Skip navigation.

Log in | Sign up

KIẾN TRÚC VIỆT

Những chặng đường kiến trúc Việt

October 2009

( Monthly archive )

TẢN MẠN VỀ KIẾN TRÚC VIỆT NAM

TẢN MẠN VỀ KIẾN TRÚC VIỆT NAM

KTS Nguyễn Trực Luyện

(Nguyên chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam)

Kiến trúc của chúng ta đang ngả mạnh về phía hiện đại. Đấy là xu thế tất yếu và là điều mừng. Nhưng không vì thế mà ta coi nhẹ việc tìm kiếm, ít ra là, cái riêng của nước mình cho kiến trúc. Bài học thành công của các đồng nghiệp Nhật Bản đáng để ta suy ngẫm về vai trò, vị trí và trọng trách của kiến trúc sư - tác giả công trình kiến trúc ở ta hiện nay.
* Chùa Tây Phương. Ảnh trong bài: Đoàn Đức Thành.
Mối tương quan giữa 2 yếu tố “đương đại” và “truyền thống” luôn là vấn đề trung tâm trong cốt lõi của sáng tạo kiến trúc ở mọi quốc gia và trong mọi thời kỳ lịch sử. Điều này phản ánh bản chất của kiến trúc như một nghệ thuật gắn với đời sống, một nghệ thuật của cuộc sống. Ở nước ta vấn đề nói trên trong vòng mươi năm trở lại đây cũng đã được khẳng định rõ trong định hướng cho hoạt động văn học nghệ thuật là “tiên tiến và đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc”. Chúng ta nói như thế đã khá nhiều, trên mọi diễn đàn, và gần như trong giới sáng tạo nghệ thuật ai ai cũng thuộc lòng. Nhưng quả thực nói thì dễ, còn làm thì cực khó, nhất là làm trong sáng tác nghệ thuật. Nhìn nhận diện mạo kiến trúc ở ta gần đây dễ dàng thấy có sự áp đảo của kiến trúc hiện đại, chỉ ở đâu đó, trên một vài công trình còn cảm nhận được hơi thở của truyền thống (tuy là chỉ nặng về dáng vẻ bề ngoài). Đấy gần như là những phản ứng lẻ tẻ, yếu ớt và vô vọng. Lúc này khắp các đô thị lớn bé trong cả nước đâu đâu cũng đua nhau xây nhà cao tầng, chung cư hoặc văn phòng cho thuê, với kiến trúc mới, na ná nhau. Về mặt nào đó đây có thể coi là dấu hiệu mừng, phản ánh xu thế tất yếu của đất nước mở cửa, đang hội nhập vào thế giới ngày một phẳng ra trong cơn lốc của toàn cầu hoá.
* Biệt thự nha sĩ Nguyễn Mỹ, 77 Nguyễn Thái Học, Hà Nội. Tác giả: KTS Nguyễn Cao Luyện. Ảnh ĐĐT sưu tầm.


