địa chỉ. HĐD bây giờ thế đấy. Tâm noir đang có dự tính sẽ đưa Gã về sống ở một trung tâm an dưỡng dành cho người già neo đơn, những người bất hạnh…do một thầy tu xuất thiết lập, hy vọng dự tính này sẽ trở thành hiện thực, để đưa Gã vào sống ở đây, biết đâu sẽ thay đổi phần nào cuộc sống của Gã.
Chào giã biệt người hành khất đi nhặt quá khứ, chúng tôi trở về lại Bà rịa để thả Phổ trọc. Đường vắng, gió lành lạnh, tốc độ xe nhanh hơn, đôi khi lạc đường . phải cua lại. Cuối cùng, cũng tới Bà Rịa, lại một lần nữa anh em chưa chịu rời nhau, Phổ trọc yêu cầu tài xế ghé quán càphê Tao Ngộ quen thuộc, dù gì cũng đã trễ rồi, vể Sàigòn cũng phải 12 giờ đêm. Cái thú uống cà phê nghe nhạc sống của những tay lãng tử như Phổ trọc, Tâm noir, Phương Chề…không thể thiếu trong lúc này. Quán đựoc thiết kế theo kiểu dáng An Nam, 3 vài 6 cột gỗ (giả), ngói đỏ (chắc vậy, vì ban đêm), có các hoạ tiết điêu khắc quanh các mối nối. rải rác những chậu kiểng, bàn vuông, ghế cao, khuôn viên khá rộng, thông thoáng. Khi chung tôi vào, ban nhạc đang đệm cho một nữ ca sĩ hát một ca khúc xưa nghe khá quen, những bài của Ngô Thuỵ Miên, Trịnh Công Sơn, nối tiếp sau đó…đây là những ca khúc mà cỡ Phổ trọc ưa thích, có thể là lý do Gã thích vào quán này, trong khi bên dưới một số cặp dancing, nhìn qua thì họ không hẳn là đôi tình nhân, hay vợ chồng, mà chỉ là bạn bè, khách quen ở đây, thậm chí có khi hai chàng trai nhảy với nhau. Bất cứ ca sĩ nào lên hát cũng đều có người ra nhảy bên dưới. Tâm noir, sau khi sần sần với Brandy, Bầu Đá, và một chai Vodka ở đây, quyết định đăng ký hát một bài. Tôi không còn nhớ bản gì, nhưng Tâm noir trổ tài xướng ca lúc này là một cuộc tập dượt cho hè tới đây ở Xuân Lộc. Tiếng ca của Gã còn mướt lắm, nghe cũng đầy cảm xúc, nồng nàn…Chúng tôi ra về khi đồng hồ đã điểm 10g30 tối, thời điểm đóng cửa của phòng trà.


Ảnh: Ca sĩ Tâm noir với "Riêng một góc trời" ở Cà phê Tao Ngộ

Chia tay Phổ trọc, x e chuyển bánh, chỉ nghỉ lại một lúc bên lề đường để làm việc cá nhân, rồi chạy một mạch về Sài gòn cũng đã quá 12 giờ đêm, như bác tài đã ước định trước đó.Tôi ghé nhà Tâm noir nhẹ nhàng đẩy xe ra về. Đường phố Sài Gòn giờ này vẫn còn sinh hoạt như mới 9 giờ, hang quán còn xôn xao, xe cộ chạy cũng nhiều. Tôi chợt nhớ ra, hôm nay 23 tết, ngày đưa ông Táo đi chơi xa.
Một chuyến đi vô cùng ý nghĩa và đầy ấn tượng. Tôi thấy hạnh phúc thực sự, vì thời giờ dành cho nhau hôm nay không vô ích. Chắc chắn xuân năm có một ý nghĩa lớn lao cho mỗi anh em chúng tôi.

Sàigòn, 29 tết Canh Dần,12/2/2010
NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

