Skip navigation.

Xin


Xin nghiêng xuống một bờ vai
Nâng giòng nước mắt buông dài trên mi
Để cho phiền não ra đi
Tình người ở lại vô vi giữa đời

Xin chia nhau một nụ cười
Dẫu riêng lòng vẫn trùng khơi nụ sầu
Quanh người còn lắm bể dâu
Buồn ta nào có thấm đâu vạn lần

Xin trao ánh mắt ân cần
Hồn toang mở chẳng ngại ngần bước vô
Mạch tim ngày tháng nghẽn khô
Giờ cuồn cuộn chảy vỡ hồ tâm tư

Xin khoan dung những ngôn từ
Dịu lành cơn giận toan nhừ nát tâm
Từ tim hóa tiếng thâm trầm
Lời yêu là khúc hồ cầm thăng hoa

Xin lắng nghe nỗi xót xa
Hiểu đời còn những trầm kha quanh mình
Chẳng cần nói, hãy lặng thinh
Mà nghe sâu thẳm có tình tri âm.

Diêu Linh

Lục Bát Chân Như

,



Tầm Sư

Sớm mai, lên núi tìm sư
Đường mây ẩn hiện Chân Như bước vào
Hương trầm quyện cõi thanh tao
Chú tiểu quét lá chùa sau vô phiền
Sư đang nhập thất tịnh thiền
Bên thềm chánh điện, an nhiên chờ người…

Kiến Sư

Sư ra, điểm một nụ cười
Rừng rơi hoa nắng, diệu ngời chim muông
Tháp trưa gợi mấy tầng chuông
Lắng giòng tâm thức, tỉnh nguồn suy tư
Bên sư, nếp áo dung từ
Trà nâng thơm chén, lòng thư thái long

Thỉnh Sư

Hỏi sư, giữa cuộc tang bồng
Biết đâu là nẻo tịch không, quay về ?
Sư rằng: đi - lạc lối mê
Không đi là đã đề huề, ở đây
Nghe sư, lòng hết đắm say
Chiều lam buông nhẹ, ơn thầy khai tâm

Kiếu Sư

Vách đêm vọng tiếng thâm trầm
Một ngón tay chỉ trăng rằm hôm xưa
Ánh chân nguyên đã rạng chưa ?
Vén màn u tối, dạ thưa, thấy rồi
Kiếu sư, con phải về thôi !
Sát-na thức tỉnh, luân hồi...dần xa...

Diêu Linh

Tháng 8 Trên Đồi, Trăng và Em


Huyền vi sắc màu đêm
Lung linh triền dốc mộng
Em gối đầu thạch động
Xoè tay hứng trăng đầy
Gió ru điệu man khai
Dâng tóc em hương mật
Anh thả chân trên đất
Lần theo vết nguyệt ca
Tim kết vạn đèn hoa
Về lễ trăng tháng Tám
Thắp hồng hoa tâm khảm
Bằng nến tình trăm năm
Đồi mở hội đêm rằm
Mời sao cùng múa hát
Khúc Nghê Thường thánh thoát
Lay động cõi thần tiên
Trăng rót mật dịu hiền
Ủ thơm đồi cổ tích.
....
Trả đêm về tĩnh mịch
Chỉ còn trăng và em
Anh ru khúc tình mềm
Dỗ giấc em huyền thoại

Diêu Linh

Nguyệt Rằm


(cho Yên Chi và người cùng ngồi bên hồ)

đêm mơ một ánh nguyệt rằm
soi trên lối mộng trăm năm người về
tóc dài quyện ngát hương mê
mắt sâu như một câu thề cho nhau

từ trăng vụn vỡ đêm nào
từ tằm hoá kiếp nằm đau một thời
từ người rót mật mọc mời
vườn tình lay động nguyệt cười thăng hoa

tạ ơn phút ấy ngọc ngà
cho đêm nguyệt rạng sẽ là thiên thu
mai này trên nẻo sa mù
gặp nhau xin dỗ lời ru chưa tròn

nguyệt rằm nguyệt rạng đầu non
tình rằm tình hãy xin còn tìm nhau
nhỡ duyên không thắm cau trầu
nhớ nhau vọng nguyệt thắp mầu mắt xưa

và đi, vỡ những âm thừa
ai lay mộng tỉnh cho vừa nhớ thương.