Song nói đi là thế, cũng cần phải nói lại là những gì chúng ta đã làm và có được trên bình diện đất nước hôm nay chỉ là những bản sao vụng về của kiến trúc xứ người hàng mươi năm trước (!).
Trong kiến trúc, như nghệ thuật của sự sáng tạo, chúng ta vẫn đang là kẻ đi sau, chưa tìm ra được cái của mình và cho mình. Đã đến lúc cần nhận ra rằng, kéo dài thêm nữa tình trạng trên sẽ là một nguy cơ cho kiến trúc nước nhà. Không tìm được cái riêng, chúng ta sẽ mãi mãi chỉ là kẻ đi sau!
Xin hãy thử nhìn sang đất nước “mặt trời mọc” xem các đồng nghiệp ở đấy làm nghề ra sao? Có thể dễ dàng thấy được là kiến trúc họ làm ra thật hiện đại, nhưng ẩn sâu sau dáng vẻ hiện đại (có thể còn là tân kỳ) ấy cũng không khó khăn lắm để nhận ra hồn cốt của văn hoá và thẩm mỹ Nhật Bản. Theo tôi, đó là thành công lớn của các đồng nghiệp Nhật, và chúng ta không thể không đặt ra câu hỏi, đi kèm với sự suy ngẫm và liên tưởng là: nhờ đâu mà họ có được thành công này? Và liệu có phải các kiến trúc sư ở Nhật được đặt đúng chỗ của mình trong công việc kiến thiết đất nước? hay do họ có được điều kiện làm nghề một cách thoả đáng? …
Kiến trúc do xã hội làm nên, hiển nhiên là vậy. Và cũng hiển nhiên rằng, một tác phẩm kiến trúc dưới dạng công trình xây dựng thì trước hết đó chính là con đẻ của kiến trúc sư. Ý tưởng - cái hồn cốt của công trình kiến trúc được nhào luyện và hình thành nên trong lao động sáng tác của kiến trúc sư, rồi mới được xã hội vật thể hoá, trở nên có hình hài mà góp mặt vào cuộc sống của cộng đồng. Nhận biết được sự liên đới giữa những gì vừa nói trên có thể giúp ích được cho chúng ta trong việc tìm cách thoát ra khỏi tình trạng “đi sau” của kiến trúc Việt Nam hiện nay. Có một thực tiễn đang hàng ngày đập vào mắt ta và đáng để suy ngẫm. Đó là những toà nhà có quy mô lớn, lại cao tầng, mà trước hết là các chung cư, thì ở đây cái “tôi sáng tạo” của kiến trúc sư thường là mờ nhạt, bị khoả lấp sau rất nhiều những đòi hỏi, những yêu sách nằm ngoài kiến trúc. Trong khi đó với những toà nhà vừa phải, chỉ cao đôi ba tầng, thì bút pháp nghề của kiến trúc sư tác giả lại cảm nhận được một cách thuyết phục, rõ nét. Phải chăng hiện tượng nêu trên khiến chúng ta nghĩ đến vị thế của kiến trúc sư như tác giả, xuyên suốt mọi giai đoạn công việc như hiện nay là có vấn đề. Anh ta được, và có thể, làm chủ công việc của mình ra sao? Tiếng nói của kiến trúc sư tác giả được cân đong đo đếm đến mức nào…? Những tình huống mà các câu hỏi đặt ra có ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng và giá trị của toà nhà. Cũng có thể vấn đề lại nằm ở tay nghề, ở tài năng và bản lĩnh chuyên môn của chính tác giả. Anh ta có đủ nhạy cảm nghề để nhận ra cái cần làm, và có đủ nghị lực và can đảm hay không để bảo vệ đứa con của mình khỏi những bóp nặn sỗ sàng, rình rập hàng ngày, từ khi còn là bản vẽ đến lúc xây dựng?
* Quán cafe bằng may tre tại Xuân Hoà, Vĩnh Phúc. Tác giả: KTS Võ Trọng Nghĩa.

Những khả năng vừa nêu trên cần được giới nghề chúng ta xem xét, mổ xẻ một cách khách quan, không chút định kiến, để từ đây có thể mong tìm được phương thuốc đúng bệnh. Việc này không ai khác ngoài Hội Kiến trúc sư chúng ta, như đoàn thể của những người cùng nghề sáng tác kiến trúc, và như một tổ chức xã hội có tính chính trị mà Đảng đặt ra, cần được coi là công việc hàng đầu cần làm lúc này, vì kiến trúc nước nhà.
Đôi điều tản mạn… bộc bạch trên, mong sao là có ích.



