Bai viet

tai lieu nhiep anh

Subscribe to RSS feed

PHIM 4D VÀ PHIM 5D

Gần đây , công nghệ hình ảnh 3D ( gọi là phim nổi ) là lúc đỉnh điểm của sự nổi tiếng trên thế giới.
Trong kết nối với sự tăng trưởng cực kỳ nhanh chóng của bộ phim , video và ngành công nghiệp giải trí rạp chiếu phim 3D đã được cải thiện bằng cách thêm các hệ thống mô phỏng đặc biệt. Kết quả là, một 3D hybrid hình ảnh và các hiệu ứng đặc biệt được thiết ngay chỗ của người xem ( một cơn gió mạnh thổi , hiệu quả của splashing nước , hiệu quả của " chạy của chuột ) , cũng như hiện đại hóa của các rạp chiếu phim ( ảnh hưởng của mưa, khói , sét, bong bóng ) Đến rạp chiếu phim 4D, người xem không chỉ thấy và nghe , nhưng cảm thấy mọi thứ xảy ra trên màn hình.


Trong vài năm qua, công nghệ rạp chiếu phim 4D tiên tiến hơn nữa !Cuộc đua về chất lượng để được sự hài lòng của khách hàng đã tạo ra một sự thay đổi về chất và lượng - các công nghệ mới. Thay cho màn hình phẳng thông thường - đến màn hình tối tân hình trụ.Các rạp chiếu phim 4D thế hệ mới tiếp tục giới thiệu các công nghệ tiên tiến nhất . Màn hình đã trở nên lớn hơn, hình ảnh chất lượng tối đa. Movable ghế, xoay nền tảng - nó đã được sử dụng để làm cho rạp chiếu phim 4D mới thậm chí còn hấp dẫn hơn và đạt được cảm giác ngay cả thực tế hơn.

Màn hình phẳng trong một rạp chiếu phim thông thường không có biến dạng trên bề mặt của nó cung cấp hình ảnh tuyệt vời , nhưng bị giới hạn trong khả năng để chơi 3D hình ảnh so với màn hình hình trụ.Do thiếu một màn hình uốn cong như tất cả các đối tượng 3D trong bộ phim chỉ có thể di chuyển vuông góc với bề mặt của màn hình.
Khi vào rạp chiếu màn ảnh hình trụ có thể tùy chọn màn hình : 180 °, 240 °, 300 °, và 360 °. Kích thước màn hình rạp chiếu phim 4D phụ thuộc vào đường kính . Các công nghệ để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng , cho phép tạo ra các màn hình có đường kính 7-25 mét
và nhiều hơn nữa ! Số lượng khán giả có thể được 20-220 người !
Kích thước màn hình có thể dễ dàng tính bằng công thức :Dx 3,14 (D- đường kính) . Kể từ khi một trong những hiệu ứng quan trọng nhất của rạp phim này là một hình ảnh 3D, để đảm bảo chất lượng tối ưu của màn hình tối thiểu hiệu ứng đặc biệt được coi là 180 °.Hệ thống hình ảnh trong rạp chiếu phim 4D đặc biệt cấu hình để truyền hình ảnh , bao gồm ít nhất 3 bộ phận của 60 ° mỗi màn hình tỉ lệ 16:09 .
Với màn hình 3D hình trụ chuyển động của các đối tượng trong bộ phim không còn hạn chế . Bây giờ hình ảnh không chỉ có thể di chuyển vuông góc với màn hình, nhưng trong tất cả các hướng khác , tạo ra hiệu ứng tuyệt vời!
Phim chiếu35 mm phim - chất lượng cao nhất về màu sắc và sắc thái . Có thể được sử dụng như một rạp chiếu phim 4D với màn hình phẳng hay một rạp 4D với một màn hình hình trụ .
Công nghệ chiếu hình ảnh video kỹ thuật số đã được đặc biệt phù hợp cho việc sử dụng linh hoạt hơn trên màn hình kích cỡ khác nhau và với việc sử dụng các nền tảng di động. Ngược lại với bộ phim 35 mm , phương pháp này sử dụng một hình ảnh trên máy vi tính . Nó là lý tưởng cho các rạp chiếu phim 4D với màn hình nhỏ , nó là rất dễ dàng hoạt động và cài đặt. Quy trình kỹ thuật số video ghi lại trong một GTSI máy tính đặc biệt ( hình trụ hình ảnh máy phát điện ),cung cấp phát đồng bộ của tất cả các kênh được sử dụng video và quản lý chiếu đặc biệt.Độ phân giải hình ảnh được sử dụng trong màn hình chiếu kỹ thuật số có thể đạt tới 1024 * 768 pixels ! Đây là VERY hình ảnh chất lượng cao. GTSI đã được thiết kế đặc biệt để sử dụng với một rạp chiếu phim 4D và cho phép tạo các hình ảnh trên màn hình bằng cách sử dụng từ 2 đến 12 dòng video thu thanh đồng thời.
Số kênh được sử dụng để tạo ra một hình ảnh hình trụ phụ thuộc vào loại và kích thước của màn hình. Để có được hình ảnh chất lượng cao được sử dụng ở đây là số kênh tùy thuộc vào định dạng rạp chiếu phim 4D :
2 kênh màn hình phẳng
6 kênh của màn hình hình trụ 180 °
8 kênh của màn hình hình trụ 240 °
10 kênh của màn hình hình trụ 300 °
12 kênh của màn hình hình trụ 360
Các nền tảng di động đã được đặc biệt tạo ra cho màn hình rạp chiếu phim 4D với đường kính 8-14 mét và radian 180 ° và 240 °. Nền tảng này immerses người xem trong phim và làm tăng đáng kể mức độ kinh nghiệm . Có ba bậc tự do: swing ( trái và phải ) , độ nghiêng ( phía trước và phía sau ) và luân chuyển ngang .
Ngoài tất cả những cử động trên một nền tảng bạn có thể cài đặt đặc biệt ghế 4D . Sự kết hợp của các hiệu ứng đặc biệt sẽ tạo ra thỏa thích hoàn toàn, ngay cả những khán giả khắt khe nhất.Ghế xoay có thểluân chuyển ngang,xoay trong một mặt phẳng ngang ở 45 độ sang trái hoặc sang phải ! Tốc độ quay là 15 độ / giây. Việc di dời tối đa của chỗ ngồi với rung động là 50 cm và góc nghiêng 12 độ. Thậm chí ngườ xem có thể bị lộn tùng phèo ra phía trước và phia sau,di dời tối đa là 50 cm và góc nghiêng 12 độ.


Những chiếc ghế đặc biệt được tạo ra để mô phỏng các hiện tượng tự nhiên khác nhau , như một hơi thở của gió, nước bắn tung tóe , cũng như rung động và ảnh hưởng của mùa thu. ghế bành này được điều khiển bởi một hệ thống đặc biệt mà đồng bộ hóa xảy ra hành động trên màn hình với các chức năng cần thiết hiện nay ghế . Điều này làm tăng cảm giác thực tế.Ghế 4D có thể tạo ra 5 hiệu ứng khác nhau : cảm giác bị té ngã , độ rung, hơi thở ( nổ ) , gió, nước bắn tung tóe và hiệu quả của " con chuột " ( khán giả nghĩ rằng chuột chạy dưới chân mình).Thực ra,ngay dưới chân ghế ngồi là những chiếc roi nhựa nhỏ thò ra va “ngọ nguậy” đúng lúc tình huống xảy ra,ví dụ,con chuột chạy trên màn hình nổi.Những hiệu ứng này chỉ được kích hoạt trong thời gian máy tính nhất định và trùng hợp với một màn hình hiển thị trên hình ảnh.
Những chiếc ghế được thiết lập trong nhóm ba , bốn hoặc năm chỗ ngồi. Mỗi chỗ ngồi có chiều rộng khoảng 55 cm , do đó, một nhóm năm chỗ ngồi sẽ có chiều rộng khoảng 3,5 mét. sự linh hoạt trong cấu hình này cho phép thiết lập bất kỳ số lượng chỗ ngồi trong rạp chiếu phim 4D .