CẢM NHẬN TỪ BUỔI HỌP MẶT ĐXT LẦN II

I.CƠ DUYÊN ĐẾN VỚI ĐỒNG XANH THƠ

Bao năm lăn lộn, ngược xuôi, nợ tầy trời vì cơm, áo, gạo, tiền. Tôi ngồi lại nhìn dòng đời trôi nhanh,rồi nhìn lại mình kỹ hơn, soi lòng mình sâu thẳm hơn, thấy trong đó ngỗn ngang bao suy tư, lo lắng, bao chán chường, đau thương, bao vui buồn quạnh quẽ...đã từng dằn vặt, dây dưa, quyến luyến, hoặc lãng đãng đi qua đời mình, xoáy sâu trong tâm hồn mình, hoặc da diết hơn với những cuộc chia ly tất yếu với người thân, với bạn bè...những thứ ấy cứ theo ngày tháng đọng lại , chất đầy trong kho hồn ký ức,rồi cơ hội nào đó , có thể là cuộc gặp gỡ xôn xao, ồn ả như dịp Họp Mặt Kỷ niệm 40 năm LB năm qua, hay cuộc Hội ngộ Thân tình của Labika vừa rồi, hay một dịp trầm tư nguyện cầu bên di ảnh một người thân , một người bạn trong hương khói nồng nàn...chúng tuôn về như vũ bão, như sóng cả ngập tràn con tim mà không ai có thể đắp đê ngăn nổi, tôi đứng đó thẩn thờ tiếc nuối như kẻ dại khờ, chậm chân vớt vát đứơc chúng bằng những chiếc vợt thơ mòng manh, nhỏ nhắn. Đó là những dòng thơ mà cái vợt của nó còn quá thô sơ, khập khiễng, trên cây vợt thơ ấy là những con cá lòng tong, ngây ngô ...nhưng cũng đem về cho hồn mình chút thoã mãn cơn thèm khát tinh thần, với những dĩ vãng trong kho hồn quá tải đổ ra vội vàng, chớp nhoáng . Tôi trải lòng mình ra trên thơ cho mình bớt xót xa, nhung nhớ. Những câu thơ còn mang nét sơ khai, hoang mạc,nó trỗi dậy như một kẻ liệt giường lâu năm, chợt đâu có được một phương dược diệu kỳ, mà mừng vui bứơc đi trong tư thế liêu xiêu, khập khiểng, nhưng trong lòng thì phơi phới xôn xao. Tôi phải trả nợ tôi bằng những dòng thơ ấy , những dòng thơ viết xong để cho mình thưởng thức, viết ra cho vơi cơn thèm quá khứ của những đời người bước vào ngưỡng 60, mà nỗi thao thức thì canh cánh bên lòng. . Thời gian cứ cạn dần, với lũ trẻ thì còn thong dong, nhưng với mình thì...như bắt đầu vội vả.

Ảnh: Các tác giả tại kỳ họp mặt ĐXT lần 2
Từ những dòng thơ mộc mạc ấy, tôi tung lên thư đàn xin chia sẻ với những người tôi yêu mến, những bạn bè xưa, những người yêu thơ, và… chỉ chừng đó là đủ. Cũng đã có nhiều người góp ý, khích lệ, tán thưởng, hay phê bình cho thơ hay hơn. Tôi cũng đã từng lướt qua nhiều cánh đồng thơ trên các trang mạng, báo giấy...chỉ để ngắm nhìn, và thưởng thức các món ăn của nhiều tác giả "nấu nướng" quá ngon lành,làm mình ăn mà thèm mãi...Chợt đâu một ngày nọ , sau cái ngày đáng nhớ của LB họp mặt Kỷ Niệm 40 năm, nhà thơ Cao Huy Hoàng lên tiếng trên Mail gợi ý đón nhận những bài thơ sơ khai cho vào trang Đồng Xanh Thơ, do anh phụ trách, tôi cũng bất ngờ và cảm thấy ngại ngùng, đắn đo. Bởi vì lâu lắm rồi, cách đây 37 năm , tức khoảng năm 1973, khi còn ngồi trong lớp 12 LB, thả hồn rong chơi ngoài khung cửa sổ,viết lên một bài thơ tâm tình gửi cho một tờ báo ở Đà lạt, rồi không lâu sau đó tôi đã bất ngờ nhận được tờ báo biếu, mà trong đó bài thơ của mình đã được đăng. Một thằng bạn đang học tuốt mãi Trường Thiên Hựu Huế, cũng nhận ra bài thơ với tên của mình, cũng vội vàng viết thơ chúc mừng. Dĩ nhiên cái cảm giác lúc ấy cũng khác xa với cảm giác khi được anh Cao Huy Hoàng gợi ý đưa một số bài thơ của tôi vào Đồng Xanh Thơ.Khác ở chỗ tuổi làm thơ và thời gian làm thơ, nhưng vẫn thấy có một cảm giác chung là thấy được sự trân trọng, quý mến, của những người phụ trách trang thơ. Cảm nhận về hai lần được đăng thơ trên đây xem ra còn nằm ở một tần số rung cảm thấp hơn so với lần đầu tiên bước chân vào nghề báo vào tháng 12 năm 1993 tại Sài gòn,sau một tháng trời vất vả, gian nan, được một tờ báo khoa học đăng bài báo đầu tiên vào đầu năm 1994, khi một mình lang thang vào thành phố bắt đầu cuộc phiêu lưu "tha phương cầu thực".