Trại kiến trúc sư trẻ toàn quốc lần 3 - Đắk Lắk 2009

Trại kiến trúc sư trẻ toàn quốc lần 3 - Đắk Lắk 2009

(TT&VH) - Sáng nay (30/10), dưới sự chỉ đạo của Hội Kiến trúc sư (KTS) Việt Nam, Ban điều hành các CLB KTS trẻ toàn quốc phối hợp với Hội KTS Đắk Lắk khai mạc Trại kiến trúc sư trẻ toàn quốc lần 3 tại TP Buôn Ma Thuột. Hoạt động này sẽ diễn ra trong hai ngày với sự tham gia của hơn 400 kiến trúc sư (KTS) đến từ 40 đơn vị tỉnh thành và các đơn vị tư vấn lớn.

Với chủ đề Kiến trúc sư trẻ chung sức vươn lên trong sáng tạo, hoạt động lần này đặt mục tiêu sẽ làm rõ những thách thức và cơ hội của KTS trẻ Việt Nam phải đối đầu trong cuộc can h tranh nghề nghiệp đầy thử thách hiện nay. Sau khi tham quan thành phố và vùng phụ cận, các KTS sẽ góp ý cho không gian quy hoạch và tổ chức kiến trúc của Đắk Lắk thông qua hội thảo Tầm nhìn phát triển thành phố Buôn Ma Thuột do UBND tỉnh và Hội KTS Việt Nam đồng tổ chức. Đêm gala có tên gọi Giấc mơ Ban Mê, cùng múa hát bên ánh lửa bập bùng trong lạnh mát của sương giá ven hồ Lắc huyền thoại sẽ kết thúc trại vào tối 31/10.

Quy hoạch đô thị: "Nhanh - Nhiều - Rẻ thì không Tốt"

Quy hoạch đô thị: "Nhanh - Nhiều - Rẻ thì không Tốt"

Tác giả: Nguyễn Trọng Huấn

Hiện trạng Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là nạn nhân của cách phát triển đô thị theo phương pháp "nở nồi".

LTS
: Bài viết tiếp theo của KTS Nguyễn Trọng Huấn, trong chừng mực giúp độc giả bình tĩnh nhìn lại cách chúng ta xây dựng và phát triển đô thị quãng thời gian từ 1954 đến 1975.

Trước ngày thống nhất: Hà Nội tuy nghèo, nhưng thật đẹp!

Ngay sau tiếp quản Thủ đô, một khu ở bằng gỗ, ngoài đê sông Hồng dành cho cán bộ được dựng gấp, đón lực lượng cán bộ từ chiến khu về, từ miền Nam tập kết ra, phần lớn xuất thân từ những làng quê vùng tự do, theo cách gọi hồi ấy.

Tập quán nông thôn và nếp sống đơn giản những ngày kháng chiến dễ dàng chấp nhận cách sống mỗi hộ một phòng, không bếp, không xí. Khu công cộng là một bể nước lớn, dùng chung. Rửa rau, vo gạo ở đấy, tắm giặt, vệ sinh cũng ở đấy. Mấy bà nội trợ ngày nào cũng gặp nhau, hôm nào nhà nào ăn gì, cả xóm đều biết. Chỉ kẹt mỗi sáng cả khu cùng đi cầu. Phải đợi. Sợ trễ giờ làm, có người nhăn nhó, nhưng cũng không xảy ra chuyện gì. Không khác bao nhiêu những ngày còn ở trong làng, trong rừng. Chẳng ai phàn nàn kêu ca.

* Công viên Thống Nhất khi vừa hoàn thành. Ảnh: hanoi.gov.vn

Công viên Thống Nhất là một nét son, mọc lên từ vùng hồ ao trũng thấp phía Nam Thành phố với công sức của hàng triệu ngày công lao động xã hội chủ nghĩa. Một không gian rộng rãi, thoáng đãng, nước biếc, cây xanh, có liễu rủ bên hồ, có cầu qua đảo... hiện hình như từ trong cổ tích.

Câu lạc bộ Thống Nhất phố Hàng Trống, xung quanh Hồ Gươm, thứ bảy, chủ nhật, người miền Nam tập kết tìm nhau đông như trẩy hội.

Nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhân dân lên cao. Sức chứa của Nhà hát Lớn Hà Nội trở nên bé nhỏ, mấy đoàn cải lương Bắc: "Kim Chung", "Chuông vàng Thủ đô", rạp bé, cũ, suất diễn ít, không đủ đáp ứng. Phải xây thêm Nhà hát Nhân Dân bằng gỗ để các Đoàn Cải lương Nam Bộ, Đoàn Tuồng liên khu Năm trình diễn.

Hà Nội quen dần phương thức sống mới, pha trộn gữa cách sống thị thành của cư dân tại chỗ và cách sống làng xã được cán bộ kháng chiến du nhập về. Sau này, như một nhà nghiên cứu người Pháp, Francois Corèse nhận xét: "Hà Nội là một thành phố chấp nhận những mảng làng quê trong lòng đô thị".

Hà Nội tuy còn nghèo, nhưng thật đẹp.

Hồ Gươm giữa lòng thành phố như một đoá phù dung, đổi sắc theo vòng quay nhật qũy, sáng trắng, trưa hồng, chiều đỏ, ngả tím khi đêm về. Bóng cổ thụ nghiêng mình, la đà mặt nước. Hoa lộc vừng trải thảm dưới chân đi. Những hàng cây trên nhiều con phố, phủ bóng râm che mát khách bộ hành. Hồ Thiền Quang, Hồ Tây, như những chiếc gương phản chiếu trời mây. Thu về, sương giăng, những cây bàng trút lá khắc lên trời xám một bức tranh thủy mặc. Thiên nhiên đẹp như tranh mà những toà biệt thự bên hồ là những nét chấm phá, thêm vào.

Cả xã hội cùng chí hướng, cuộc sống vô lo và cũng thật đáng yêu!

Phát triển kiểu "nở nồi"

Là thành phố thuộc địa của chế độ thực dân, Hà Nội là bản sao của mô hình đô thị tư bản. Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa bắt đầu. Quốc hữu hoá, cải tạo công thương nghiệp, công tư hợp doanh, xoá bỏ tư thương làm ăn cá thể. Cải tạo tư sản nhà đất. Trưng thu, trưng mua, Nhà nước thống nhất quản lý, phân phối lại. Chia nhà cho cán bộ trong biên chế. Những biệt thự cũ thiết kế cho một gia đình, nay là chỗ ở cho bốn, năm hộ. Cuộc "phá phách" bắt đầu.

Cơi nới, ngăn chia, chắp vá, đục khoét sao cho vừa với sức chứa bỗng tăng lên đột biến. Có sự phân hoá và phản ứng, nhưng trước một Điện Biên long trời lở đất như vừa mới xảy ra hôm qua, người Hà Nội ngơ ngác, chờ đợi. Trong khi bộ mặt đô thị không cần chờ đợi, xuống cấp từng ngày.
Trong những năm sau hòa bình lập lại, Hà Nội bắt đầu có chung cư cao tầng.

* Ảnh minh họa: Khu tập thể Kim Liên (hanoi.gov.vn)

Khu nhà ở 5 tầng đầu tiên lắp ghép bằng panen được chuyên gia Triều Tiên giúp, theo mô hình đô thị Xô viết do chuyên gia Liên Xô hướng dẫn làm quy hoạch, xây dựng ở Kim Liên. Trên một cánh đồng ngoại vi, mọc lên những ngôi nhà 5 tầng khang trang, niềm tự hào của một Hà Nội mới, Hà Nội xã hội chủ nghĩa. Có khu gia đình cho cán bộ cao cấp, cũng có khu tập thể cho cán bộ độc thân, sinh viên mới ra trường. Dành một số nhà làm khu chuyên gia, sau này thành khách sạn du lịch.

Khu tập thể Kim Liên là khu ở theo hình thức đô thị xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở Hà Nội, coi như thị phạm. Còn lại, phần lớn vẫn là phố xá nội thành, kiểu cũ, cộng thêm một số khu tập thể theo cơ quan như thời kháng chiến: Khu Văn công Cầu Giấy, khu Đoàn Ca múa Tây Nguyên, khu tập thể Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục.... nhà tranh tre nứa lá như thời còn chiến khu. Hình thức cư trú này mãi đến 30 tháng 4 năm 1975, vẫn tồn tại.