Phim 5D là một bước tiến mới,kế thừa từ phim 4D.Nếu như phim 4D cho người xem cảm giác rung cảm vật lý tại chỗ ngồi thì phim 5D phát huy cảm giác thật của cảnh vật trong phim thông qua khứu giác-mùi vị.Ý tưởng này không có gì mới lạ.Phim mùi đã ra mắt khán giả từ hơn 50 năm trước,khi ấy trong rạp chiếu phim đã có hệ thống khí ga tạo ra mùi lửa cháy,mùi thuốc súng khét lẹt,mùi thơm nước hoa…Việc điều tiết mùi trong rạp chiếu phim do nhân viên điều hành trực tiếp khi theo dõi hình ảnh của phim.Số lượng mùi gây cảm giác thật cho khán giả rất hạn chế vì phụ thuộc vào loại khí ga chế tạo đặc biệt.Nhưng điều phiền toái nhất là thời gian tỏa mùi trong rạp không thể chạy theo điễn biến xảy ra trên phim.Vì lẽ mùi vị khi tỏa ra thường đọng lại khá lâu trong rạp,trong khi hình ảnh trên phim đã chuyển sang trường đoạn khác.Thậm chí trên phim quá khứ đã thành hiện tại,thành phố hiện đại mọc lên nhưng mùi khói bom vẫn còn đọng lại trong rạp.Các loai khí ga khác nhau qua nhiều lần sử dụng ám trong rạp đẫn đến tình trạng không thể phân biệt được mùi này mùi khác.Những lý do trên khiến phim mùi nhanh chóng bị loại bỏ trong điện ảnh giải trí.Nhưng đó là chuyện của quá khứ.


Hiện nay,phim 5D với hơn 40 mùi như thật đã ra mắt khán giả Đức,Nga và tới đây là Viêt nam.Điều phiền toái của quá khứ vì mùi đong quá lâu đã đươc thay thế bằng thời gian chuyển mùi còn 1/3 giây.Kỹ thuật hóa học quân sự của Đức trở thành công nghiệp điện ảnh giải trí,cho phép mô phỏng mùi tự nhiên,không độc hại.Kỹ thuật số hiện đại cho phép điều hành đồng bộ mùi với hình và tiếng.Các rạp chiếu phim 5D được thiết kế theo chuẩn 4D,ghế xoay,dịch chuyển nhiều hướng,hệ thống tạo gió,tạo nước cùng với các thiết bị phun mùi.Nếu như trước đây cả rạp chỉ có một nguồn phun mùi nên chỉ những người ngồi gần mới cảm nhân được thì ngày nay cả rạp chiếu phim 5D ngồi đâu cũng nhận thấy một mùi đồng nhất.
So với số lượng mùi tự nhiên khoảng hơn 1000 mùi thì số lượng hơn 40 mùi do công nghệ phim 5D đạt được còn khiêm tốn.Các bộ phim 5D hiện nay chủ yếu là phim ngắn mang tính giải trí hay giáo khoa.Thường mỗi bộ phim ngắn 5D có thời lượng từ 10-12 phút và tạo ra được nhiều nhất 10 mùi.

HÀ TÙNG LINH (Ảnh do Ánh Việt Greenpost cung cấp)


Chuyên đề kỹ thuật DA và VTTH : CCD hay CMOS ?

Nguồn gốc cơ bản của máy thu – phát hình có thể được đánh dấu bởi các cột mốc Willoughby Smith tìm ra tính quang dẫn của các phần tử Se-len năm 1873. Willoughby Smith và trợ lý Joseph May đã chứng minh rằng điện trở suất của nguyên tố Selen thay đổi khi được chiếu sáng. Phát minh này đã đưa ra khái niệm "suất quang dẫn", nguyên lý hoạt động của ống Vidicon truyền ảnh.

Vào năm 1911, kĩ sư Alan Archibald Campbell-Swinton đã đưa ra bài phát biểu tại London, được đăng trên tạp chí “Times” đã mô tả cách thức mà ống phóng tia âm cực CRT hoạt động trong việc truyền và nhận tín hiệu. Ông sử dụng một màn ảnh để thu nhận một điện tích thay đổi tương ứng với hình ảnh, và một súng điện tử trung hoà điện tích này, tạo ra dòng điện tử biến thiên. Nhiều người khác cũng đã thí nghiệm sử dụng ống phóng tia âm cực CRT như là một thiết bị tiếp nhận sóng, nhưng khái niệm này còn mới mẻ . Đến những năm cuối của thập niên 20, truyền hình điện cơ vẫn tiếp tục được phát triển, các nhà phát minh Philo Farnsworth và Vladimir Zworykin nghiên cứu độc lập về truyền dẫn bằng ống điện tử. Nguyên lý của Campbell Swinton đã được Zworykin áp dụng trong ống ghi hình iconoscope, bộ phận quan trọng nhất của camera. Về sau, chiếc đèn orthicon hiện đại hơn cũng sử dụng một thiết bị tương tự như vậy
Hệ thống máy quay dùng ống ghi hình chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn (khoảng những năm 1980) cho đến khi bộ cảm biến hình ảnh ra đời và phát triển.

Trong thập niên 1960, CCD được đầu tư thiết kế để trở thành bộ nhớ giá rẻ. Năm 1969, Willard Boyle và George Smith, thuộc phòng thí nghiệm Bell, chế tạo thành công bộ nhớ CCD. Sau đó, cảm biến ảnh CCD đầu tiên mật độ 100x100 điểm ảnh được Fairchild Electronics chế tạo thành công vào năm 1974.
Chính phát minh ra cảm biến hình ảnh CCD đã tạo ra sự thay đổi rất lớn cho các hệ thống máy quay của truyền hình cũng như một số lĩnh vực liên quan đến cảm biến hình ảnh. Bắt đầu từ đây các hệ thống máy quay thay đổi một cách liên tục.
Cả hai bộ phận cảm biến hình ảnh dùng công nghệ CCD (charge-coupled device) và CMOS (complimentary metal-oxide semiconductor) cùng có nhiệm vụ chuyển đổi tín hiệu ánh sáng sang tín hiệu điện . Một điều đơn giản có thể hiểu dùng trong máy ảnh kỹ thuật số là có một mảng 2D gồm hàng nghìn và hàng triệu những tế bào năng lượng mặt trời , mỗi một tế bào có nhiệm vụ chuyển ánh sáng từ một phần trên bức ảnh thành tín hiệu điện
Những cảm biến CCD , như đã đề cập ở trên , cần được sản xuất với chất lượng cao để đạt được độ nhiều thấp nhất . Những cảm biến CMOS truyền thống thì chất lượng hình ảnh bị ảnh hưởng do nhiễu cao Bởi vì mỗi Pixel trong cảm biến CMOS có vài Transistor do đó độ nhạy sáng của Chip CMOS thấp hơn .CMOS truyền thống tiêu thụ năng lượng thấp.
• Những cảm biến CCD tiêu thụ nhiều năng lượng trong quá trình xử lí . Cảm biến CCD dùng nhiều hơn 100 lần so với cảm biến CMOS tương đương .
Sản xuất Chip CMOS đắt hơn nhiều so với sản xuất bộ cảm biến dùng CCD . Những cảm biến CCD có kích thước nhỏ hơn cảm biến CMOS nên đễ dàng cho chất lượng hình ảnh cao hơn vì tích hợp được số lượng CCD / đơn vị diện tích nhiều hơn.


Dựa trên những sự khác nhau đó mà có thể xem như bộ cảm biến CCD trong máy ảnh ký thuật số dễ dàng cho chất lượng hình ảnh cao với nhiều Pixel với độ nhạy sáng cao cấp .Các thế hệ đầu tiên của cảm biến dùng công nghệ CMOS tiêu thụ năng lượng thấp hơn , độ phân giải thấp hơn và độ nhạy sáng kém nhưng bên cạnh đó nó dùng được pin lâu hơn vi tiêu thụ năng lượng thấp.
Ngày nay những máy ảnh kỹ thuật số dùng công nghệ CMOS đã được cải tiến nhiều với chất lượng tiến bộ vượt bậc.Năm 1998, công nghệ cảm biến CMOS được chính thức đưa ra làm đối trọng với cả hệ thống sản xuất vi xử lý và bộ nhớ hiện nay nên giá thành giảm hơn và mở rộng diện tích dễ dàng hơn. Bên cạnh đó, kiến trúc CMOS cho phép truy xuất và đặt transistor khuếch đại độc lập trên mỗi điểm ảnh nên quá trình đọc dữ liệu diễn ra nhanh và tiêu tốn ít điện năng.