Ảnh: Nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, phụ trách trang ĐXT
Một tháng 30 ngày đầu tiên ấy, vừa tiền nhà, tiền ăn, tiền mua tư liệu...chỉ đủ trang trải 15 ngày, và 15 ngày còn lại chỉ biết ăn bám bạn bè, hoặc chờ giờ trưa, giấc tối đột nhập nhà ai đó sẵn bữa kiếm ăn, nên một bài báo được đăng đầu tiên ấy, dẫu chỉ được trả nhuận bút có 40.000 đồng, mà quí giá như cả lạng vàng, bởi vì đó là một tín hiệu báo cho mình biết, con đường phía trước sẽ suôn sẻ, nó như giải toả được tâm lý tự ái của một gã đàn ông bất lực trước thời thế nghiệt ngã, nay vớ được cơ hội đổi đời, cảm thấy hy vọng mang lại niềm ủi an cho vợ con mình, đang ngóng chờ từng ngày những đồng tiền xương máu ở đất khách quê người.
Ảnh: Cây Đại thụ Văn Thơ Công Giáo VN, nhà thơ Xuân Ly Băng, nói chuyện tại buổi họp mặt

II.CƠ MAY ĐƯỢC SUM VẦY VỚI ĐỒNG XANH THƠ

Thế là thơ mình như kẻ bụi đời , vô gia cư bỗng dưng được chủ vườn trân trọng , thân thương bê vào trồng trong cánh đồng tươi thắm: ĐỒNG XANH THƠ. Cái tên nghe quá trẻ trung, phơi phới, mà đời mình thì đã muộn màng hưng phấn, nhưng thà muộn màng còn hơn là mãi mãi cứ làm con ngựa hoang phiêu lãng mà phí phạm cuộc đời.
Có bước chân vào mới thấy, đây không phải là đấu trường cho thi hữu khua chiêng múa trống, không phải là sân chơi để kẻ thắng người thua, để so kè kẻ cao người thấp…Mà đây đích thực là SÂN PHƠI cho mọi thi hữu “phơi” những vần thơ hướng về Chân, Thiện, Mỹ. Một sân phơi rộng rãi đón đầy nắng ấm Trời Cao, đêm về sáng láng ánh trăng huyền diệu của Nữ Trinh Vẹn Tuyền. Mùa đông sang đã có tấm chăn êm nồng ấm hồn thi hữu, ngày hè nắng oi bức đã có gió Thần linh tươi mát xua tan, tứ thời bát tiết đều có thơ giải bày.

Ảnh: Nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, nhà thơ Trần Vạn giả, tác giả Ng Văn Phương và nhà thơ Xuân Ly Băng
Tôi không nghĩ có được vinh dự sum vầy với các thi nhân đến từ khắp mọi miền quê hương, để tham dự ngày họp mặt Đồng Xanh Thơ lần 2, ngày 20 tháng 1 năm 2010 tại Toà Giám Mục Phát Thiết. Mặc cho thân xác đớn đau, quỵ ngã, tôi vẫn thấy cái khí lực tràn lên trong tôi, bất chấp mọi cản trở để quyết tâm lên đường theo tiếng gọi của Thánh Thơ, vì cánh đồng xanh mơ cứ vẩn vơ trước mặt. Một ngày rất đáng nhớ, ngoài trời mưa tầm tả suốt đêm, sáng ra mưa vẫn rỉ rả lan cả buổi chiều, ấy thế mà lòng ai cũng ấm áp lạ thường.
Cơn đau vẫn dai dẵng theo tôi suốt đêm, sau một chầu rượu thuốc quanh quẩn với những bạn thơ cả già lẫn trẻ, tôi dần dần thấy gần gủi từng nguời anh , từng đứa em…rất mộc mạc, đơn sơ, chân thật. Tôi thấy mình sớm hoà tan trong chén rượu tình thơ.Cái bầu không khí của đêm làm quen bỗng như liều thuốc bổ, làm tỉnh lại sau một cơn đau ái ngại, lạc bầy. Thì ra ngoài anh Cao Huy Hoàng, cũng còn có những người biết tới mình từ thuở trước, từ một số bản nhạc ra đời trong chương trình Ca Lời Hằng Sống thuở nào ở Nha Trang, những bài thơ mang danh tánh của một người mới toanh trong làng thơ đã đủ tuổi trưởng thành, đang chuẩn bị xuất xưởng tập thơ thứ 44, mà tôi chỉ mới ghé vào từ tập 39, trong đó tôi chỉ là một cọng cỏ nhỏ nhoi, khép mình trong một vườn thơ có nhiều cây thơ đã vươn cao toả bóng từ bao đời, mà trong đó phải nhắc tới cây đại thụ trong làng thơ Công Giáo Việt Nam, nhà thơ Xuân Ly Băng, tức Đức Ông Lê Xuân Hoa, tác giả của những vần thơ nổi tiếng của Công Giáo Việt Nam, là nguồn cảm hứng cho biết bao khúc nhạc ra đời, và đã đi vào lòng người giáo dân VN.