Cách làm này để lại một bài học cho các thành phố khác, phát triển theo phương pháp "nở nồi". Trên hệ thống giao thông của thành phố cũ, nống rộng ra. Cách làm này có hiệu quả kinh tế vì đầu tư rẻ, nhưng sẽ trở thành nguy hiểm nếu không biết điểm dừng.

Cơ sở hạ tầng không phát triển, những khu xây mới tăng áp lực lên hệ thống kỹ thuật hiện có, gây quá tải, và đổ không biết bao nhiêu tiền mà chẳng thấy bộ mặt đô thị mới ở đâu. Hiện trạng Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là nạn nhân của cách làm này.

Việc những đồ án quy hoạch chung, dài hạn, dự báo cho sự phát triển đô thị 25 năm sau có gì đó giống những giấc mơ để những người làm quy hoạch còn rất nhiều bỡ ngỡ tập dượt nghề nghiệp, và trong những trường hợp nhất định, giải quyết địa điểm cho một số công trình xây dựng có yêu cầu. "Quy hoạch phục vụ thiết kế, thiết kế phục vụ thi công" là khẩu hiệu chỉ đạo công tác thời gian này. Còn cuộc sống thực tế một đất nước vừa ra khỏi chiến tranh phát triển theo một quy luật khác, một hình thái khác.

Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa mới phôi thai, các nhà máy quy mô nhỏ, công suất thấp, không cung ứng đủ cho tiêu dùng xã hội. Hợp tác xã nông nghiệp diễn ra rầm rộ nhưng người nông dân không quen với chế độ công điểm. Năng suất, sản lượng tụt dần. Gạo bán theo định mức. Bắt đầu nhập lương thực, ăn độn ngô, sắn, bột mỳ, tóm lại có gì ăn nấy, chống đói trước đã. Chế độ tem phiếu được áp dụng rộng rãi.

Bỡ ngỡ lúc đầu rồi cũng quen. Mọi người đều có công ăn việc làm, đều nghèo như nhau. Không ai dư thừa, thiếu thốn chút ít nhưng cũng công bằng. Hoàn toàn không có việc tự xây dựng nhà cửa. Hãy đợi đấy, đã có Nhà nước lo.

Không còn một Hà Nội rực rỡ với những cửa hàng, dãy phố, tư thương làm chủ, đèn đóm sáng choang ngày bộ đội mới về. Hết thời buôn bán, những cửa hàng tơ lụa mậu dịch quốc doanh trên phố Hàng Ngang, Hàng Đào mở làm cảnh, không mấy ai đủ tiền và đủ dũng cảm ghé mua. Xem là chính. 20 giờ, cửa đóng, cả phố tối om. Bộ mặt đô thị tiêu điều, xơ xác.

Cần thay đổi nhận thức và rồi người Hà Nội thích ứng khá nhanh. Tất cả xếp hàng, cả ngày xếp hàng là một tập quán đô thị mới cần học. Xếp hàng mua rau, mua nhu yếu phẩm, mua phở, mua bia... Không có mặt thì nhờ xếp vào đấy một hòn gạch giữ chỗ. Thỉnh thoảng cãi nhau nhưng nhìn chung, mọi người tôn trọng quyền tồn tại hợp lý của hòn gạch, đại diện cho chủ nhân đang bận một việc gì đó ở một nơi nào đó.

Toàn dân đi xe đạp. Toàn dân mặc áo đại cán. Trận đá bóng quốc tế trên sân Hàng Đẫy, toàn sân vận động mặc áo bông xanh, tối om. May mà còn có hệ thống tàu điện bánh sắt để bà con lao động, chuyển những gánh hàng rau vào các chợ từ khu vực ngoại thành.

