Để Đà Nẵng thực sự là một thành phố văn hóa (kỳ 1)
Wednesday, November 26, 2008 8:20:40 AM
Đầu tiên của Blog là một bài viết của Mr Bùi Văn Tiếng nhé!
Bản-sao-văn-hóa-Đà-Nẵng
Nhiều người cho rằng nếu kinh tế là lợi thế, đúng hơn là ưu thế của Đà Nẵng thì văn hóa ở thành phố đầu biển cuối sông này lại không được như vậy, bởi chỉ cần so với hai tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên-Huế láng giềng lân cận là có thể thấy ngay cái bất lợi của Đà Nẵng về văn hóa:
Phố mới bên hữu ngạn sông Hàn hôm nay. Ảnh : QUỐC TÍN
Đà Nẵng không có phố cổ như Hội An, không có thánh địa như Mỹ Sơn, càng không có hoàng cung lăng tẩm như Huế, nói chung trên con đường đến với các di sản văn hóa thế giới, Đà Nẵng chưa từng được xem là chỗ dừng chân, may mà còn có Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm-pa cũng gọi là độc nhất vô nhị, chứ không thì... Cách nghĩ đó rất sát thực tế nhưng dường như phần nào đó đã đồng nhất văn hóa với phần xác của văn hóa.
Cũng không ít người nghĩ rằng văn hóa Đà Nẵng chỉ là phiên bản văn hóa đất Quảng mà lại là một phiên bản đang dần nhạt phai không còn giữ nguyên được sắc màu chính bản. Thật ra có bị mang tiếng là phiên bản văn hóa đất Quảng thì đã làm sao, con cái nào mà chẳng là bản sao của cha mẹ, và cái bản sao ấy càng lớn càng khác cái bản chính kia cũng là thế gian sự thường, đòi hỏi bản sao suốt đời phải giống hệt như bản chính là không thấy đặc tính vừa ổn định vừa phát triển của văn hóa.
Vấn đề là trong quá trình vận động để khác với bản-chính-văn-hóa-đất-Quảng, bản-sao-văn-hóa-Đà-Nẵng phải biết gạn đục khơi trong, giữ được cái đáng giữ; đồng thời biết làm phong phú thêm bằng những giá trị mới, những tinh hoa mới.
Đặt vấn đề như vậy là để có thể bình tĩnh và tự tin hơn khi bàn về văn hóa Đà Nẵng, đồng thời để tìm cách phát huy thế mạnh riêng có của Đà Nẵng trên lĩnh vực này. Chẳng hạn thành phố hoàn toàn có khả năng đầu tư xây dựng bên bờ sông Hàn một thư viện thật hiện đại và tầm cỡ - một thư viện mà khi đến đó khách phương xa sẽ được tận mắt chứng kiến người Đà Nẵng ham mê và trân trọng tri thức như thế nào.
Tất nhiên đi liền với cái thư viện để đời ấy, phải ra sức làm một việc khó hơn nhiều là nâng cao văn hóa đọc, sao cho người Đà Nẵng không bao giờ cảm thấy xa lạ, thậm chí dị ứng với sự uyên bác. Không phải ngẫu nhiên mà gần đây có người đặt vấn đề nên xem tủ sách gia đình là một trong những tiêu chí để đánh giá trình độ văn minh của xã hội, bởi không ít nhà tuy có tủ rượu mà toàn rượu ngoại đắt tiền rất sang trọng song lại vắng bóng tủ sách gia đình.
Hoặc người ta từng đặt vấn đề tìm hiểu hồi nhỏ các nhà văn học văn và nhận thấy dẫu không phải ai trong số họ cũng là học sinh giỏi văn theo chuẩn mực của nhà trường nhưng hầu hết đều thích thú, thậm chí say đắm vẻ đẹp văn chương và đều ham mê tìm đọc tác phẩm văn chương.