Ảnh: Nhà thơ Mặc Trầm Cung, người dẫn chương trình họp mặt
Cũng đêm gặp gở trù bị bên những gói cơm hộp đã nguội tanh vì ham vui tán gẫu, tôi được biết nhạc phẩm mới sáng tác “Đồng Chiêm ơi” mà tác giả không ai khác, chính là nhạc sĩ Đăng Quang, đương kim phó ban Thánh Nhạc Địa Phận Nha Trang, cũng không quên bộ râu quặp ấn tượng của nhà thơ trẻ Lê Đình Bảo, luôn năng nổ, nhiệt tình vì việc chung.Anh mang năng nhiều trọng trách quan trọng khác cho Đồng Xanh Thơ, gồng gánh nhiều nhiệm vụ cấp thiết cùng anh Cao Huy Hoàng, như quay phim chụp ảnh, dàn trang, biên tập bài vở …vv…Hai dĩa cá kho đưa cay cũng vơi dần với mấy xị rượu thuốc, những câu chuyện vui buồn hàn huyên rôm rả, những tiếng cười dòn tan giữa thời khắc nữa khuya, làm anh Cao Huy Hoàng lo ngại, đã vội vàng khép cánh cửa gỗ để khỏi làm ảnh hưởng đến chốn tôn nghiêm của Toà Giám Mục.

Ảnh: Nhà thơ Lê Đình Bảo, phát biểu ý kiến tại buổi họp mặt
Cũng từ nơi đây tôi tiếp tục làm quen với nhà thơ Mặc Trầm Cung, người mà số lượng tác phẩm đã đạt đến một con số, theo như ước tính của anh Cao Huy Hoàng, là khoảng 300 trang giấy in. Một vài tập thơ đã in sẵn của các thi hữu, với cử chỉ rụt rè ái ngại, hay khẳng khái, thân tình, cũng thấy truyền tay tặng cho nhau, để cùng trao cho nhau một tấm lòng trân quí còn hơn cả những vần thơ trau chuốt nhất, đẹp đẽ nhất. “Họ từ những đau khổ lớn lao mà đến” là tập thơ nói về Các Thánh Tử Đạo VN mà nhà thơ Mic.Cao Danh Viện, trân trọng gửi tặng cho tôi kèm theo bút tích tác giả, Rồi những tập thơ của nhà thơ Nghinh Nguyên ở Đà Lạt, hay một tập thơ in trang trọng bằng kỹ thuật in hiện đại, với hình minh hoạ bìa trước bìa sau, là tập “Dìu sóng chân mây” của thi nhân Thái Anh, mà toàn bộ chi phí in ấn đều do nhà xuất bản Hội Nhà Văn VN tài trợ, cũng được chính tác giả đề tặng. Cũng rất trìu mến với những nhà thơ trẻ mà trong đó tôi có dịp gặp gỡ là hai nhà thơ hiện đang là tu sinh ở Nha Trang, nhà thơ Mai Thích, bút danh Bạch vân,nhà thơ Đức Tuấn...
Nhưng trân trọng không kém là tập thơ “Ca Dao Truyền Giáo” của trưởng lão làng thơ Công Giáo VN, Đức Ông Xuân Ly Băng, lần đầu tiên được Ban Tổ Chức truyền tay trao tặng cho từng người, cũng là một món quà rất giá trị, một tập thơ gối đầu giường dành cho các bậc cha mẹ, các giáo lý viên và những ai trăn trở vì đàn con cháu ngày nay, đang có chiều hướng quên đi truyền thống cội nguồn ca dao Việt nói chung và cội nguồn thi ca Công Giáo VN nói riêng.
Theo tường trình của Ban Biên Tập, thì kể từ khi ra đời đến nay, ĐXT đã đón nhận sự cộng tác của 77 tác giả, trong đó có 14 tác giả nước ngoài, tác giả nhỏ tuổi nhất là cháu Hồng Ngọc, 15 tuổi đang học lớp 8, và tác giả cao tuổi nhất là nhà thơ Thế Kiên, 92 tuổi. Trong số này, có 8 linh mục, 9 bà xơ, 9 nam tu sĩ. Những tác giả trên 70 tuổi có thể kể đến thi sĩ Kim Ngôn, Hương Quê, Nguyễn Tiến Hùng (anh ruột của Lm Nguyễn Kim Anh). Tôi không nghe báo cáo số lượng tác giả nam, nữ cách biệt nhau bao nhiêu, nhưng chắc chắn nhìn qua cũng biết là số tác giả nữ ít hơn nhiều, trong số này phải kể đến một số như nhà thơ Marie Nguyễn Thị Xuyến (nhiều người cứ lầm tưởng là một bà xơ), nhà thơ Kim Hoa…Riêng nhà thơ Nguyễn Thị Xuyến là người năng nổ, thẳng thắn, đơn sơ, chị luôn khiêm tốn không múôn được gọi là nhà thơ, mà chỉ muốn là một người làm thơ vì yêu mến Chúa mà thôi, chị còn đáng đựoc anh em thương quý ở chỗ, chị là một tân tòng, đã từng bước vào làm con Chúa với biết bao thử thách, mà thử thách nặng nề nhất lại đến từ những người công giáo toàn tòng. Mong chị sẽ mãi mãi vững vàng tin vào con đừơng mà Chúa đang dẫn chị đi.