Không dùng cơ chế chuyển dịch tuần tự như CCD, cảm biến CMOS tiến hành khuếch đại tín hiệu điện trực tiếp tại từng tế bào cảm quang. Mạch quét ngang, quét dọc sẽ lần lượt quét hết ma trận cảm biến ảnh và lần lượt đọc giá trị tại điểm giao để chuyển đến bộ xử lý ảnh. Vì thế phương pháp này được đặt tên là phương thức địa chỉ X-Y (X-Y address method). Phương pháp đọc dữ liệu tuần tự thường phải xác định trước vùng làm việc và tốc độ chuyển dữ liệu đến thanh ghi rất cao nên cần nhiều điện năng hơn phương pháp địa chỉ X-Y.
Cảm biến ảnh CMOS xử lý độc lập từng điểm ảnh nên chức năng truy xuất cửa sổ (windowing) linh hoạt hơn CCD. Khi thực hiện chức năng zoom kỹ thuật số, lấy nét, canh sáng, hệ thống có thể trích xuất thông tin của một vùng bất kỳ trên cảm biến và giữ nguyên độ phân giải gốc. Với CCD, vùng truy xuất cần phải được chỉ định trước.
Sony tăng cường độ nhạy CCD và thu nhỏ kích thước máy bằng cách thay đổi công nghệ và kiến trúc chế tạo phần tử cảm quang, đưa ra bộ cảm biến ảnh Super HAD (Hole-Accumulation Diode) CCD. Sony ứng dụng kỹ thuật vi thấu kính trên chip (on-chip microlen) để đặt trên mỗi điểm ảnh một thấu kính nhỏ, giúp mở rộng phạm vi ghi nhận nhằm tăng độ nhạy sáng.

Những bước cải tiến kế tiếp của Sony đã cho ra đời CCD kiến trúc SIL (Single Inner Lens). Do nhận thấy khi mở tiêu cự tối đa, luồng ánh sáng chiếu vào tế bào cảm quang có thể bị chắn bởi lớp đế nên Sony đặt thêm thấu kính nhỏ thứ hai ngay bên trên tế bào cảm quang và áp dụng nhiều công nghệ chế tạo vi mạch mới để thu hẹp bề dày của lớp cách điện giữa lớp đế và điện cực.

Trong khi đó công nghệ CMOS cũng được nâng cấp nhờ “trang bị” thêm mặt nạ Bayer,tức là một màng lọc đặt trước chip cảm biến nhằm bố trí các bộ lọc màu sắc RGB trên một ô vuông của photosensort.

Trên mặt nạ Bayer mỗi điểm ảnh có một bộ lọc màu sắc.Hàng đầu tiên của điểm ảnh là các màu lục và đỏ xen kẽ,hang thứ 2 xen kẽ lục và lam,hàng kế tiếp là đỏ và lục…và như thế tiếp tục.Cấu trúc của mặt nạ Bayer là sử dụng phép toán học để nội suy toàn bộ giá trị của các màu đỏ,màu lục và lam cho mỗi điểm ảnh.
Cả hai công nghệ CCD và CMOS thực hiện cùng một nhiệm vụ nhưng lại dùng công nghệ khác nhau .Ngày nay,khi so sánh CCD và CMOS người ta nêu ra ngay 5 ưu điểm của CMOS:
-Độ nhạy sáng và độ phân giải cao.
-Điện năng tiêu thụ ít,thời gian dùng pin lâu hơn.
-Ít bị nhiễu tín hiệu.
-Tốc độ xử lý ảnh cực nhanh.
-Tích hợp nhiều chức năng tương tác trên hình ảnh chụp hoặc quay.
Nếu cho rằng công nghệ CMOS ra đời sau ắt hẳn các thiết bị ghi hình sử dụng chíp cảm biến CMOS hiện đại và chất lượng hơn chưa hẳn đúng.Các loại máy quay kỹ thuật số tiêu chuẩn điện ảnh (HD 24P) như Sony F23,F35 của dòng Cine Alta hay Panavision Genesic và P2 HD 2700-3700 vv… đều được thiết kế với CCD có đường chéo bề mặt đường chéo 2/3 inch.

Giá thành sản phẩm là nguyên nhân khiến máy quay,máy ảnh kỹ thuật số dùng chip CCD vẫn phổ biến hơn.Máy quay phim kỹ thuật số D20-D21 của Hãng ARRI dùng công nghệ CMOS có mặt nạ Bayer ,được dùng với bộ ống kính Carl Zeiss ,là một tiến bộ vượt bậc về công nghệ với hình ảnh độ phân giải cao,tần số máy ổn định,độ tương phản hình ảnh tốt cũng như độ tái hiện màu sắc trung thực.Tuy nhiên do giá thành cao nên dòng máy quay này ít được sử dụng, ngay cả tại các phim trường của Mỹ vốn rất chịu chi phí.

Cũng sử dung công nghệ CMOS có mặt nạ Bayer,như ARRI các máy quay Red One ra đời sau với chất lượng hình ảnh có độ phân giải rất cao so với các hãng đàn anh kể trên,nhưng giá thành máy quay lại thấp hơn hẳn.Điều đó khiến máy quay Red One được sử dụng phổ biến cả trong điện ảnh Mỹ cũng như ở các nước điện ảnh còn chậm tiến.Đây đó vẫn có sự ngờ vực về chất lượng hình ảnh chuẩn 4k-độ phân giải hình ảnh tương đương phim nhựa 35mm-của Red One.Lấy giá thành khoảng 20 nghìn đô la thân máy của Red One để so với trên 40 nghìn do la của máy quay P2HD 2700 và giá thành gần 200 ngàn euro của ARRI D21 thì điều băn khoăn nói trên cũng có cơ sở.Dẫu sao thành công về việc quảng bá thương hiệu cũng như sự phổ biến của máy quay Red One cũng là điều đáng ghi nhận.

Bùi Huy Hoàng.




TIỀN VIỆT-PHIM TÀU

Phim Lý Công Uẩn: Sự lệ thuộc văn hóa!
(Vietnamnet 13/9/2010)

Về lý thuyết có thể sửa được hình ảnh bộ phim đã quay nhưng tốn kém rất nhiều so với bỏ đi, quay lại. Liệu có nên trình chiếu trong đợt kỷ niệm ngàn năm Thăng Long bộ phim lịch sử mang đậm nét văn hóa nước ngoài từ cảnh quan, kiến trúc, sinh hoạt, trang phục diễn viên?

Theo thông tin từ Hội đồng Duyệt phim quốc gia lịch phát sóng bộ phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long của Công ty Cổ phần Truyền thông Trường Thành sản xuất sẽ tạm thời bị hoãn lại. Lý do hoãn phát sóng do 19 tập phim của bộ phim này mang đậm yếu tố Trung Hoa. Hội đồng Duyệt phim quốc gia đã yêu cầu đoàn làm phim phải lược bỏ bớt những bối cảnh đậm chất Trung Hoa này và chỉ được phát sóng sau khi đã sửa chữa xong theo yêu cầu.
Hoành tráng không phải Việt Nam!
Đây không phải là lần đầu tiên bộ phim này bị dư luận phản đối. Ngay từ khi dự án phim này công bố và chuẩn bị quay, dư luận đã rất lo ngại cảnh phim lịch sử Việt Nam mà lai Trung Hoa. Bởi nhà sản xuất đã quá chú trọng việc thuê êkíp Trung Quốc sản xuất, từ đạo diễn, hóa trang, phục trang, trường quay… và cả diễn viên quần chúng.
Cách đây hai tháng, khi đoạn quảng cáo phim và một số hình ảnh phim được tung lên mạng để quảng bá trước cho phim thì đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi rằng quá giống phim dã sử Trung Hoa.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân nhận xét khung cảnh trong phim hoàn toàn Trung Hoa. Trong đoạn giới thiệu có rất nhiều chi tiết tạo sự phản cảm, đó là: Cung điện trong phim chồng chất lên nhau, kiến trúc Việt Nam thời kỳ đó không thể có cung điện nguy nga, tráng lệ như vậy. Ngay cả đến thời Nguyễn, cung điện cũng không tầng lớp nhiều như vậy.
Bối cảnh phim được thuê ở Hoành Điếm (Trung Quốc) nên màu sắc Trung Hoa nhuốm toàn bộ phim.