Có điều khi các nhà văn tương lai trở thành người cầm bút thực thụ, tự mình tạo ra được một số giá trị văn chương nhất định thì niềm thích thú đắm say ấy có thể vẫn còn và có thể ngày càng thích thú đắm say hơn, chỉ riêng nỗi ham mê kia ở không ít người dường như lại có phần sao nhãng. Cho nên tạo ra một chỗ đọc lý tưởng và một văn hóa đọc cần thiết còn là cách để đẩy mạnh sáng tác văn học nghệ thuật ngang tầm với bề dày truyền thống và thực tiễn phát triển sôi động của một đô thị như Đà Nẵng.
Đà Nẵng - giữa phố và làng
Trong phạm vi đất Quảng, Đà Nẵng được xếp vào loại đô thị hóa sớm, có lẽ chỉ sau Hội An. Đã đô thị hóa ắt phải chấp nhận sự xuất hiện của phố cùng tất cả khác biệt giữa phố với làng, tức là chấp nhận làng - phố phân chia. Song đáng chú ý là ngay buổi đầu của quá trình đô thị hóa - tức từ cuối thế kỷ XIX, số phận lịch sử đã đẩy Đà Nẵng vào cái thế làng - phố phân chia khá độc đáo, có thể nói thấm đẫm màu sắc chính trị: “Đứng bên ni Hàn ngó qua bên tê Hà Thân nước xanh như tàu lá, đứng bên tê Hà Thân ngó về Hàn phố xá nghênh ngang...”. Đương thời con sông Hàn trở thành ranh giới không chỉ giữa phố với làng mà còn giữa địch với ta.
Trải qua bao biến thiên của lịch sử, màu sắc chính trị nói trên phai nhạt dần nhưng sự khác biệt làng - phố ở hai bờ sông Hàn thì vẫn còn nguyên cho đến năm cuối cùng của thế kỷ XX, khi cầu Sông Hàn được bắc ngang sông Hàn như cố níu đôi bờ gần lại. Có thể nói cầu Sông Hàn không chỉ nối liền hai không gian địa lý nằm ở đôi bờ con sông chảy giữa lòng thành phố mà còn nối liền hai trình độ văn minh đô thị. Đây là điều mà các cây cầu bắc qua sông Hàn trước đây chưa thể có. Chẳng hiểu bắt nguồn từ đâu và từ bao giờ, Đà Nẵng từng lưu truyền câu nói mang màu sắc dân gian: “Con gái quận Ba không bằng bà già quận Nhất”.
Có lẽ đây là cách cư dân hữu ngạn sông Hàn tự trào về tình cảnh “thua chị kém em” của mình so với bà con sống bên tả ngạn. Chả thế mà suốt bao năm, mỗi khi có việc sang sông, người bên hữu ngạn vẫn quen gọi là... đi Đà Nẵng, mặc dầu họ đang trú ngụ ngay trên... đất Đà Nẵng. Có thể nói với cầu Sông Hàn, người Đà Nẵng khá thành công trong việc phố hóa, đô thị hóa hữu ngạn sông Hàn mới ngày nào còn là mấy làng chài nghèo khó cách trở đò giang...
Tất nhiên người Đà Nẵng sống trong lòng “phố xá nghênh ngang” buổi đầu đô thị hóa vẫn tìm cách thích nghi với những cảnh quan khác biệt so với cảnh quan làng: “Cảnh mô vui cho bằng cảnh đất Hàn - Dưới sông tàu chạy, trên đàng hỏa xa - Kho dầu Đồng Lợi, Ba-toa - Trường Lăng, máy gạo bước qua chợ Hàn”; đồng thời ra sức giữ cho mình những nét đẹp văn hóa làng, chẳng hạn như tình cảm cố kết cộng đồng của từng họ tộc và của các họ tộc trong cùng một làng vẫn tiếp tục bền chặt...
Người ta thường điều chỉnh/lành mạnh hóa lối sống đô thị chủ yếu bằng sự chế tài luật định nhưng cũng có thể bằng những ràng buộc về đạo đức, chẳng hạn như biết ăn năn, biết ân hận, biết cảm thấy lương tâm cắn rứt, biết sợ miệng thế gian chê trách..., hay bằng những ràng buộc về mặt tâm linh - chẳng hạn như biết sợ thần linh quở phạt... - mà đây vốn là sản phẩm quen thuộc và là thế mạnh lâu đời của quan hệ cộng đồng làng xã.