Ảnh: Nhà thơ Trăng Thập Tự nói chuyện tại buổi họp mặt
Cũng không đuợc biết có bao nhiêu tác giả tu xuất, mà trong số này tình cờ tôi biết đến môt cựu LB bút danh An Thiện Vương, tên thật là Đoàn Xuân Vũ,mà khi tra hỏi thì anh nói là LB lớp nhỏ, không biết lớp nào. Một đáng tiếc khác mà Ban Tổ Chức vô cùng quan tâm, là nhà thơ Vũ Thuỷ, một người phụ nữ người khiếm thị làm thơ rất sâu sắc, mà có lẽ vì hoàn cảnh xa xôi, hoặc vì thời tiết đã không đến được.
Sau một đêm ngon giấc nhờ cơn mưa rì rầm, kèm theo những cơn gió xào xạc đong đưa, anh em thức dậy nhìn thời tiết mà âu lo cho những tác giả sẽ không đến được buổi họp mặt này, tuy nhiên số lượng có mặt hiện tại cũng đã đủ để tiến hành triễn khai chương trình họp mặt bình thuờng. Với tôi, dịp này bỗng dưng có được nhiều cái đầu tiên: Lần đầu tiên họp mặt, lần đầu tiên được diện kiến những nhà thơ kỳ cựu đáng kính nể, ngoài nhà thơ Xuân Ly Băng, nhà thơ Linh Mục Trăng Thập Tự, còn được biết đến nhà văn Linh Mục Nguyễn Hữu An, nhà thơ Linh Mục Nguyễn Kim Tốt…
Mặc dù đã bước vào tuổi thượng thọ, nhà thơ Xuân Ly Băng vẫn còn rất minh mẫn, buổi nói chuyện của Ngài trước các nhà thơ trong buổi họp mặt này, đã nói lên sự ưu ái và sự quan tâm đặc biệt đến lực lượng văn nghệ sĩ Công Giáo kế thừa, mà trong đó ý Ngài muốn gia tăng số lượng, nâng cao chất lượng để đem Chúa vào trong thơ ,văn, và từ thơ văn dẫn đưa người tín hữu sống kết hiệp với Chúa bền chặt hơn, yêu thương tha nhân thiết thực hơn.
Tôi vinh dự được gặp nhà thơ Trăng Thập Tự trong dịp này, có lẽ còn quá mới mẻ và khá bất ngờ sau khi Cao Huy Hoàng giới thiệu tôi với tất cả thi hữu trong đêm họp trù bị, tôi vẫn chưa nhận diện được Linh Mục Võ Tá Khánh, một người mà từ lâu tôi vẫn tỏ lòng hâm mộ và kính nể Ngài về công sức và tài năng được Ngài thể hiện qua những vần thơ chất chứa một niềm tin Ki Tô giào sâu thẳm, pha nhiều nét duyên dáng, lãng mạng. Từ khi còn ngồi trên ghế chủng viện, tôi vẫn thường nghe nhắc đến tên tuổi của nhà thơ Trăng Thập Tự này. Ngay cái bút danh thôi cũng đã thấy Chúa trong thơ của Ngài rồi. Thế mà sau khi bắt tay Ngài, tôi vẫn không nhận ra Ngài. Một vị Linh Mục thật đơn sơ, bình dị, phóng khoáng, đạo đức. Tôi phải ghé nhỏ vào tai Cao Huy Hoàng để được tái xác nhận, đó là nhà thơ Trăng Thập Tự. Mới đây Ngài đã mở ra một chương trình vui chơi xướng hoạ khá hấp dẫn, dành cho bất cứ ai làm thơ tham gia.Trò chơi nhắm cổ vũ, giáo dục giới thanh niên thiếu biết sống đời khiết tịnh, giữ gìn trong trắng trước khi đi đến hôn ước…Ngoài mục đích trên, cuộc thi còn nhắc nhở những người làm thơ học hỏi lại kỹ thuật làm thơ, đặc biệt về thơ Đường luật, thơ thất ngôn bát cú,mà tác giả đưa ra bài thơ đề xướng có tựa đề SEN GIỮA LẦY,như sau:
Về thăm vườn củ thuở E đen
Thanh thoát ô kìa một đoá sen
Trong trắng giữa lầy, trong trắng gọi
Lặng thầm trên sóng, lặng thầm khen
Gọi mời ai giữ gìn cao quý
Khen ngợi ai kia đoái phận hèn
Hướng tạ ơn trời chưa nháy mắt
Ngoảnh nhìn sen đã nở đua chen
Lm.Trăng Thập Tự