“Ngay đến thời Gia Long, trong những ảnh của người Pháp chụp, Việt Nam nhiều nơi vẫn còn đóng khố, vậy làm sao 1.000 năm trước đó có giáp sĩ, có giáp sắt? Đặc thù của Trung Hoa là thảo nguyên mênh mông nên mới có cảnh hàng ngàn con ngựa và phát triển kỵ binh, Việt Nam không thể có cảnh đó” - ông Xuân nói. Thật vậy, thế mạnh dân tộc Việt Nam là địa hình sông nước. Truyền thuyết Thăng Long cũng gắn liền với sông nước.Bên cạnh đó, những hình ảnh: quan búi tóc trên chóp đầu, phụ nữ xõa tóc hai bên… là rặt Trung Hoa.
Sửa tốn hơn quay lại!
Ý kiến của Hội đồng Duyệt phim quốc gia với bộ phim rằng phải sửa chữa bằng cách bỏ bớt những cảnh đậm chất Trung Hoa đặt ra một vấn đề kỹ thuật là làm thể nào lược bỏ trong khi yếu tố Trung Hoa thể hiện trong cảnh quan, trang phục diễn viên. Trao đổi với đạo diễn - NSƯT Lê Dân, chúng tôi được biết về mặt kỹ thuật làm phim, để sửa một cảnh phim đã không đơn giản, huống gì hầu như cảnh nào trong phim cũng nhuốm màu Trung Hoa.
“Phim quay xong có thể sửa được bằng hai cách. Một là bỏ cảnh đó, quay lại; hai là sửa trực tiếp bằng kỹ xảo trên phim đã dựng như vẽ lại quần áo… Tuy nhiên, phương án hai tốn kém hơn phương án một rất nhiều” - đạo diễn Lê Dân cho biết.
Theo đạo diễn Lê Dân, dựng phim lịch sử yếu tố quan trọng nhất là tôn trọng môi trường sống, phục trang, nếp ăn ở… của thời điểm lịch sử đó. Và một bộ phim lịch sử điều tiên quyết là phải có chuyên gia cố vấn lịch sử, người nghiên cứu về phục trang, đạo cụ…
Với bộ phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long, họa sĩ Phan Cẩm Thượng chịu trách nhiệm là chuyên gia cố vấn về bối cảnh đạo cụ và văn hóa của phim. Họa sĩ Phan Cẩm Thượng từng chia sẻ trên một số báo rằng phim tư nhân đầu tư nên trang phục nào cần thì may, còn không thì thuê vì nếu tất cả trang phục đều phải may thì kinh phí rất lớn. Ngay cả hoa văn và trang sức nếu sáng tác đúng lịch sử Việt Nam thì phải chi nhiều tiền nên nếu không có tiền thì hiển nhiên hoa văn Trung Quốc sẽ thay thế hoa văn Việt.
Không nên chiếu
Thiết nghĩ một bộ phim lịch sử Việt Nam để công chiếu trong dịp đại lễ ngàn năm của dân tộc thì không thể có cảnh văn hóa ngoại lai. Có thể không làm, có thể không chiếu chứ không thể vì lý do ít tiền mà du di một sản phẩm văn hóa lai căng.
Ông Nguyễn Đắc Xuân nhấn mạnh: “Không nên chiếu phim này trong dịp đại lễ 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội. Nếu một đất nước lệ thuộc về chính trị còn có thể lấy lại nhưng lệ thuộc về văn hóa thì ngàn đời mất nước và trở thành chư hầu”.
Trung Quốc từ kịch bản, diễn viên đến trường quay!
Khi công bố dự án phim Lý Công Uẩn - Đường tới thành Thăng Long, đơn vị sản xuất đã rất chú trọng đến điểm đặc biệt của phim là thuê êkíp Trung Quốc sản xuất, từ đạo diễn, hóa trang, phục trang đến trường quay. Như đạo diễn Cận Đức Mậu (đạo diễn của phim truyền hình Tuổi trẻ Bao Thanh Thiên); kịch bản do ông Trịnh Văn Sơn, Giám đốc Công ty Cổ phần Truyền thông Trường Thành chấp bút và được nhà biên kịch của Trung Quốc là Kha Chung Hòa đảm trách (Kha Chung Hòa từng là biên kịch cho những bộ phim Võ Tắc Thiên, Vương triều Ung Chính...). Gần 700 bộ trang phục cổ trang cũng được may từ Trung Quốc, thuê cả trường quay Hoành Điếm của Trung Quốc và hàng trăm diễn viên quần chúng cũng Trung Quốc.

(Theo Pháp luật TP.HCM)

ĐỐT TIỀN THU TIỀN TỪ FLYCAM

Theo Tiền Phong 22/8/2010- Năm năm mày mò cho ước mơ quay được những thước phim đạt chuẩn thế giới, ba gã điên đã sáng tạo công nghệ flying-cam (quay phim bằng máy bay mô hình) hoàn toàn thuần Việt.


Ba gã điên
Cũng điên thật khi nhớ lại thời điểm năm 2000, Lê Trung - thành viên trẻ nhất của nhóm Flycam Vietnam đã khởi đầu niềm đam mê bằng một chiếc máy bay mô hình trị giá 10 triệu đồng, tương đương với 2 lượng vàng ở thời điểm đó và hầu hết là tiền đi vay. Hai gã còn lại là Nam Hải và Tuấn Anh cũng “điên” không kém khi mà toàn bộ thời gian rảnh rỗi, tâm huyết cũng như tiền bạc đều đổ hết vào thú vui này trong suốt gần chục năm theo đuổi. Họ gặp nhau vì cùng chung một thú vui là muốn được bay lượn trên bầu trời với những chiếc máy bay mô hình điều khiển từ xa.
Đây là thú chơi khá tốn kém và khó khăn. Tốn kém bởi giá thành một chiếc mô hình máy bay loại nhỏ nhất thời điểm đó cũng rơi vào khoảng 500-700 ngàn nhưng để bay được thì tối thiểu phải xấp xỉ 2 triệu. Nếu muốn “lên đời” để nó có thêm nhiều chức năng thì giá thành bắt buộc phải lên tới 30.000-40.000 USD/chiếc, chưa kể các thiết bị chụp ảnh, quay phim.

"Những gã đốt tiền chơi máy bay mô hình như bọn mình đa phần là điên" - Lê Trung
Đừng tưởng cứ có máy bay mô hình là được bay thoải mái. Hoạt động này, về không phận (vùng không gian để bay) là do không quân quản lý. Trò chơi này xuất phát từ những chiếc máy bay mô hình để cao xạ tập bắn do Ban mục tiêu - Quân chủng Phòng không không quân thực hiện. Năm 2005, khi thấy nhiều người chơi, bên không quân bắt đầu tập hợp họ lại (cùng với thú chơi dù bay dù lượn). Cả nước có ba CLB mang tên: CLB mô hình hàng không phía Bắc - Trung - Nam để tiện việc quản lý.
Nghe có vẻ tốn kém và khó khăn là vậy nhưng vẫn không ngăn được nhiều người tìm đến thú chơi này. Trước thời điểm 2005, forum về máy bay mô hình trên trang web www.ttvnol.com đã kín đặc và chật chội. Nhóm Trung - Hải – Tuấn Anh đã phải lập ra một diễn đàn mang tên www.clbmohinh.com để mọi người rộng đất tham gia. Trang web này thu hút hàng trăm người hàng ngày trao đổi kinh nghiệm bay, “lên đời” mô hình, cùng với việc hội họp, rủ nhau đi bay hàng tuần.