Diêu Linh

Cổ Tích

,

(...ta nghe cổ tích, cứ ngờ mình trẻ thơ)

Cổ tích là con dế nhỏ
Ngu ngơ tiếng gáy trên đồi
Cổ tích là triền hoa cỏ
Ươm đầy giọt nắng tinh khôi

Cổ tích là cô bím tóc
Mãi mê những bước lò cò
Cổ tích là một thằng nhóc
Diều thơm giấy mực học trò

Cổ tích là mùa trăng sáng
Lung linh thắp phố lồng đèn
Cổ tích là dăm đứa bạn
Cùng chia mẫu bánh nhân sen

Cổ tích là miền thơ ấu
Xuyến xao mỗi lúc tìm về
Cổ tích bao lần ghi dấu
Một thời vụng dại, ngô nghê.

Diêu Linh

Ru Anh

,


Ru anh vào giấc thụy trầm
Ngủ đi anh, mộng trăm năm em chờ !
Em về ủ tóc hương mơ
Dệt mềm sợi nhớ võng thơ anh nằm

Ru anh lục bát mê tâm
Nghe tương tư sóng vỡ đầm trong nhau
Em về giặt áo hương ngâu
Làm chăn anh đắp vỗ sâu giấc nồng

Ru anh bằng tiếng tịch không
Nghe tiền thân gọi nợ hồng ba sinh
Em về ướp nụ hương tình
Ướm triền môi vị nguyên trinh dại cuồng

Ru anh ngôn ngữ cạn nguồn
Chỉ còn vọng tiếng, vỡ buồng tim, yêu...
Ru anh tình dậy sóng triều
À...à...ơi...ngủ cho đều...em ru.

Diêu Linh

Hàn Sơn Tự

,


Nhắc đến Hàn Sơn Tự không ai không biết đến 4 câu thơ nổi tiếng của Trương Kế:

"Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền."


Bài thơ được thi sĩ Tản Ðà dịch qua thể lục bát:

"Trăng tà tiếng quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San."


Và bản dịch sang tiếng Anh:

"Moon sets, crows cry and frost fills all the sky;
By maples and boat lights, I sleepless lie.
Outside Suzhou Hanshan Temple is in sight;
Its ringing bells reach my boat at midnight."


Tương truyền, Trương Kế (742-756), người Tương Châu (nay gần Thành Phố Tương Phán, tỉnh Hồ Bắc) trên đường về lại cố quận trong đêm thanh vắng đã neo thuyền trên bến Phong Kiều gần chùa Hàn Sơn. Với tâm trạng buồn bã vì vừa thi rớt, thêm vào cảnh quạnh quẽ hoang vắng với ánh lửa le lói của dân thuyền chài, nghe tiếng quạ kêu và tiếng chuông chùa Hàn Sơn, ông đã "tức cảnh sinh tình" sáng tác bài thơ "Phong Kiều Dạ Bạc",trở thành tác phẩm nổi tiếng trong văn học Trung Hoa.

Hàn Sơn Tự (Hanshan Temple) là 1 ngôi chùa cách trung tâm Tô Châu gần 5 cây số, bên cạnh con kinh hẹp và có một cây cầu đá dốc cao bắc ngang trước chùa. Hàn Sơn Tự nổi tiếng với nhiều kiến trúc trang nghiêm và cổ kính như Ðại Hùng Bửu Ðiện, Phổ Minh Tháp Viện, Hàn Thập Ðiện, La Hán Ðường, Hàn Tháp Ðình, Phương Trượng Thư, Hoằng Pháp Ðường, Tàng Kinh Lâu, Tăng Ðường và vườn Phong Kiều. Nhưng đặc biệt nhất có lẽ là tháp chung trên đó chỉ treo duy nhất một quả chuông đồng nặng 2 tấn (2,000 kg), mỗi khi ngân lên nghe thanh thoát làm tan biến mọi phiền não. Nghe nói, Trương Kế năm sau đó đã đậu Tiến Sĩ vì ở lại học ôn tại Hàn Sơn Tự và hằng đêm nghe tiếng chuông thanh tịnh làm trí óc minh mẫn thêm.


Rất tiếc là ngày nay, Hàn Sơn Tự đã biến thành khu du lịch, không còn linh thiêng theo tinh thần Phật Giáo nữa mà mang nhiều chất mê tính dị đoan. Trên đường đến Hàn Sơn Tự, cô hướng dẫn viên bảo chúng tôi rằng đến Hàn Sơn Tự nhất định phải lên tháp thỉnh chuông, và nhớ là phải thỉnh 3 tiếng để cầu "Phúc, Lộc, Thọ". Cô dặn đi dặn lại là đừng có "tham" mà thỉnh 4 tiếng vì 4 tiếng chuông không mang thêm "tài lộc" mà chỉ có các sư thầy, sư cô trong chùa mới thỉnh mà thôị (kỵ đó mà).