Ảnh: Nhạc sĩ Lê Đăng Ngôn, phổ nhạc bài thơ SEN GIỮA LẦY, đang trình diễn với cây saxo đệm cho giọng ca của ca trưởng nhà thờ Chính Toà Phan Thiết.
Bài thơ đã gợi hứng cho nhạc sĩ Lê đăng Ngôn phổ nhạc bài SEN GIỮA LẦY 2, và ngay trong buổi sinh hoạt họp mặt buổi sáng, với cây saxo trên tay, nhạc sĩ Lê Đăng Ngôn đã réo rắt cất cao tiếng kèn làm nền cho giọng ca của một ca trưởng nhà thờ chính toà Phan Thiết, mời gọi mọi tâm hồn rán giữ trinh trong nơi bùn lầy thế tục mà vinh danh sự Thánh Thiện cao cả.
Một điều đầu tiên khác nữa, là được gặp mặt nhà báo, nhà thơ đồng hương Nha Trang, Trần Vạn Giả. Từ khi bước chân vào làng báo Sàigòn, tôi đã từng gặp anh trên từng tờ báo, qua những bài phóng sự, ghi nhận, phản ảnh…hoặc qua những bài thơ chân chất hương xưa, dạt dào nỗi niềm trắc ẩn…mà chẳng được gặp mặt. Tôi mong đợi có dịp gặp anh, chờ những lần họp mặt tất niên của một số tờ bào ở Sàigòn, vẫn không thấy anh. Giờ đây, gặp anh thì mới được biết lý do: “Xa quá không vào được”. Bây giờ gặp nơi đây qua Đồng Xanh Thơ, tôi đã biết được rất nhiều về một con người có nhiều tài năng về thơ phú, những tâm sự xót xa được anh rót ra từng lời khi ngồi cạnh nhau ngấu nghiến gói xôi to đùng ăn sáng, được BTC lo toan nằm ngoài chi phí của chương trình, tôi lại thấy anh vẫn còn vất vả, nặng nợ với cơm áo…mà mãi cho đến nay mọi chi phí gia đình cùng vẫn dựa dẫm hoàn toàn vào đồng tiền nhuận bút của anh. Tôi lại thán phục anh nhiều hơn khi anh lên bục diễn đàn nói chuyện về thơ văn, mà qua đó tôi đã học hỏi được thêm nhiều về qua trình và các hình thức diễn đạt thơ từ xưa tới nay, từ đạo tới đời. Anh đã khái quát và hệ thống lại một cách rất công phu về thơ, để mọi người dễ dàng nắm bắt, thông hiểu mà tìm hướng đi thích hợp cho mình khi sáng tác và thưởng thức.

Ảnh: Nhà thơ Trần Vạn Giả đang nói chuyện về thơ trong buổi họp mặt
Ngay tại giờ cơm trưa mà bên ngoài trời vẫn mưa rỉ rả, chúng tôi được BTC chu đáo chuẩn bị khá thịnh soạn, với cá kho, thịt sườn, măng xào, canh khổ qua…bia bọt đầy đủ. Bình thường ở một nơi bình thường trong khung cảnh mưa gió như thế này, mà ngồi lại bên mâm cơm nóng hổi với món mắm chiên thì quả là “ăn ngậm mà nghe”, huống gì lúc này lại là bữa cơm có cùng khung cảnh như thế, nhưng là nơi ngai toà nguy nga, thực khách mới lạ, cộng với những nhân vật cao trọng chưa hề gặp, như Giám Mục Huỳnh Văn Nghi chẳng hạn, cùng các thi nhân từ khắp mọi miền về dự, thì bữa ăn không thể nằm trong tuyệt vời, mà là trên cả tuyệt vời nữa là đằng khác. Không những thế, môt nhân vật bậc đàn anh xưa của LB là Bác Nguyễn Đình Sáng, sau 35 năm bây giờ tình cờ cũng được gặp lại nơi đây, trong vai trò Linh Mục Quản Lý Giáo Phận Phan Thiết.

Ảnh: Tác già và nhà thơ Linh Mục Trăng Thập Tự
Ngoài trang mục ĐXT, hôm nay lần đầu tiên tôi biết được một trang mục khác cũng nằm trong trang web dunglac.org, cũng dành cho giới văn thơ, đó là trang VƯỜN Ô LIU, trang này dành cho những tác giả chuyên về văn xuôi, nó đã được ra mắt kể từ sau kỳ Họp Mặt ĐXT lần thứ 1 vào ngày 20 tháng 1 năm 2008.