Mậu dịch quốc doanh te tái đóng vai bà nội trợ của toàn xã hội. Nhưng cung không đủ cầu. Chưa đến lượt mình, hàng đã hết. Ông già dù tóc râu có bạc nhưng chen ngang. Thằng bé được mẹ sai ra xếp hàng, không mua được cá được rau thì chiều nay ăn đòn. Thế là cãi nhau, thậm chí văng tục. Không tuổi tác gì ở đây! Tất cả bình đẳng trước mớ rau, con cá. Đạo đức xã hội xuống cấp, băng hoại bắt đầu từ nhưng việc rất nhỏ. Mà đã quá nhiều việc nhỏ như thế diễn ra. Do chiến tranh, hay vì môi trường đô thị? Không thể phân định rạch ròi. Có thể là do cả hai.

Chiến trường miền Nam ngày càng nóng. Lác đác những cán bộ tập kết lên đường đi B. Miền Bắc nghiến răng, dồn sức dồn người vì miền Nam thân yêu, vì một ngày thống nhất đất nước dẫu còn xa, nhưng sẽ đến.

Công cuộc xây dựng miền Bắc, hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn vẫn diễn ra với mọi nỗ lực. Tốc độ xây dựng đô thị có chậm lại nhưng những đồ án quy hoạch cho tương lai vẫn được tiến hành. Quy hoạch Vinh, Nam Định, Thanh Hoá, Việt Trì, Thái Nguyên, Hòn Gai và các thị xã tỉnh lỵ... vẫn được nghiên cứu, vẫn rực rỡ những giấc mơ hoa về một tương lai. Vẽ xong xếp lại, vẽ phương án khác, chờ thời cơ.

Dân số tăng nhanh, tăng sức ép lên nhu cầu nhà ở. Một vị lãnh đạo đi tham quan Triều Tiên về, học được kinh nghiệm nước bạn đưa ra sáng kiến xây nhà năm tầng không có khu phụ. Không có bếp, xí cho từng hộ thì không cần cấp thoát nước, tất cả tập trung dưới đất, bỏ cửa hai lớp kính chớp theo kiểu Tây, người sử dụng sợ nắng có thể mua rèm cửa che lại. Tiền tiết kiệm được từ những khu phụ ấy, có thể xây thêm một ngôi nhà, sức chứa tăng gấp đôi (?!).

Loại hình cư trú này không được tán thưởng, dù là được cấp, không phải mua. Dư luận công nhân tại khu công nghiệp Việt Trì khi được phân nhà tuyên bố: "Ông nào vẽ kiểu nhà thì lên đấy mà ở, công nhân chúng tôi ra chân đồi, che cái lán". Không thể mỗi bữa lại bê nồi niêu xong chảo từ tầng năm xuống nấu, xong lại bê mâm cơm lên nhà, khúc củi cháy dở cũng phải dụi tắt, cắp nách mang lên, kẻo mất... và nhiều điều phức tạp khác nữa.

Người tiêu dùng không chấp nhận những thử nghiệm nóng vội, duy ý chí. Sau này, trong đời sống, mọi người được nghe một câu chuyện tiếu lâm không phải không hay về chủ trương này, hơi chua cay nhưng chính xác.

Mấy ông kỹ sư kết cấu học ở Liên Xô về đưa ra giải pháp nhà lắp ghép tấm lớn, tấm nhỏ, đề xuất với Hà Nội cho thực hiện ở khu Văn Chương, khu Trương Định. Đáp ứng một phần sức ép về nhu cầu nhà ở đang gia tăng, gãi đúng chỗ ngứa, hy vọng mở một lối thoát. Về kết cấu, đấy là một giải pháp sử dụng từ lâu ở những nước có nền công nghiệp tiến bộ, kèm theo công xưởng hoá sản xuất cấu kiện đúc sẵn, ta chưa đủ sức làm. Vì vậy thí điểm vẫn chỉ là thí điểm.