Cho nên dẫu áp lực đô thị hóa lớn đến đâu và mang sắc thái gì đi nữa thì làng vẫn tiếp tục đồng hành lâu dài với người Đà Nẵng, trước hết về phương diện văn hóa. Bây giờ Đà Nẵng hầu như không còn trẻ chăn trâu nên lễ hội mục đồng làng Phong Lệ một thời vang bóng chắc mãi mãi chỉ là hoài niệm xa xôi, nhưng lễ hội cầu ngư ở các làng ven biển như Xuân Hà, Mân Thái... thì hoàn toàn có khả năng trở thành điểm nhấn trong đời sống tinh thần của ngư dân và cư dân Đà Nẵng. Đương nhiên lễ hội dân gian nói ở đây phải là lễ hội thật chứ không phải kiểu lễ hội sân khấu hóa chỉ cốt phục vụ du khách tham quan.
Vấn đề đặt ra là Đà Nẵng phải biết phát huy lợi thế đi sau để có thể vừa mở rộng được không gian đô thị vừa giữ được chất làng trong quá trình đô thị hóa. Khi Đà Nẵng vừa được tách ra từ tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, từng có ý kiến cho rằng một thành phố trực thuộc Trung ương sẽ không còn chỗ cho cây tre. Thực ra cây tre và bao nhiêu dấu ấn nông thôn khác - thậm chí cả một khu rừng và cả một làng quê - vẫn có thể đàng hoàng tồn tại trong không gian đô thị.
Tình trạng không ít đô thị ở nước ta đang bị bạch tuộc hóa, bị chiếm dụng đất đai một cách tham lam hỗn hào, từ đó làm biến đổi dữ dội cảnh quan nông thôn có thể là do sự ham hố lợi nhuận của các nhà đầu tư nhưng chủ yếu do xuất phát từ nhận thức sai lệch phiến diện về mối quan hệ làng - phố. Cho nên Đà Nẵng trên đường đô thị hóa rất cần những phố xá đông người, rất cần những ngôi nhà cao tầng..., đồng thời cũng rất cần những làng chài ven biển, những làng nghề truyền thống, những làng sinh thái với các nhà vườn nằm hai bên con đường quê hiện đại mà vẫn cổ xưa - mặt đường có thể lát gạch thay cho bê-tông và lề đường vẫn là vệ cỏ xanh mơn mởn..., và đặc biệt rất cần những phẩm chất ngời sáng được chắt lọc/chắt chiu từ văn hóa làng.
Đà Nẵng - giữa nếp sống thị dân và nếp sống nông dân
Nói đến đô thị là nói đến việc hình thành các tuyến đường phố, bến bãi tàu xe, phương tiện giao thông vận tải, hệ thống cấp-thoát nước; là nói đến các nhà sách, nhà in, tòa soạn báo, nhà hát, rạp chiếu bóng; là nói đến các khách sạn, nhà hàng, siêu thị và tất nhiên là các… thương cảng. Những thứ ấy ở nông thôn không có, và có thể nói nông thôn hầu như không tạo ra lực cản gì đối với quá trình đô thị hóa trên các lĩnh vực này.
Và cũng không ở đâu khác ngoài nông thôn đã góp phần đáng kể vào việc mở rộng không gian đô thị của Đà Nẵng đương đại. Hiện nay, không gian đô thị Đà Nẵng đang phát triển theo hai hướng: một là tạo các hành lang ven biển nhằm tận dụng ưu thế mặt tiền; hai là phố hóa hữu ngạn sông Hàn trước hết bằng những cây cầu đã có và sắp có. Nhưng cả hai hướng phát triển ấy cũng chỉ có thể làm cho không gian đô thị quen thuộc xưa nay thêm hoàn chỉnh mà thôi. Trong tương lai, người Đà Nẵng rất cần quy hoạch và xây dựng thêm một số quần thể kiến trúc và không gian phố thị theo hướng tây tiến dọc hai bờ sông Trường Định, hoặc nam tiến dọc hai bờ sông Cổ Cò nối Đà Nẵng với phố cổ Hội An...