Từ trái qua phải: Lê Trung - Nam Hải - Tuấn Anh. Ảnh: Flycam Vietnam

Đốt tiền
Họ cùng mê điện ảnh, dăm ba lần ngồi với nhau tán về những cảnh quay chóng mặt từ chiếc máy bay mô hình của nước ngoài được chế tạo thêm máy quay phim với độ nét cao, cùng tấm tắc với cái tên gọi gợi cảm công nghệ flying-cam. Lê Trung, thành viên trẻ nhất của nhóm nảy ra câu hỏi: “Tại sao mình không có flying-cam của người Việt?”. Nghĩ là làm, Trung lên mạng mày mò tìm hiểu và đề đạt ý tưởng với hai người bạn. Họ cùng hào hứng vì cảm thấy đây không còn là chơi mà là một công việc, dù vẫn phiêu lưu.
Nam Hải còn đùa vui: “Làm việc thôi, không thì lấy đâu tiền mà đốt tiếp”. Nhưng để đến lúc “lấy được tiền thiên hạ”, họ cũng lại phải đốt kha khá tiếp… Chính Nam Hải tiết lộ: “Tốn kém nhất không phải là máy bay rơi hay hỏng hóc, điều này cũng có nhưng cực ít. Thứ đốt tiền chính là công nghệ này không phù hợp thì phải thay thế nó. Nếu tính ra, đủ để mua một cái nhà…”.
Năm 2005, để bắt đầu, cả nhóm phải đặt ra từng bước nhỏ để hoàn thành. Thời điểm đó, trên diễn đàn cũng bắt đầu manh nha việc quay phim, chụp ảnh từ trên trời bằng máy bay mô hình với những sản phẩm là những bức ảnh nhòe nhoẹt, mất nét, những thước phim mất phương hướng, rung bần bật do ảnh hưởng từ động cơ bay và nhiễu sóng điện từ.
Rõ ràng, đây là việc rất khó, nếu theo đuổi để phục vụ cho công việc thì phải đầu tư rất nhiều về công sức lẫn tiền bạc.
Việc đầu tiên là máy bay phải mang được vật nặng, ít nhất là 1kg – tương đương một chiếc máy quay Sony HDV lên bầu trời. Riêng việc này khiến chi phí cho chiếc máy bay mô hình đội lên gấp 10 lần. Thứ hai là việc chống rung cho máy ảnh, máy quay. Tham khảo các tài liệu nước ngoài, tìm mua linh kiện rất khó khăn.
Họ phải tự chế tạo một quả cầu ở đầu máy bay để cố định chiếc máy quay. Nhưng để quay được thì phải có sự phối hợp rất ăn ý giữa các thiết bị cảm biến điện tử, hỗ trợ giảm xóc, hệ thống thuỷ lực… sao cho camera ổn định khi các cần xoay điều khiển thu hình và truyền xuống mặt đất. Chụp ảnh nghiêng ngả có thể chỉnh bằng Photoshop chứ quay thì bắt buộc phải chuẩn.
Việc thứ ba phải giải quyết là sự ăn ý của một ê-kip gồm một người bay, một người lo phần hình, hoa tiêu và một người lo kỹ thuật khi hoạt động. Tất cả đều phải rất chuyên nghiệp. Chính vì thế, một thành viên trong nhóm đã khẳng định: “Không đơn giản có tiền là có, bởi kinh nghiệm bay rất quan trọng. Khi quay phim, máy phải treo lơ lửng giữa bầu trời cách xa vật cần quay hàng trăm mét. Những yếu tố kỹ thuật như ánh sáng, độ gió.... phải thật chuẩn, hiệu lệnh khi làm việc cũng phải cực kỳ ngắn gọn bởi hình ảnh lướt qua rất nhanh. Chính vì thế, bất cứ lần đi bay nào cũng phải đủ cả ba người, nếu không thì không thể làm việc được”.
"Từ mô hình, công nghệ cho tới hiệu quả đạt được, flying - cam của chúng tôi đạt chuẩn thế giới. Điều duy nhất khác biệt là chi phí của chúng tôi chỉ bằng 1/4 giá thành so với họ đưa ra." - Nam Hải - Giám đốc FLYCAM VIETNAM
Việc thì nhiều nhưng kết quả cuối cùng mới là điều quan trọng nhất: Đưa ra một đoạn phim hoàn chỉnh. Ngắn gọn thế thôi nhưng phải sau gần một năm tiêu tốn rất nhiều tiền của lẫn công sức họ mới hoàn thành. Cuối năm 2005, bước một trong mục tiêu đề ra đã hoàn thành. Với 30 phút bay lượn, chiếc máy bay chạy xăng A92 với chiều dài hơn 1m đã mang được chiếc camera Sony HDV lên bầu trời và quay thành công một thước phim hoàn chỉnh. Bức ảnh với độ phân giải 6.0 đầu tiên mà êkip chụp được tại nhà máy điện tử ở Hòa Lạc đã khiến nhóm lạc quan sau suốt một năm tìm tòi nghiên cứu.
Thành công này cũng bắt đầu mang đến cho ê-kip những đồng tiền đầu tiên. Mở hàng là chuyến kết hợp “nghỉ mát + làm việc” tại một khu Resort ở Đồng Hới - Quảng Bình. Thành công ngoài mong đợi và họ được mời ở lại chụp khảo sát cho một dự án khu du lịch. Chuyến mở hàng đó cả êkip được trả công 30 triệu.
Một vài công việc chụp ảnh trên không nữa bắt đầu đến với ê-kip của Trung - Hải - Tuấn Anh, cả ba bắt đầu nghĩ đến việc mở công ty để hợp thức hóa, để quảng bá sản phẩm của mình đến với mọi người. Năm 2006, Flycam Vietnam ra đời với công việc duy nhất là cung cấp dịch vụ không ảnh và không phim.
Lâng lâng với thành công, ba chàng trai hăm hở tiến vào TPHCM để chào hàng công nghệ nhưng đều nhận được những cái lắc đầu từ khách hàng tiềm năng kèm theo câu nói: “Chúng tôi cần nhiều hơn thế”. Thất vọng ê chề vì ngã một cú đau, cả ba tấp tểnh về Hà Nội với câu hỏi: “Làm sao mang lên trời được vật nặng hơn 1kg?”.
“Đó là thời điểm cực khó khăn” - Nam Hải nhớ lại. Tinh thần sụt giảm, tiền bạc cạn, mọi thử nghiệm đều bất thành do nóng vội. Cả ba người định đóng lại dự án, bỏ cuộc nhưng chính các khách hàng tiềm năng - những người mà họ đã đến chào hàng lại vực họ dậy. Họ rất quan tâm, liên tục hỏi thăm và khích lệ. Cùng lúc, cái tin hãng phim Phước Sang thuê ê-kip nước ngoài thực hiện cảnh quay bằng Flying-cam trị giá 30.000 USD trong bộ phim “Áo lụa Hà Đông” xuất hiện trên nhiều trang báo khiến họ cay mũi.
2007 là năm mà Flycam đi đến bước thứ hai là mang được chiếc camera Panasonic HVX 200 - chất lượng phim HD cao nhất thời điểm đó với trọng lượng 3kg lên bầu trời và độ phân giải của những bức ảnh là 12.0 với chiếc máy nhà nghề Nikon D2X. Cao hơn nữa, chiếc máy bay nặng 7kg, dài 1,7m với bán kính sải cánh quạt 1,8m này còn có thể mang vật nặng lên tới 5kg.
Và đến thời điểm năm 2010, với 5 chiếc máy bay giá thành lên tới hơn 1 tỷ đồng/1 chiếc, công nghệ flying-cam của nhóm đã đạt chuẩn thế giới với trang bị máy Canon 7D và 5D Max II cho chất lượng ảnh 18.0 và chất lượng quay HD. Máy bay có thể bay cao hơn, xa hơn, chính xác hơn và họ còn đang hướng tới trang bị toàn bộ hệ thống dẫn đường bằng vệ tinh GPS. Flycam Vietnam bắt đầu tự tin sánh ngang công nghệ của các hãng lớn trong hội chợ về công nghệ, bắt đầu đưa các sản phẩm lên so sánh trên diễn đàn Aerialphoto – diễn đàn của hiệp hội những người chụp, quay không ảnh trên thế giới.


Thu tiền

Thành công của Flycam kéo theo nhiều hợp đồng chuyên nghiệp hơn. Ngoài những dự án quay, chụp khảo sát như cầu Phú Mỹ, cảng Hiệp Phước, Resot Đà Nẵng, khu công nghiệp Doosan…thì các công ty quảng cáo cũng bắt đầu tìm tới (các hãng xe, sân golf, khu du lịch và tham gia một phim tài liệu về làng văn hoá của Viện phim Việt Nam). Mới đây nhất, đang trong quá trình triển khai là dự án chụp ảnh phục vụ cho đo đạc, vẽ bản đồ 3D. Đây là dự án khó.
Trước đây người ta thường chụp khảo sát bằng máy bay trực thăng thật nhưng bất tiện bởi nhiều lúc gặp tầng mây thấp (800m) che khuất thì lại phải bay về. Flying-cam cơ động hơn, có thể phục sẵn đợi trời đẹp thì chụp cũng như dễ luồn lách nhưng công việc này bắt buộc phải chụp bằng các góc vuông, chi tiết, chính xác với tính ổn định cao. Đây chính là yêu cầu khiến nhóm tiếp tục phải cải tiến công nghệ cho sản phẩm của mình bằng nâng cấp trang bị GPS, định vị, dẫn đường bằng vệ tinh.
50 triệu cho một lần bay quanh khu vực Hà Nội, 8-12.000 USD cho những phi vụ phải di chuyển xa và khoảng 20.000 USD cho các dự án khảo sát dài ngày. Chưa kể đối tác phải chịu toàn bộ chi phí ăn ở. Chi phí đó có thể chấp nhận được với các dự án khảo sát, các TVC quảng cáo nhưng có vẻ chưa hợp với tình hình sản xuất phim hiện nay. Nhưng so với giá thành 30.000 USD cho 1 cảnh quay của “Áo lụa Hà Đông” thời điểm năm 2006 thì vẫn còn rẻ chán.
Tuy vậy, mục tiêu lớn nhất mà Flycam hướng tới là làm phim. Cũng vì quá mê phim mà Nam Hải - Giám đốc Flycam Vietnam đã từ bỏ nghề kinh doanh ăn uống, một mình vào TPHCM theo đuổi nghề sản xuất phim. Trụ sở ngoài Hà Nội giao cho Trung và Tuấn Anh coi giữ. Nam Hải chỉ tham gia những dự án lớn.
“Chit & Pi” vừa chiếu trên VTV3 chính là dự án đầu tiên mà nhóm Hải-Trung-Tuấn Anh hợp tác với những cảnh quay trên không tuyệt đẹp về cầu Long Biên, về bãi hoa cúc vàng miên man gây ấn tượng mạnh. Dự án phim đầu tay này họ cũng được trả công nhưng gần như chỉ là với cái giá chào hàng.
Năm 2007, hãng phim CJ Media của Hàn Quốc có dự định làm 200-500 tập phim về cậu bé phù thủy ở Việt Nam cũng đã gặp gỡ và ký hợp đồng với họ nhưng dự án bất thành do phía Hàn Quốc rút về, nhường cho ê-kip Việt Nam làm. Từ đó đến nay, chưa có dự án phim nào tiếp cận họ, có thể là trong tư duy phim Việt chưa quen với việc sử dụng dịch vụ mới này và cũng có thể, giá thành của họ cao chăng?
Trang web www.clbmohinh.com vẫn kín đặc thành viên với thú chơi máy bay, dù bay dù lượn dù nhóm Trung – Hải – Tuấn Anh đã nhượng lại, không còn giữ quyền admin nữa. Họ vẫn là thành viên, cùng chia sẻ các kinh nghiệm. Trên diễn đàn cũng có nhiều nhóm phát triển flycam nhưng đều không thành công. Trung nói, rất muốn phát triển mạnh công việc này bởi Flycam Vietnamhiện nay chỉ đủ sức nhận 3 hợp đồng/1 tháng với doanh thu trung bình là 500 triệu/1 quý.