III.CƠ HỘI THĂNG TIẾN VỚI ĐỒNG XANH THƠ

Đến với ĐXT, tôi có dịp học hỏi nhiều kinh nghiệm về làm thơ nơi những bậc thầy về thơ, nơi những thi hữu gắn bó mật thiết vì tình yêu thơ, được nghe những lời chia sẻ chân thật của những người đi trước nói về thơ. Từ đó để thấy mình còn quá kém cỏi, thô thiển trước tài năng và tinh thần cầu thị thơ văn của từng anh em.
Tôi tưởng mình như chỉ là một mảnh vỡ trong muôn vàn mảnh vỡ tâm hồn, bị thời gian, không gian, hoàn cảnh…đập vỡ tan tành, nằm rải rác, ngỗn ngang, vớ vẩn…và may lắm cũng chỉ có một mảnh vỡ, có cơ hội hữu duyên Ân Thiêng, thấy được ánh sáng mặt Trời Tối Cao. Nhưng khốn thay, chính nó vẫn chưa đựợc mài dũa trơn láng, để phản chiếu, hồi âm, chuyển tải… thật nhiều, thật sáng, thật mạnh về Tin Vui Cứu Độ từ Nguồn Sáng Tối Cao. May mắn thay mãnh vỡ ấy được người thiết kế cho vườn thơ trân trọng, mang về, cố gắng chùi rửa để một ngày nào đó, sáng loáng hơn, lên màu hơn, mà dát lên trang trí cho bảng chữ “ĐỒNG XANH THƠ” rực rỡ hơn lên.

Ảnh: Lễ Đồng Tế: Lm Trăng Thập Tự, lm.Xuân Ly Băng,lm.Nguyễn Hữu An, Lm.Hoàng Kim Tốt.

Muốn được như thế, tôi phải tự mài dũa tôi, bằng lời kinh sám hối, bằng Thánh lễ đỉnh cao. Tôi mài dũa tôi bằng những cuộc cọ xát nhẵn nhụi từ các thi nhân, bằng hữu, tôi mài dũa tôi bằng những tiếng lòng đấu tranh Chân, Thiện, Mỹ… Và chiều nay, trong buổi lễ đồng tế gồm những vị Linh Mục tài năng, Thánh thiện, tôi được hạnh phúc chung lòng với mấy mươi tâm hồn thơ, cũng được quây quần bên cung Thánh, tôi thấy mình lại được mài dũa, để không phải trở thành nhà thơ cho mình, mà nhà thơ của Chúa, qua sự linh ứng của Đấng Thánh linh. Biết nói gì đây, biết tâm tình gì đây, khi tình Chúa quá cao vời, tình người thật đằm sâu, mà tôi đây thật mọn hèn, có gì xứng đáng dâng Chúa đâu.
Ý Chúa vô cùng nhiệm màu, mà cái vợt thơ của tôi quá mỏng manh, rách rưới, làm sao vớt được. Nhiều thi hữu đạo đức,Thánh thiện đã làm được điều đó, nhiều đấng bậc mục tử đã diển đạt được điều đó. Họ đang nghiêm trang trên bàn Thánh, họ đang gục đầu nguyện cầu bên cạnh tôi.
Từ niềm hy vọng sau Thánh Lễ này, từ buổi họp mặt thân tình này, anh em mỗi người đi mỗi ngã, trở về với đời thường. Nhưng trong lòng ai đó, khi trở về , vẫn mang theo nỗi thao thức về đường hướng phát triển cánh đồng thơ trong tương lai. Chúng ta có quyền nghĩ tới những Câu Lạc Bộ thơ văn Công giáo, rồi đây sẽ mọc lên trên từng Giáo Phận, sẽ thấy nhiều tài năng ca ngợi Thiên Chúa tuyệt vời qua văn thơ. Muốn được như thế, chúng ta trước tiên phải chung sức nguyện cầu, và bắt tay vào việc.

Sàigòn, ngày 24.01.2010

GIANG TỊNH
(Nguyễn văn Phương)

BẾN CŨ



NHỚ BẾN DUY TÂN

Tuởng người quen đã ra đi thì đi mãi
Tưởng bến cũ sẽ chờ hoài rồi quên cả đò xưa
Ai ra đi từ bến cũ Duy Tân ấy mà chẳng chút ngậm ngùi
Để khi nghe phạm trù dấu ái ấy chợt vấn vương
Sáng thức dây soi gương thấy râu tóc đã bạc
Cặp kiếng viễn cứ đầu mũi mà trêu ngươi
Như thuở nào từng kịch cỡm bao kẻ già đời
Để giờ đây quanh ta ơi ới tiếng ông tôi
Thôi! Ai trẻ trung cứ tha hồ vọng tưởng
Ta thân già ngồi đấu láo chuyện ngàn xưa
Ba mươi lăm năm bây giờ đong lại kể
Một ngày thôi đâu đủ để mà vui
Thôi ta cứ ôm cây đàn, người tình si mê củ
Giọng hát lâu nay quên mất thành cổ tích nghìn sau
Câu ca thuở nào cũng đâu vội phôi pha bạc bẻo
Cùng theo ta ân nghĩa gối chăn
Đưa ta bồng bềnh sông nước, tưởng thuyền cập bến
Bến Duy tân lưu luyến những năm nào