Có thể coi là một bài học rút ra, kỹ sư kết cấu thiết kế kiến trúc nên không lường hết tính phức tạp và tế nhị của cuộc sống. Họ được đào tạo cho một chuyên ngành khác. Trong loại nhà này, tất cả nhu cầu đều tính ở mức tối thiểu, về sau đều bị biến dạng do người dân buộc phải thêm vào.

* Khu tập thể Kim Liên những năm gần đây. Ảnh: Vietnamnet.vn

Trong thiết kế, lốt-gia (logia) là một khoảng hiên nhỏ để trồng vài khóm hoa, chủ nhà có thể kê chiếc ghế xếp nằm đọc báo sau một ngày làm việc mệt mỏi. Khoảng không gian sang trọng này đồng loạt được thay đổi thành chuồng gà, thành gian bếp, thành kho. Diện tích căn hộ 24 m2 cho một gia đình từ 4 đến 5 người, tối thiểu cũng phải có một không gian nhỏ, kín đáo làm kho cất một núi chăn bông áo ấm khi mùa Hè đến. Tất cả những lốt-gia được vẽ theo thiện chí của người thiết kế đồng loạt được hàn khung sắt chống trộm để biến thành diện tích phụ, nồi niêu xoong chảo phô hết ra mặt tiền.
Sau thống nhất, người miền Nam ra thăm thắc mắc mãi: "Hình như người Hà Nội thích ở chuồng?". Loại hình "chuồng cư trú" ấy ở Hà Nội đến nay vẫn còn.

Thêm một thí nghiệm thất bại! Chỉ có điều, mấy ông kỹ sư giàu sáng kiến ấy nhanh chóng bước vào hàng ngũ lãnh đạo, còn thí nghiệm "nhiều sáng kiến" nữa, và mở đường cho một trào lưu sẽ nở rộ sau này: toàn dân làm kiến trúc. Ai cũng có thể tự thiết kế và xây dựng cho mình một ngôi nhà! Tính chuyên nghiệp trong thiết kế kiến trúc là một khái niệm xa xỉ.

Người ta có thể bỏ ra hàng trăm triệu để sắm một đôi sư tử đá, vận chuyển từ Ngũ hành sơn về, nhưng chi trả vài trăm triệu cho một đồ án thiết kế ngôi nhà bạc tỷ của mình là một sự hoang phí khó tha thứ! Còn nhà cửa, cứ gọi mấy ông thầu. Nghề thầu xây dựng của mấy ông tay ngang là một nghề kiếm được.

Bài học rút ra không biết có đủ làm kinh nghiệm? Hầu hết những thử nghiệm trong xây dựng đô thị mang tính "hàn lâm" của các nhà quy hoạch, học được từ nước ngoài đem về áp dụng đều không thành công. Nó không ra đi từ thực tiễn đất nước, một thực tiễn vô cùng phong phú, biến động theo những đặc thù riêng, không giống bất cứ nơi đâu trên thế giới này.

Hà Nội thử nghiệm phá bỏ hệ thống tàu điện bánh sắt, thay vào đấy, một số tuyến xe điện bánh hơi (troleybus) học được từ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Cũng lại là cách làm tạm bợ của người nông dân đã quen trong thời chiến. Một dàn dây thép đỡ cáp truyền năng lượng xuống động cơ giăng mắc khắp phố phường, như một dàn bầu dàn bí vĩ đại.

Cái tồn tại có thể được rút ra là những sáng kiến của người dân, vì chính họ, không ai khác, biết rõ họ cần gì và có thể làm gì trong những hoàn cảnh cụ thể. Và bài học vỡ lòng ngay cả trong nền kiến trúc đương đại là sự kết hợp chặt chẽ giữa người thiết kế và người sử dụng. Quan hệ này là bình đẳng, nếu không muốn công trình bị biến dạng.

Bài học trong hợp tác cũng chính là bài học dân chủ. Không chỉ trong từng ngôi nhà mà đầu tiên, trước hết, phải trong quy hoạch đô thị. Vì nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, người dân sẵn sàng phá vỡ mọi tư duy của nhà quy hoạch. Mà lấy gì đảm bảo những "phát minh" của nhà quy hoạch là đúng? Hệ thống giao thông đô thị ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là một điển hình.