Nhưng nói đến đô thị còn là nói đến việc hình thành nếp sống thị dân, nếp sống văn minh đô thị. Giữa nếp sống thị dân với nếp sống nông dân có mối quan hệ rất đặc thù: một mặt nếp sống thị dân cần phải cố bảo lưu những yếu tố tích cực vốn là mặt mạnh trong nếp sống nông dân - những phẩm chất ngời sáng được chắt lọc/chắt chiu từ văn hóa làng, chẳng hạn như tình làng nghĩa xóm bền chặt, sự quan tâm lẫn nhau trong cuộc sống hằng ngày “tối lửa tắt đèn có nhau”...; đồng thời nếp sống thị dân phải không ngừng vượt lên sức ì cố hữu của nếp sống nông dân để nhanh chóng thích nghi với nhịp sống công nghiệp.
Giữ cho được mối quan hệ đặc thù này rất khó, bởi nếu không bảo lưu được những yếu tố tích cực vốn là mặt mạnh trong nếp sống nông dân thì rất dễ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, mà không vượt lên được sức ì cố hữu của nếp sống nông dân thì coi như tự mình nông thôn hóa thành thị.
Có thể nói không ít tập quán sinh hoạt chỉ phù hợp với nông thôn, đúng hơn là chỉ phù hợp với một nông thôn nghìn đời xưa cũ, đang tác động tiêu cực đến nỗ lực xây dựng nếp sống văn minh đô thị của người Đà Nẵng ngày nay. Nhiều tâm lý cố hữu thường thấy ở nông thôn như “gà ghét nhau tiếng gáy”, hay “một miếng giữa làng…”, hay “trâu buộc ghét trâu ăn”, hay “quan cần dân trễ”, hay “phép vua thua lệ làng”… phải chăng đã trở thành lực cản của xã hội hiện đại, nghĩa là của đô thị văn minh.
BÙI VĂN TIẾNGBản-sao-văn-hóa-Đà-Nẵng
Bản-sao-văn-hóa-Đà-Nẵng
Nhiều người cho rằng nếu kinh tế là lợi thế, đúng hơn là ưu thế của Đà Nẵng thì văn hóa ở thành phố đầu biển cuối sông này lại không được như vậy, bởi chỉ cần so với hai tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên-Huế láng giềng lân cận là có thể thấy ngay cái bất lợi của Đà Nẵng về văn hóa:
Phố mới bên hữu ngạn sông Hàn hôm nay. Ảnh : QUỐC TÍN
Đà Nẵng không có phố cổ như Hội An, không có thánh địa như Mỹ Sơn, càng không có hoàng cung lăng tẩm như Huế, nói chung trên con đường đến với các di sản văn hóa thế giới, Đà Nẵng chưa từng được xem là chỗ dừng chân, may mà còn có Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm-pa cũng gọi là độc nhất vô nhị, chứ không thì... Cách nghĩ đó rất sát thực tế nhưng dường như phần nào đó đã đồng nhất văn hóa với phần xác của văn hóa.
Cũng không ít người nghĩ rằng văn hóa Đà Nẵng chỉ là phiên bản văn hóa đất Quảng mà lại là một phiên bản đang dần nhạt phai không còn giữ nguyên được sắc màu chính bản. Thật ra có bị mang tiếng là phiên bản văn hóa đất Quảng thì đã làm sao, con cái nào mà chẳng là bản sao của cha mẹ, và cái bản sao ấy càng lớn càng khác cái bản chính kia cũng là thế gian sự thường, đòi hỏi bản sao suốt đời phải giống hệt như bản chính là không thấy đặc tính vừa ổn định vừa phát triển của văn hóa.
Vấn đề là trong quá trình vận động để khác với bản-chính-văn-hóa-đất-Quảng, bản-sao-văn-hóa-Đà-Nẵng phải biết gạn đục khơi trong, giữ được cái đáng giữ; đồng thời biết làm phong phú thêm bằng những giá trị mới, những tinh hoa mới.