Rủi ro và nhọc nhằn

Nói về công việc đầy rủi ro của mình, Lê Trung cho tôi xem 1 clip. Chiếc Flycam đang quay đại cảnh phim lịch sử ở Trung Quốc thì rớt xuống đám đông, may là tất cả tránh kịp không xảy ra thương vong. Với tốc độ 400km/h thì tai nạn chết người trên thế giới đã xảy ra nhiều. Thế nên, trong hợp đồng của nhóm nhất thiết có mấy dòng: “1. Không bay trên đầu người, dưới trời mưa và tốc độ gió quá 5m/1s; 2. Đối tác phải chịu 50% phụ phí rủi ro khi bay trên nước”.
Trước mỗi cảnh quay, họ đều phải ngồi họp kỹ lưỡng với nhau, với đạo diễn mới có thể cất cánh. Bao giờ cũng là toạ độ, sức cản của gió, các yếu tố phụ trợ cũng như bắt khuôn hình ra sao. Trung bình cứ 1 phút bay thì phải mất 100 phút chuẩn bị. Bay chơi thì thoải mái, bay công việc thì cứ như đánh vật nên “cứ mỗi lần làm xong là anh em mệt phờ và phải liên tục hoán đổi các vị trí phi công-hoa tiêu-kỹ thuật với nhau để giảm tải”.
Ngay cả việc vận chuyển cũng cực kỳ vất vả. Với 5 chiếc máy bay và trang thiết bị, mỗi lần di chuyển họ phải mang đủ 200kg hành trang lỉnh kỉnh. Riêng máy bay thì phải vác tay để tránh trục trặc. Vì điều này mà nhóm đã phải toát mồ hôi mới có thể ra Côn Đảo thực hiện một hợp đồng. Sau lần đó, họ phải tiếp tục cải tiến cho tiện dụng và nay, mỗi lần di chuyển, họ chỉ cần tháo ra, cho vào hộp xách đi rồi lắp ráp khi đến nơi.
Ngoài ra, chuyện xin giấy phép bay giờ đây khó khăn hơn. Theo nghị định 36/CP/2008, mỗi một lần bay đều phải được phép của Cục tác chiến – Bộ tổng tham mưu.
Rutto

Chuyên đề KT Điện ảnh và VTTH: STEADICAM

Công nghệ khoa học phát triển của nghành điện ảnh trên thế giới và sự nghiên cứu không ngừng nhằm giải phóng đến mức tối đa sự tự do di chuyển của máy quay phim đã tạo ra những hiệu quả hình ảnh ấn tượng đã dẫn đến sự ra đời của một thiết bị quay đặc biệt tên là Steadicam.


Steadicam được nhà quay phim người Mỹ Garret Brown đưa ra lần đầu tiên vào năm 1970. Hệ thống này đã được công ty Cinema Products cải tiến và sản xuất theo giấy phép độc quền trên toàn thế giới. Thực tế làm phim cho thấy, trong nhiều trường hợp do tính chất công việc hay điều kiện bắt buộc hoặc xuất phát từ ý tưởng nghệ thuật nhất định mà người ta quyết định xử lý việc ghi hình với máy quay cầm tay. Tuy nhiên , việc giữ cho máy quay có được sự ổn định cần thiết, nhất là trong những cảnh quay dài, quả thực không phải điều dơn giản nhưng Steadicam đã giúp chúng ta làm được việc đó. Với tính năng có thể di chuyển và giữ thăng bằng ở nhiều địa hình hay với nhiều hướng khác nhau do vậy Steadicam còn là một thiết bị giúp cho các nhà quay phim có thêm sự tưởng tượng và sáng tạo nói cách khác họ được kích thích sự sáng tạo một cách táo bạo hơn.

Steadicam là một hệ thống giữ thăng bằng về mọi hướng cho máy quay trong khi đang ghi hình. Bộ phận cơ bản của Steadicam đó là Iso-Elastic Arm “cánh tay có khớp nối” với cấu tạo đặc biệt từ các lò xo, dây kéo các khớp nối đã được triệt tiêu ma sát đến mức tối đa, Arm “cánh tay” này hấp thụ hầu hết những tác động do sự di chuyển của người quay phim tạo ra. Treo trên Arm là một trục thảng đứng có thể điều chỉnh được độ dài, một đầu gắn máy quay bằng gá và đầu kia dành cho đối trọng để giữ thăng bằng. Tùy theo trọng lượng của máy quay ma người ta điều chỉnh độ dài của trục và thêm bớt trọng lượng của đối trọng hợp lý để giữ cho máy luôn cân bằng. Ở đầu găn đối trọng thường được gắn moniter và bộ nguồn của nó. Toàn bộ hệ thống này được treo vào một móc treo đặc biệt trên một Supportive Vest mà người quay phim phải mặc vào người như chiếc áo vec.

Sử dụng steadicam cho cảnh quay người quay phim chỉ cần nhìn vào moniter để giữ bố cục trong khi chân có thể di chuyển theo những lộ trình tự do, kể cả những nơi địa hình chật chội, không bằng phảng, lên xuống cầu thang hay trên đường mòn trong rừng núi, thậm chí có thể chạy để bám theo nhân vật mà hình ảnh vẫn giữ được sự ổn định cần thiết, với động tác traveling của người quay phim thì độ mềm mại không thua kém gì máy quay trượt trên dolly mà Steadicam còn giúp người quay phim điều khiển linh hoạt hơn vì không bị lệ thuộc vào đường ray được đặt sẵn.
Một số loại Steadicam
1- Steadicam Merlin
Là một loại steadicam cầm tay đơn giản được thiết kế dùng cho máy quay kỹ thuật số loại nhỏ, siêu nhẹ và nhỏ gọn giúp cho người quay phim có thể theo kịp hành động và sự kiện đang diễn ra trước mắt. Hiện nay steadicam Merlin đang được sử dụng rất phổ biến.

2 – Steadicam Clipper
Là một loại steadicam cung cấp các tính năng tiên tiến đã được thiết kế chu đáo để các nhà quay phim có thể tận dụng tối đa, Thiết kế với cấu tạo mở có thể dễ dàng thay đổi và nâng cấp,màn hình tiêu chuẩn 7 inch và pin được hỗ trợ bởi một khung carbon kép. phổ biến dùng cho các loại máy Sony HD900, Arri 316 và 235, Red one

3 – Steadicam Flyer
Với giải thưởng lớn tai NAB 2004 show, Steadicam Flyer dùng cho máy loại nhỏ nặng từ 4 – 15 pounds, co nguồn 12V,cùng với LCD tiêu chuẩn 7 inch 16:9 / 3:4 color monitor, chất liệu làm bằng nhôm nhẹ mà vẫn đảm bảo độ cứng cáp. Có thể phát triển khả năng ưu việt trong lĩnh vực ghi hình thể thao.