Diêu Linh xếp hàng mua vé để được lên lầu chuông, quyết "thỉnh" cho được "tiếng chuông" trong "Phong Kiều Dạ Bạc". Đến lượt mình, Diêu Linh thong thả điểm 4 tiếng chuông và nhẹ nhàng đi xuống. Mấy người trong đoàn trố mắt nhìn Diêu Linh hỏi:

"Sao lại thỉnh 4 tiếng?"

Diêu Linh cười đáp:

"Dạ, 4 tiếng là Tứ Đại Giai Không" :smile:

Diêu Linh

Bí Mật Lăng Mộ Tần Thủy Hoàng

,

Phàm lúc sống, Tần Thủy Hoàng (Qin Shi Huangdi) rất "kỵ" ai nói về những gì có liên quan đến cái chết. Cho nên quần thần trong triều không bao giờ dám "hó hé" đến chuyện này vì sợ bị "đứt đầu". Lúc về già, Tần Thủy Hoàng thích đạo Lão, tự xưng mình là "Chân Nhân" cho người ra đảo tìm tiên kiếm thuốc trường sinh bất tử.

Tần Thủy Hoàng (259 -210 TCN) được an táng trong một ngôi mộ đã xây sẵn ở phía Bắc núi Ly Sơn. Bên trên mộ bao bọc bởi một lớp đất đắp nổi cao 76 m, từ Nam đến Bắc dài 350 m, từ Tây sang Đông rộng 354 m. Lăng mộ này do gần 70 vạn người xây cất trong nhiều năm và hầu hết bị chết vì tai nạn khi xây cất hoặc bị giết (diệt khẩu) sau khi hoàn tất.


Có rất nhiều đường hầm dẫn đến lăng mộ Tần Thủy Hoàng. Đường hầm đầu tiên được khám phá vào năm 1974, do 1 nông dân trong lúc đào giếng (năm đó vùng này bị nạn hạn hán lớn) phát hiện được. Ông đã đào thấy tượng lính bằng đất sét có chiều cao bằng người thật. Sau đó các nhà khảo cổ đã khai quật và đào thấy rất nhiều tượng gồm có quan văn, quan võ, binh lính và ngựa, ước lượng khoảng 6000 tượng. Các binh lính này được điêu khắc rất chi tiết và tỉ mỉ, giống hệt người thật.

Sau khi ông nông dân đào được tượng Binh Mã Dũng (Bīngma Yong hay Terracoter Warrior) đầu tiên cho đến nay khu này đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng. Hàng ngày có khoảng mấy chục ngàn du khách đến đây thăm viếng. Dân vùng Tân An này "ăn nên làm ra" từ các hàng quán (ăn uống), các cửa hiệu bán các tượng, tranh Binh Mã Dũng cho khách du lịch. Người nông dân đào giếng hôm xưa nay đã trên 70 tuổi và hiện đang làm Quản Lý cho viện bảo tàng Binh Mã Dũng này. Tổng thống Bill Clinton trong 1 lần đến viếng thăm khu di tích lịch sử này đã xuống hầm Binh Mã Dũng, chụp hình lưu niệm với ông lão và xin chữ ký của ông trên tấm hình nhưng ông là nông dân mù chữ nên đã ấn dấu tay thay chữ ký. Nhà cầm quyền Trung Quốc cảm thấy "mất mặt quốc gia" nên đã kiếm thầy thư pháp bắt ông luyện chữ ký trong suốt mấy tháng trời ròng rã. Hiện nay chữ ký của ông như "rồng bay phượng múa" và công việc hàng ngày là ngồi "ký rẹt rẹt" vào các sách, hình Binh Mã Dũng cho khách du lịch.

Anh hướng dẫn viên đang thao thao bất tuyệt, bỗng quay sang người bạn trẻ đi chung đoàn với Diêu Linh nói:

- Đặc biệt các binh tướng của Tần Thủy Hoàng đều "một mí". Nếu là thời đó thì anh này (chỉ vào người bạn đi chung đoàn) không bao giờ được tuyển làm binh tướng của Tần Thủy Hoàng.

Diêu Linh xen vào hỏi:

- Ủa, tại sao lại chỉ chọn "một mí"?

Anh bạn:

- Thì tại vì họ không phải 2 mí. Dzậy cũng hỏi!

Trên đường về, anh bạn quay sang Diêu Linh trò chuyện:

- Hong biết tại sao nước Trung Hoa rộng lớn như vậy là họ còn đi xâm chiếm nước khác?