Đặt vấn đề như vậy là để có thể bình tĩnh và tự tin hơn khi bàn về văn hóa Đà Nẵng, đồng thời để tìm cách phát huy thế mạnh riêng có của Đà Nẵng trên lĩnh vực này. Chẳng hạn thành phố hoàn toàn có khả năng đầu tư xây dựng bên bờ sông Hàn một thư viện thật hiện đại và tầm cỡ - một thư viện mà khi đến đó khách phương xa sẽ được tận mắt chứng kiến người Đà Nẵng ham mê và trân trọng tri thức như thế nào.
Tất nhiên đi liền với cái thư viện để đời ấy, phải ra sức làm một việc khó hơn nhiều là nâng cao văn hóa đọc, sao cho người Đà Nẵng không bao giờ cảm thấy xa lạ, thậm chí dị ứng với sự uyên bác. Không phải ngẫu nhiên mà gần đây có người đặt vấn đề nên xem tủ sách gia đình là một trong những tiêu chí để đánh giá trình độ văn minh của xã hội, bởi không ít nhà tuy có tủ rượu mà toàn rượu ngoại đắt tiền rất sang trọng song lại vắng bóng tủ sách gia đình.
Hoặc người ta từng đặt vấn đề tìm hiểu hồi nhỏ các nhà văn học văn và nhận thấy dẫu không phải ai trong số họ cũng là học sinh giỏi văn theo chuẩn mực của nhà trường nhưng hầu hết đều thích thú, thậm chí say đắm vẻ đẹp văn chương và đều ham mê tìm đọc tác phẩm văn chương.
Có điều khi các nhà văn tương lai trở thành người cầm bút thực thụ, tự mình tạo ra được một số giá trị văn chương nhất định thì niềm thích thú đắm say ấy có thể vẫn còn và có thể ngày càng thích thú đắm say hơn, chỉ riêng nỗi ham mê kia ở không ít người dường như lại có phần sao nhãng. Cho nên tạo ra một chỗ đọc lý tưởng và một văn hóa đọc cần thiết còn là cách để đẩy mạnh sáng tác văn học nghệ thuật ngang tầm với bề dày truyền thống và thực tiễn phát triển sôi động của một đô thị như Đà Nẵng.
Đà Nẵng - giữa phố và làng
Trong phạm vi đất Quảng, Đà Nẵng được xếp vào loại đô thị hóa sớm, có lẽ chỉ sau Hội An. Đã đô thị hóa ắt phải chấp nhận sự xuất hiện của phố cùng tất cả khác biệt giữa phố với làng, tức là chấp nhận làng - phố phân chia. Song đáng chú ý là ngay buổi đầu của quá trình đô thị hóa - tức từ cuối thế kỷ XIX, số phận lịch sử đã đẩy Đà Nẵng vào cái thế làng - phố phân chia khá độc đáo, có thể nói thấm đẫm màu sắc chính trị: “Đứng bên ni Hàn ngó qua bên tê Hà Thân nước xanh như tàu lá, đứng bên tê Hà Thân ngó về Hàn phố xá nghênh ngang...”. Đương thời con sông Hàn trở thành ranh giới không chỉ giữa phố với làng mà còn giữa địch với ta.
Trải qua bao biến thiên của lịch sử, màu sắc chính trị nói trên phai nhạt dần nhưng sự khác biệt làng - phố ở hai bờ sông Hàn thì vẫn còn nguyên cho đến năm cuối cùng của thế kỷ XX, khi cầu Sông Hàn được bắc ngang sông Hàn như cố níu đôi bờ gần lại. Có thể nói cầu Sông Hàn không chỉ nối liền hai không gian địa lý nằm ở đôi bờ con sông chảy giữa lòng thành phố mà còn nối liền hai trình độ văn minh đô thị. Đây là điều mà các cây cầu bắc qua sông Hàn trước đây chưa thể có. Chẳng hiểu bắt nguồn từ đâu và từ bao giờ, Đà Nẵng từng lưu truyền câu nói mang màu sắc dân gian: “Con gái quận Ba không bằng bà già quận Nhất”.