4 – Steadicam Glidecam V-25
Glodecam V25 có hỗ trợ Vest nhẹ và thoải mái có thể điều chỉnh được độ rộng cho phù hợp với các vóc dáng khác nhau của người quay phim, Arm được thiết kế bao gồm 6 lò xo Titan gép thành những khớp nối độc lập giảm thiểu và hấp thụ tối đa sự bất ổn định khi di chuyển. Sled có thể mang được máy quay có trọng lượng từ 4,5 – 12kg, sử dụng nguồn 12V

Ảnh bên:Trục khuỷu của stediacam glidecam V25
5 – Steadicam Archer
Archer với khả năng không hạn chế loại máy và có thể mang máy quay có trọng lượng 10 – 15 pounds, các khớp nối linh hoạt có thể điều chỉnh các vít định vị thay đổi góc độ và hướng khác nhau, vẫn là LCD tiêu chuẩn 7 inch và chế độ 16:9.

6 – Steadicam Ultra2
Ultra2 là một trong những hệ thống steadicam tiên tiến nhất hiện nay có sự khác biệt rõ ràng về tính năng, Arm có thể sử dụng cho máy quay từ 12 – 70 pounds ( 6 – 32kg ) độ dài của hoạt đông là 81cm, pin 24V hoặc song song cho cường độ 12V.

7 – Steadicam Pilot
Gần giống với Merlin cũng dùng cho các loại máy nhỏ gọn, nhưng Pilot thể hiện sự ưu việt hơn rằng máy quay có thể được gắ ở dưới thấp và với tư thế lộn ngược, Pilot là steadicam dành cho các dòng máy nhỏ gọn và có màn hinh LCD 5,8 inchs 4:3/16:9 + pin nguồn 12v.

- Thiết bị Steadicam vốn đã rất mạnh về di chuyển hình ảnh động, nhưng trong thực tế nó còn được sử dụng kết hợp với những thiết bị kỹ thuật hỗ trợ chuyển động máy khác, khiến cho hình ảnh ghi được càng trở nên linh hoạt, đa dạng, nhưng khả năng biểu hiện như tạo tình huống, tạo kịch tính, thay đổi, điều tiết nhịp điệu, tiết tấu của hình ảnh càng được gia tăng.
Gần 40 năm qua kể từ khi Steadicam xuất hiện chính thức trong lĩnh vực làm phim,càng ngày nó càng được ưa chuộng, tần suất sử dụng Steadicam trong việc quay các bộ phim ngày càng gia tăng. Hầu như những bộ phim truyện quay ở Âu – Mỹ và một vài nước ở châu Á ngày nay đều có sử dụng Steadicam và xem nó như một chuẩn mực kỹ thuật, một thiết bị kỹ thuật không thể thiếu trong hệ thống thiết bị kỹ thuật quay phim.

Bộ phim Nga Ark của đạo diễn Nga Alexander Sokurov đã gây rất nhiều ấn tượng tới người xem vì cả bộ phim dài 98 phút quay bằng steadicam và không cắt máy, đây là một hoàn hảo về sự sắp đặt cho cảnh quay. Phim được thực hiện năm 2002

Ảnh:Đạo diễn A.Sokurov (Bên phải và Nhà quay phim T.Buttner với máy quay phim Sony F900 sử dụng steadicam tại hiện trường phim Nga Ark.
Bộ phim đầu tiên sử dụng Steadicam là Bound for Glory ( Con đường đến với vinh quang ), thực hiện năm 1976. Cùng năm 1976 bộ phim Người chạy maraton được thực hiện việc quay bằng thiết bị này, mới được xem là bộ phim truyện đầu tiên thực sự quay với thiết bị Steadicam.
Nói đến sử lý hình ảnh cho những cảnh di chuyển máy dài, ngăn, địa hình khó khăn, máy ổn định và mềm mại thì phải nói đến Steadicam. Steadicam dường như thích ứng với mọi loại hình ảnh như phim truyện, Truyền hình ( Phóng sự, thời sự, thể thao, thời trang….) với những ưu thế này Steadicam đã được sử dụng rất rộng rãi. Vào năm 2005, Garret Brown đã được trao giải thưởng Oscar cao quý bởi những cống hiến to lớn của ông cho sự phát triển của kỹ thuật điện ảnh. Đó là sự ghi nhận hoàn toàn xứng đáng. Steadicam của Garret Brown đã mở ra những khả năng biểu hiện mới mẻ và vô cùng to lớn cho chiếc máy quay phim. Với khả năng kể chuyện được mở rộng, chuyển động máy, yếu tố ngôn ngữ tạo hình quan trọng của hình ảnh điện ảnh đẫ có một sự thay đổi rõ rệt, trở nên ngày càng phong phú và giàu ý nghĩa.

Phạm Bạch Dương


Chuyên đề KT Điện ảnh và VTTH: PHIM 3D

Phim nổi đã xuất hiện từ những năm 50 của thế kỷ trước.Ở các nước điện ảnh tiên tiến đều có rạp chiếu phim nổi.Trước năm 2000,rạp chiếu phim Ngọc Khánh của Viện Tư liệu phim Việt nam từng được cải tạo để chiếu phim nổi.
Phim nổi,nay gọi là phim 3D-ba chiều tạo ra những ấn tượng mạnh về hiệu quả không gian của hình ảnh.Những hiệu quả này gây ra những cú sốc thị giác cho người xem.Bộ phim Avantar mới đây của James Cameron là một thí dụ điển hình,có thể mở ra một thời đại mới của điện -ảnh-ba-chiều.

Để xem phim nổi,người xem vào rạp được phát kính đeo mắt.
Khi xem,nếu bỏ kính ra thi chỉ thấy trên màn ảnh hai hình chập vào nhau.Để quay phim nổi,trước đây phải sử dụng hai máy quay để cùng quay một khuôn hình nên rất phức tạp.Bước tiến sau đó là một máy quay sử dụng hai ống kính.Công nghệ mới nhất của máy quay 3D là một máy quay với một ống kính,bên trong được thiết kế hệ thống hai gương phản chiếu và hai bộ cảm biến hình ảnh.

Trong khoảng thời gian gần đây, nhất là kể từ sau sự xuất hiện của bộ phim được coi là “siêu phẩm của mọi thời đại”, Avatar, trào lưu phim 3-D đã phát triển một cách rầm rộ hơn bao giờ hết. Đi đến đâu cũng thấy người ta nói về nào là phim 3D, nào là về công nghê 3-D, nào là “giả” 3-D... Vậy thực chất phim 3-D là gì? Nó đã được làm ra như thế nào? Nó khác gì với phim 2-D truyền thống? Phim “giả” 3-D khác với phim 3-D “xịn” ở điểm nào? Hãy cùng tìm hiểu kĩ hơn về trào lưu này nhé.

Khái niệm về phim 3-D[/B]

Như nhiều người đã biết, 3-D thực ra là tên viết tắt của từ 3-Dimension (3 chiều). Kỹ thuật 3-D mà người ta vẫn sử dụng một cách phổ biến hiện nay thường đi liền với khái niệm “đồ họa 3D” - tức là những hình ảnh được dựng nên một cách sống động như thật với sự trợ giúp của các phần mềm đồ họa vi tính. Kỹ thuật này lần đầu tiên được biết đến trên màn ảnh vào năm 1995 với bộ phim hoạt hình nổi tiếng Toy Story (Thế giới đồ chơi) của hãng Walt Disney. Bộ phim này đã mở ra một thời kì mới cho thể loại phim hoạt hình không chỉ với những hình ảnh đẹp hơn, sinh động hơn, “ăn đứt” khi so sánh với các bộ phim hoạt hình 2D truyền thống, mà còn dần làm xoá nhoà đi khoảng cách giữa những hình ảnh “thật” và “giả” trên phim. Có thể kể đến một số bộ phim nổi bật cho thể loại 3D này như Shrek, Finding Nemo, The Incredibles, Happy Feet, Surf's Up… hay gần đây nhất là Wall-E và Up.
Tuy nhiên, dường như chưa cảm thấy thoả mãn với những gì đã có, các nhà làm phim vẫn quyết tâm mang đến cảm giác thật hơn cho người xem, muốn khán giả có thể tương tác được với bộ phim, tạo cảm giác giống như là được sống trong phim vậy. Vì lẽ đó mà công nghê Real 3-D – không gian ba chiều “thật” đã ra đời. Khác với công nghê phim 3D trước kia, vốn chỉ là những phim hoạt hình có các hình khối được dựng trong không gian ba chiều, nhưng nó vẫn bị giới hạn bởi không gian phẳng (2D) của màn hình, thì công nghệ Real 3-D làm cho người xem có cảm giác như những hình khối đó hoàn toàn thoát ra khỏi màn hình. Điều này khiến cho hình ảnh trên phim trở nên sâu và thật hơn rất nhiều.