- Thì tại vì họ xâm chiếm nước khác nên mới rộng lớn. Dzậy cũng hỏi! ("trả thù" dân tộc :cool: )

Diêu Linh

* chú thích: Tấm ảnh trên là bác nông dân đào tượng hôm xưa nay là quản lý viện bảo tàng Binh Mã Dũng. Tấm ảnh này có 1 không 2 vì thật ra chúng tôi không được phép chộp hình nhưng vì không biết đã lỡ tay bấm máy và ông ta giơ lên bảo "đừng chộp" nhưng nhìn có vẻ như là đang chào "Ni Hao!". :up:

999 Roses


Xin tặng các bạn 999 Đóa Hồng nhân ngày 09.09.09

Viên Sỏi

Mình hoá thân là một viên sỏi, một viên sỏi "vô tri, vô giác". Con người bảo thế. Con người (tự cho) là loài thông minh tuyệt đỉnh cho nên họ "phán" cái gì thì không thể sai được. Không biết mình có "tri giác" hay không, nhưng có một điều mình chắc chắn là mình có "Phật tánh". Mình được "phân loại" vào hàng "vô tình chúng sanh", mà đã là "chúng sanh" thì hẳn nhiên phải có "Phật tánh". Cho nên mình là "một - viên - sỏi - có - Phật - tánh".

Phật tánh là cái tánh "sáng" , tánh "thật" , tánh "ngộ"... Và mình nhận ra là mình cũng "ngộ" lắm...ngộ từ những câu chuyện "ngồ ngộ", "ngộ nghĩnh" của loài người...Lắm lúc, vì "ngộ" như vậy, mình đâm ra nghi ngờ "tri, giác" của con người. Nếu họ có khả năng "biết" (tri) như vậy, sao họ không phân biệt được sự khác nhau của loài sỏi chúng mình? Họ bảo "sỏi nào cũng là sỏi cả". Nhưng thật ra, nếu họ quan sát tỉ mỉ thì loài sỏi cũng có 4 ngàn 8 vạn hình tướng, màu sắc và kích thước khác nhau. Nếu được đưa vào kính hiển vi thì những "đường vân" trên mỗi viên sỏi đều khác nhau. Và vì khác nhau như vậy, cho nên "căn cơ" của mỗi viên sỏi cũng khác nhau.

Xem ra, "căn cơ" của mình có phần "nhỉnh" hơn chúng bạn. Ấy cũng do mình "thuận duyên" được làm "chứng nhân" của những "hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục" (Thất Tình) của con người, từ những mẫu chuyện bên bờ hồ này, nơi mình đang cư ngụ.

Có lẽ mình may mắn hơn nên được "ẩn trú" trong bụi lau sậy rất ư là kín đáo và "an toàn", không ai trông thấy được. Nếu không, thì "số phận" của mình cũng lần lượt như chúng bạn, bị con người dùng để biểu hiện những "cảm xúc" của họ. Và những viên sỏi ấy, theo những "cảm xúc" của con người, cứ thế rơi "tỏm" xuống tận đáy hồ. Không biết những "cảm xúc" kia có tan biến trong lòng con người khi viên sỏi chạm đáy hồ hay không? Nhưng riêng cuộc sống của những viên sỏi ấy thì không hề "kết liễu". Nơi lòng hồ, chúng lại tiếp tục nghe những mẫu chuyện của loài rong rêu và sinh vật dưới nước. Nhưng chắn chắn, sẽ không được "phong phú" và "phức tạp" như những mẫu chuyện loài người.

Và câu chuyện bắt đầu từ…

Hôm ấy, trời ngả về chiều, ánh nắng còn sót lại cuôí ngày rơi nhè nhẹ xuống mặt hồ. Trời không gió. Mặt hồ phẳng lặng.

Nơi ghềnh đá, cạnh bờ lau sậy trú ngụ của mình, có đôi trai gái đang ngồi im lặng hàng giờ. Không khí trầm lắng đến có thể nghe được nhịp tim và hơi thở của họ.Đột nhiên, cô gái cất tiếng phá tan cái tĩnh mịch ấy:

- Sao bạn lại chọn con đường "ngược giòng"?

Người con trai có khuôn mặt thánh thiện và đầy cá tánh, nét trầm tĩnh và an nhiên. Không trả lời vội, anh lặng lẽ cúi nhặt một viên sỏi dưới chân (à há) và ném nhẹ xuống mặt hồ. Viên sỏi chạm mặt nước tạo thành những vòng tròn đồng tâm, nối tiếp nhau, lan dần lan dần, to dần to dần…

Anh cất tiếng chậm rãi:

- Giống như những vòng tròn kia, mình muốn mang tâm hạn hẹp của mình mở rộng ra… hoà vào tâm bao la của vũ trụ.