Có lẽ đây là cách cư dân hữu ngạn sông Hàn tự trào về tình cảnh “thua chị kém em” của mình so với bà con sống bên tả ngạn. Chả thế mà suốt bao năm, mỗi khi có việc sang sông, người bên hữu ngạn vẫn quen gọi là... đi Đà Nẵng, mặc dầu họ đang trú ngụ ngay trên... đất Đà Nẵng. Có thể nói với cầu Sông Hàn, người Đà Nẵng khá thành công trong việc phố hóa, đô thị hóa hữu ngạn sông Hàn mới ngày nào còn là mấy làng chài nghèo khó cách trở đò giang...
Tất nhiên người Đà Nẵng sống trong lòng “phố xá nghênh ngang” buổi đầu đô thị hóa vẫn tìm cách thích nghi với những cảnh quan khác biệt so với cảnh quan làng: “Cảnh mô vui cho bằng cảnh đất Hàn - Dưới sông tàu chạy, trên đàng hỏa xa - Kho dầu Đồng Lợi, Ba-toa - Trường Lăng, máy gạo bước qua chợ Hàn”; đồng thời ra sức giữ cho mình những nét đẹp văn hóa làng, chẳng hạn như tình cảm cố kết cộng đồng của từng họ tộc và của các họ tộc trong cùng một làng vẫn tiếp tục bền chặt...
Người ta thường điều chỉnh/lành mạnh hóa lối sống đô thị chủ yếu bằng sự chế tài luật định nhưng cũng có thể bằng những ràng buộc về đạo đức, chẳng hạn như biết ăn năn, biết ân hận, biết cảm thấy lương tâm cắn rứt, biết sợ miệng thế gian chê trách..., hay bằng những ràng buộc về mặt tâm linh - chẳng hạn như biết sợ thần linh quở phạt... - mà đây vốn là sản phẩm quen thuộc và là thế mạnh lâu đời của quan hệ cộng đồng làng xã.
Cho nên dẫu áp lực đô thị hóa lớn đến đâu và mang sắc thái gì đi nữa thì làng vẫn tiếp tục đồng hành lâu dài với người Đà Nẵng, trước hết về phương diện văn hóa. Bây giờ Đà Nẵng hầu như không còn trẻ chăn trâu nên lễ hội mục đồng làng Phong Lệ một thời vang bóng chắc mãi mãi chỉ là hoài niệm xa xôi, nhưng lễ hội cầu ngư ở các làng ven biển như Xuân Hà, Mân Thái... thì hoàn toàn có khả năng trở thành điểm nhấn trong đời sống tinh thần của ngư dân và cư dân Đà Nẵng. Đương nhiên lễ hội dân gian nói ở đây phải là lễ hội thật chứ không phải kiểu lễ hội sân khấu hóa chỉ cốt phục vụ du khách tham quan.
Vấn đề đặt ra là Đà Nẵng phải biết phát huy lợi thế đi sau để có thể vừa mở rộng được không gian đô thị vừa giữ được chất làng trong quá trình đô thị hóa. Khi Đà Nẵng vừa được tách ra từ tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, từng có ý kiến cho rằng một thành phố trực thuộc Trung ương sẽ không còn chỗ cho cây tre. Thực ra cây tre và bao nhiêu dấu ấn nông thôn khác - thậm chí cả một khu rừng và cả một làng quê - vẫn có thể đàng hoàng tồn tại trong không gian đô thị.