Ảnh bên:Phim 3-D House of Wax ra đời từ năm 1953.
Bộ phim được coi là làm theo công nghệ 3-D đầu tiên đã ra đời vào năm 1953. Đó là bộ phim House of Wax của đạo diễn người Mỹ gốc Hungari, André de Toth. Nhưng chỉ đến cho tới khi bộ phim hoạt hình Chicken Little (2005) của hãng Walt Disney đạt được những thành công rực rỡ (thu về gần 100 triệu USD chỉ trong tháng công chiếu đầu tiên) thì công nghệ Real 3-D mới được các nhà làm phim chú ý đến. Nhận thấy được tiềm năng cũng như lợi nhuận khổng lồ mà những bộ phim 3-D này mang lại, các nhà làm phim Hollywood đã quyết định đầu tư lớn hơn vào công nghệ 3-D. Và quả thật, những thành công sau đó đã cho thấy những sự mạo hiểm là hoàn toàn sáng suốt: Ice Age 2 có doanh thu gần 200 triệu USD chỉ riêng tại Mỹ, Shark Tale thì thu về 363 triệu USD, Madagascar đạt 525 triệu USD ở thị trường Mỹ... Tuy nhiên đó vẫn chỉ là những bộ phim hoạt hình 3-D. Thế còn những bộ phim 3-D do người thật đóng thì sao???
Chính vì nhận thức được điều này mà đạo diễn lừng danh James Cameron đã quyết định cho thực hiện dự án Avatar vốn đã ấp ủ gần 11 năm trời của mình. Khác với những bộ phim hoạt hình 3-D trước đó chỉ dựng hoàn toàn bằng máy tính, James Cameron đã sử dụng một loại máy quay phim kĩ thuật số 3-D tiên tiến có hai ống kính song song, có thể định vị được những tiêu điểm khác nhau, thích hợp với từng địa hình quay và những hình ảnh này được sẽ được hiện ngay trực tiếp trên máy tính để có thể chỉnh sửa một cách tùy ý.

Có thể nói chính nhờ phương pháp này mà bộ phim Avatar đã trở thành một trong những người đi tiên phong mở ra “một trang sử mới cho lĩnh vực điện ảnh”.

Nguyên lí hoạt động của 3-D?

Các bộ phim được làm theo công nghệ 3-D nói chung đều dựa theo nguyên lí sự tạo ảnh 3 chiều từ hai mắt, sự chìm hay nổi của một vật phụ thuộc vào cách nhìn người quan sát. Chẳng hạn khi nhìn hai hình ảnh của một vật sát cạnh nhau, nếu như mắt trái nhìn vào ảnh bên phải còn mắt phải nhìn vào ảnh bên trái, thì ta sẽ cảm tưởng như vật đó đang nổi ra khỏi khung hình. Và ngược lại thì vật đó sẽ “lõm” xuống.



Lợi dụng điều này, các nhà làm phim 3-D sẽ quay thành hai phim, từ hai góc nhìn khác nhau tương ứng với hoạt động của hai con mắt. Những hình ảnh này khi qua não bộ, chúng sẽ chập lại tạo thành những hình ảnh không gian ba chiều. Và vì kĩ thuật 3-D này chủ yếu là dựa vào sự tổng hợp ảnh từ 2 mắt tạo nên nên những người có tật về mắt sẽ khó có thể xem được những bộ phim 3-D.

Kỹ thuật quay phim 3-D

Vậy một bộ phim 3-D sẽ được quay như thế nào? Đầu tiên, như đã biết, người ta sẽ sử dụng một camera khổng lồ trang bị hai ống kính lệch pha (một dành cho mắt trái và một cho mắt phải) để ghi hình cùng lúc từ hai góc nhìn, trên hai cuốn phim khác nhau.
Tại phòng chiếu, người ta sử dụng máy chiếu phim có hai ống kính, qua đó chuyển tải hai băng hình khác nhau. Một thiết bị đặc biệt đưa lên màn ảnh quang cảnh dành cho mắt trái và mắt phải cùng lúc để tạo nên ảnh 3 chiều. Tuy nhiên, khán giả sẽ không thể xem được những hình ảnh này ngay vì chúng sẽ xuất hiện rất nhòe trên màn ảnh, mà bắt buộc phải mang một cặp kính làm bằng chất liệu đặc biệt (thường là bằng thủy tinh lỏng). Sau đó, qua một tín hiệu hồng ngoại đồng bộ với máy chiếu phim chiếu từ xa sẽ làm một bên mắt kính bị mờ và bên kia trong suốt, khi đó người xem mới cảm nhận được những hình ảnh 3 chiều trên màn ảnh.


Tuy nhiên, trong Avatar, đạo diễn James Cameron còn đưa ra ý tưởng khác khi dùng ba màn ảnh rộng, tạo thành một đường cong khổng lồ bao trùm cả tầm nhìn. Mỗi màn ảnh đó sẽ được chiếu bằng loại phim 65mm, nghĩa là gấp đôi loại phim nhựa 35mm vẫn thường dùng, để có được ảnh to, rõ và sáng hơn. Ngoài ra sẽ có tổng cộng sáu máy chiếu phim tạo ra sáu góc nhìn khác nhau, tay vì 2 máy chiếu như bình thường để tạo ảo giác hoàn hảo và phim cũng được chiếu với tốc độ nhanh hơn 30 ảnh/giây thay vì 24 ảnh/giây làm cho chuyển động của các nhân vật trong phim cũng trở nên nhuần nhuyễn hơn.
Do có sự phức tạp, đòi hỏi đến các kĩ thuật hiện đại đến như vậy nên việc làm nên các bộ phim 3-D quả thật rất “nặng đô-la”. Chính vì thế nên các nhà làm phim đã nghĩ ra được một phương pháp khác có thể tiết kiệt được một khoản chi phí lớn, đó là bằng cách chuyển đổi những bộ phim dạng 2-D (phẳng) sang 3-D (nổi), hay người ta vẫn thường gọi đùa là phim "giả 3-D". Có thể kể tên đến hai bộ phim dạng 2-D chuyển đổi sang 3D gần đây nhất là Alice in Wonderland và Clash of the Titans.

Để chuyển một bộ phim 2-D thành 3-D trước tiên người ta phải xác định độ sâu của ảnh và đối tượng mình định làm, xem cái nào sẽ đặt trước, cái nào đặt sau, chỗ nào cần nổi lên và chỗ nào sẽ phải chìm xuống. Sau đó người ta sẽ cắt ảnh và kéo dãn bóng về bên phải cảnh nền nhằm để tạo ra hình ảnh dành cho mắt trái, rồi tương tự lại sao chép hình ảnh đó nhưng kéo lệch về bên trái để tạo ra hình ảnh cho mắt phải. Khoảng giữa hai hình ảnh này, người ta sẽ chèn vào đó các hình ảnh tổng hợp dạng hình khối và phải làm như thế liên tục 24 lần/giây mới tạo được hình ảnh nổi.

Tuy nhiên,nếu muốn chuyển đổi một bộ phim “phẳng” sang “nổi” cũng phải cần đến hàng trăm chuyên gia vi tính và cũng tiêu tốn một con số chi phí không nhỏ, dù tất nhiên là vẫn thấp hơn nhiều so với làm phim 3-D thật. Có điều, tất nhiên là do “tiền nào của nấy” nên phim "giả 3-D" khó có thể so bì về độ thật và có những hình ảnh nổi rõ như 3-D "xịn" được-Xem hai ảnh minh họa bên.

Hiện nay trên thế giới, có rất nhiều loại công nghê Real 3-D như Anaglyph, Real D, Dolby, Prisma… nhưng phổ biến nhất và thường dùng trong các rạp chiếu phim nhất vẫn là hai công nghê Dolby và Real D.

Công nghê Real D dựa theo nguyên lý phân cực để tạo hiệu ứng nổi 3D, bao gồm hai máy chiếu giống hệt nhau đươc đồng bộ hóa, phân cực hóa, và cùng chiếu lên một màn ảnh (phủ một chất liệu đặc biệt chống khử cực, thường là một lớp bạc) nhằm làm giảm độ sáng cho phim.
Trong khi đó, ưu thế của công nghệ Dolby so với Real D chính là Dolby dễ lắp đặt, hoàn toàn có thể chiếu được ngay trên màn hình trắng thông thường và kính đeo có thể tái sử dụng nhiều lần (trong khi kính dùng cho công nghệ Real-D chỉ có thể sử dung 1 lần). Ngoài ra có thể kể đến công nghệ Imax 3D dành chiếu riêng cho những rạp Imax có kích thước hình vòm khổng lồ ngang bằng một tòa nhà.

LẠI ĐỨC KHÁNH