Im lặng. Những vòng tròn trên mặt hồ bắt đầu tan dần, tan dần, hòa vào nước. Mặt hồ lại phẳng lặng. Viên sỏi bây giờ đã nằm sâu dưới đáy hồ. Viên sỏi tạo ra vòng tròn? Hay mặt nước tạo ra vòng tròn? Trùng trùng duyên khởi.

Họ ra về.

...

Buổi sáng thật trong lành.Mặt nước như tấm gương phản chiếu bầu trời xanh lơ. Gió hiu hiu lay nhẹ giòng liễu bên hồ. Một cặp tình nhân, tay trong tay, dắt nhau ngồi xuống trên ghềnh đá. Cô gái ngồi gỏn lọn như con mèo ngoan trong lòng chàng trai. Chàng có khuôn mặt thư sinh, đôi mắt to, đuôi mắt dài đa tình.

Chàng vòng tay ôm cô thật tình tứ :

- Em là cô gái anh yêu nhất trên đời này.

Nàng nguýt yêu:

- Xí, chàng trai nào mà chẳng nói vậy? Anh chỉ giỏi ngọt cái miệng.

- Em đang có hạt kim cương mà cứ tưởng mình có viên sỏi.


Nghe nhắc đến "thân phận viên sỏi", mình "có tật giật mình" ngay. Gì cơ? Chả lẽ "phân thận" của mình lại "thấp hèn" thế à? Không biết hạt "Kim Cương" kia có "tri giác" không nhỉ mà lại được con người "trọng vọng" đến thế?

Chàng trai nhặt viên sỏi gần đấy, móc cây bút từ túi áo, hí hoáy viết "Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau". (hừm, sao không là "kim cương" mà lại là "sỏi đá" ?)

Chàng nhẹ nhàng đặt viên sỏi vào lòng bàn tay cô gái:

- Đây là nhân chứng cho tình yêu của anh dành cho em.

Cô gái nâng niu viên sỏi trên tay, rồi cô gái thả nhẹ viên sỏi xuống mặt hồ, như một điều ước: "Đây là nhân chứng cho tình yêu của chúng ta."

Nhịp tim của cô hòa theo viên sỏi tạo thành một âm thanh khua mặt hồ. Đôi mắt cô lấp lánh màu yêu. Màu pha lê nắng.

Họ ra về.

...

Ba hôm sau, chàng trai có khuôn mặt thư sinh trở lại, lần này không phải với cô gái có đôi mắt màu pha lê mà là một cô gái khác, trẻ trung và nhí nhảnh. Chàng trai tay trong tay với cô gái, đến ghềnh đá quen thuộc… Chàng vòng tay ôm cô thật tình tứ, thì thầm:

- Em là cô gái anh yêu nhất trên đời này.

"Ha. Câu này quen quen!" Mình bật cười lớn. Chàng trai bất chợt quay ngang. Hú hồn! May mà mình dùng "mật ngữ" của loài sỏi. Nếu không đã bị tóm gọn và quăng xuống hồ, chẳng còn được làm "chứng nhân" của những "hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục" của con người.

Cách đấy không xa, phía sau rặng cây to, cô gái đôi mắt pha lê đã thấy và nghe tất cả. Đôi mắt cô không còn màu long lanh nắng mà là màu ảm đạm chiều - một buổi chiều không nhẹ nhàng như buổi chiều tĩnh lặng như đôi trai, gái hôm nọ.

...

Mình hóa thân là một viên sỏi, một viên sỏi "vô tri, vô giác". Con người bảo thế. Nhưng đồng loại của họ cũng có người "vô tri, vô giác". Không "biết" hổ thẹn việc mình làm và không "cảm" nhận nỗi đau của người khác. Ít ra, một viên sỏi "vô tri, vô giác" không làm tổn thương đồng loại.

Mình là "viên - sỏi - có - Phật - tánh". Mình cũng "ngộ" lắm…ngộ từ những câu chuyện "ngồ ngộ", "ngộ nghĩnh" của loài người.

Nếu tái sanh, mình chỉ nguyện:

"Làm thân sỏi nhỏ giữa trần gian
Ta bỏ hoang nhiên dạo xuống ngàn


...

Một mai thức giấc choàng cơn mộng
Thân từ sỏi đá cũng mênh mông"
(*)


Diêu Linh
(cho KP và người bên hồ)




(*) thơ Kỳ Phong