Tình trạng không ít đô thị ở nước ta đang bị bạch tuộc hóa, bị chiếm dụng đất đai một cách tham lam hỗn hào, từ đó làm biến đổi dữ dội cảnh quan nông thôn có thể là do sự ham hố lợi nhuận của các nhà đầu tư nhưng chủ yếu do xuất phát từ nhận thức sai lệch phiến diện về mối quan hệ làng - phố. Cho nên Đà Nẵng trên đường đô thị hóa rất cần những phố xá đông người, rất cần những ngôi nhà cao tầng..., đồng thời cũng rất cần những làng chài ven biển, những làng nghề truyền thống, những làng sinh thái với các nhà vườn nằm hai bên con đường quê hiện đại mà vẫn cổ xưa - mặt đường có thể lát gạch thay cho bê-tông và lề đường vẫn là vệ cỏ xanh mơn mởn..., và đặc biệt rất cần những phẩm chất ngời sáng được chắt lọc/chắt chiu từ văn hóa làng.
Đà Nẵng - giữa nếp sống thị dân và nếp sống nông dân
Nói đến đô thị là nói đến việc hình thành các tuyến đường phố, bến bãi tàu xe, phương tiện giao thông vận tải, hệ thống cấp-thoát nước; là nói đến các nhà sách, nhà in, tòa soạn báo, nhà hát, rạp chiếu bóng; là nói đến các khách sạn, nhà hàng, siêu thị và tất nhiên là các… thương cảng. Những thứ ấy ở nông thôn không có, và có thể nói nông thôn hầu như không tạo ra lực cản gì đối với quá trình đô thị hóa trên các lĩnh vực này.
Và cũng không ở đâu khác ngoài nông thôn đã góp phần đáng kể vào việc mở rộng không gian đô thị của Đà Nẵng đương đại. Hiện nay, không gian đô thị Đà Nẵng đang phát triển theo hai hướng: một là tạo các hành lang ven biển nhằm tận dụng ưu thế mặt tiền; hai là phố hóa hữu ngạn sông Hàn trước hết bằng những cây cầu đã có và sắp có. Nhưng cả hai hướng phát triển ấy cũng chỉ có thể làm cho không gian đô thị quen thuộc xưa nay thêm hoàn chỉnh mà thôi. Trong tương lai, người Đà Nẵng rất cần quy hoạch và xây dựng thêm một số quần thể kiến trúc và không gian phố thị theo hướng tây tiến dọc hai bờ sông Trường Định, hoặc nam tiến dọc hai bờ sông Cổ Cò nối Đà Nẵng với phố cổ Hội An...
Nhưng nói đến đô thị còn là nói đến việc hình thành nếp sống thị dân, nếp sống văn minh đô thị. Giữa nếp sống thị dân với nếp sống nông dân có mối quan hệ rất đặc thù: một mặt nếp sống thị dân cần phải cố bảo lưu những yếu tố tích cực vốn là mặt mạnh trong nếp sống nông dân - những phẩm chất ngời sáng được chắt lọc/chắt chiu từ văn hóa làng, chẳng hạn như tình làng nghĩa xóm bền chặt, sự quan tâm lẫn nhau trong cuộc sống hằng ngày “tối lửa tắt đèn có nhau”...; đồng thời nếp sống thị dân phải không ngừng vượt lên sức ì cố hữu của nếp sống nông dân để nhanh chóng thích nghi với nhịp sống công nghiệp.
Giữ cho được mối quan hệ đặc thù này rất khó, bởi nếu không bảo lưu được những yếu tố tích cực vốn là mặt mạnh trong nếp sống nông dân thì rất dễ đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc, mà không vượt lên được sức ì cố hữu của nếp sống nông dân thì coi như tự mình nông thôn hóa thành thị.
Có thể nói không ít tập quán sinh hoạt chỉ phù hợp với nông thôn, đúng hơn là chỉ phù hợp với một nông thôn nghìn đời xưa cũ, đang tác động tiêu cực đến nỗ lực xây dựng nếp sống văn minh đô thị của người Đà Nẵng ngày nay. Nhiều tâm lý cố hữu thường thấy ở nông thôn như “gà ghét nhau tiếng gáy”, hay “một miếng giữa làng…”, hay “trâu buộc ghét trâu ăn”, hay “quan cần dân trễ”, hay “phép vua thua lệ làng”… phải chăng đã trở thành lực cản của xã hội hiện đại, nghĩa là của đô thị văn minh.
BÙI VĂN TIẾNGBản-sao-văn-hóa-Đà-Nẵng