Sàigòn, 7/10/2009
GIANG TỊNH

CỘI NGUỒN

Nơi tôi sinh ra, chỉ nghe bọ mạ tôi kể. Làm người ai chẳng muốn về nguồn, về nơi chôn nhau cắt rốn một lần, để tưởng nhớ Bọ Mạ mình đã sinh mình ra, nuôi mình lớn lên, dẫu chỉ vài tháng ở đó trước khi lên tàu xuôi Nam năm 1954:

NỘI HÀ QUÊ TÔI
____________________________________

Nội hà ơi
Biết khi mô tôi trở về
Để nghe hơi thở nặng nề quê tôi
Bốn bề sông nước chơi vơi
Quanh năm thác lũ chẳng ngơi bao giờ

Bọ mạ tôi sương nắng một đời
Lái chài vất vả thương hoài khổ đau
Cù lao ở trửa làm sao
Chung quanh là nác biết đàng nào thoát ra
Thế nên mới gọi Nội hà
Trong cồn ngoài nác biết là quê tôi
Đội ơn Thiên Chúa Ba Ngôi
Đã cho tiên tổ sống đời bình an
Nơi này dù rất lầm than
Mà bao thế hệ họ hàng lớn khôn


Sài gòn, 8/9/2009
GIANG TỊNH

__________________________________
NHÀ TÔI Ở NỘi HÀ
__________________________________
Nhà tôi ở Nội hà
Khi tôi vừa đẻ ra
Mạ tôi trốn ra xa
Vì quả bom hàng tạ
Tây nó quăng sau nhà
Mà nó chẳng nổ ra

Nhà tôi ở Nội hà
Có vườn cà đằng trước
Có hàng đước phía sau
Cây sầu đâu lấp ló
Bên lu nước tròn vo
Gáo dừa màu đen đỏ
Nước soi gương thấy rõ
Cả một cõi tình quê



Đất nước tôi còn đó
Dấu xưa vẫn còn đây
Con quốc đã xa bầy
Biết ngày nào về đây
Xây lại căn nhà tổ

Đêm nằm co ro ngủ
Chân ủ vô bao bố
Cả nhà nằm trong ổ
Cỏ rơm thơm mùi ló
Bếp lả đỏ ấm nhà

Gió thổi qua khe cửa
Đèn dầu phụng chao nghiêng
Tim bọ đập theo sóng
Giấc ngủ nỏ bình yên
Lo nốc lật ngoài đước

Rồi cơn bão đi qua
Cả nhà cười ha hả
Tạ ơn Chúa Cao cả
Bằng lời kinh tha thiết
Bão đã biết tránh xa

Nhưng bão vẫn không tha
Sau trận mưa xối xả
Một đêm đông không nhà
Nước cuốn đi thật xa
Căn nhà đầy yêu dấu
Trên nóc nhà còn thấy
Anh tôi vẫy tay chào
Theo con tàu ra biển

Thế mà
Cả nhà vẫn bình yên
Anh tôi cũng còn nguyên
Dù nhà trôi ra biển
Bọ mạ lại lên nốc
Thắp đèn dầu cầu nguyện

Sàigòn, ngày 22/9/2009
GIANG TỊNH

NGÀY 13 THỨ 6

Khai trương Blog này nhằm cái ngày 13 thứ 6, ngày mà tụi Tây tin chắc là xui tận mạng, không biết mình sẽ xui như thế nào, vì ngày tháng đối với mình là một khái niệm thời gian giống hệt nhay trừ phi những hiện tượng thời tiết nắng mưa, nóng, lạnh, làm mình thấy nó khác đi đôi chút, hoặc ngày tháng của mùa đông thì tâm trạng con người khác với mùa hè. Khi mình không tin thì tự dưng nó chẳng có làm mình phải quan tâm, dẫu nó xui hay là hên. Ngày 13 thứ 6 liên quan tới ngày Chúa Chịu Chết, nên đôi khi mình nghĩ là Chúa muốn nhắc nhỡ là hãy nhớ đến Chúa chứ không hẳn là ngày mà Chúa gây đau khổ cho con người.
Ngày khai trương này cũng đáng ghi nhớ đấy chứ.