Chiến tranh phá hoại mở rộng ra miền Bắc. Nhiều thành phố bị dội bom, thị xã Đồng Hới và một số thị xã, thị trấn bị san thành bình địa, hệ thống cầu đường, các cơ sở công nghiệp, dẫu còn nhỏ bé, cũng bị đánh phá. Các cơ quan, trường học sơ tán về nông thôn, chuyển sang cuộc sống thời chiến. Lác đác một số kiến trúc sư quy hoạch tốt nghiệp ở Nga và một số nước xã hội chủ nghĩa lần lượt về nước. Không còn đô thị để nghiên cứu, chuyển sang quy hoạch nông thôn, đợi thời cơ.

Bài học: Nhanh - Nhiều - Tốt - Rẻ

Năm 1972, người Mỹ, trong nỗ lực cuối cùng, dùng B52 rải thảm Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, đánh vào các khu dân cư đông người nhằm làm nhụt ý chí quyết thắng của Việt Nam. Cả miền Bắc ghếch nòng pháo lên trời đánh trả. Hiệp định Paris ký ngày 27 tháng Giêng năm 1973, buộc toàn bộ quân đội Mỹ và đồng minh rút hết về nước.

Một không khí phấn chấn nhanh chóng truyền lan. Hà Nội trong hào quang chiến thắng "rũ bùn đứng dậy chói loà". Bộ Xây dựng đẩy nhanh việc quy hoạch mở rộng thủ đô theo Nghị Quyết của Bộ Chính trị sang Bắc sông Hồng, đầm Vạc, Vĩnh Yên làm trung tâm mới. Mời 12 nước xã hội chủ nghĩa, mỗi nước giúp quy hoạch cho Việt Nam một thành phố.

* Khu tập thể Khương Thượng những năm gần đây. Ảnh: nuocnga.net

Liên Xô giúp quy hoạch thủ đô Hà Nội, Ba Lan giúp Hải Phòng, CHDC Đức giúp Vinh, Rumani giúp Nam Định và thị xã Phủ Lý, Hungari giúp quy hoạch Hòn Gai - Bãi Cháy, Bungari giúp thị xã Thái Bình, CHDCND Triều Tiên giúp thị xã Bắc Giang, Cuba giúp quy hoạch thị xã Đồng Hới...
Đoàn chuyên gia xây dựng của Đảng Cộng sản Nhật do đồng chí KTS NoRoLara - Moriaki làm trưởng đoàn sang ta giới thiệu kinh nghiệm xây dựng đô thị Nhật Bản, đóng góp ý kiến về quy hoạch xây dựng và cải tạo Thủ đô.

Một kiến trúc sư Việt kiều từ Đan Mạch bay gấp về Hà Nội để kịp giới thiệu với kiến trúc sư Việt Nam những kinh nghiệm kiến trúc có giá thành tiết kiệm cho kịp tình hình tái thiết đất nước.

Một số công ty kinh doanh nhà Nhật Bản sang chào hàng nhà lắp ghép bằng vật liệu nhẹ. Khi ta đưa ra phương châm xây dựng của Việt Nam "Nhanh - Nhiều - Tốt - Rẻ" thì được giải thích: Nhanh - Nhiều - Tốt thì không thể Rẻ, còn muốn Nhanh - Nhiều - Rẻ thì không thể Tốt. Có lẽ bài học đơn giản ấy là bài học đầu tiên mà giới kiến trúc Việt Nam được tiếp cận với tư duy "kinh tế thị trường" lúc ấy còn rất xa lạ.

Viện Léningrad sang Hà Nội. Câu hỏi đoàn bạn đặt ra là: "Cách nhau 60 km, Hà Nội - Vĩnh Yên là một hay hai thành phố?". Ta trả lời: "Theo Nghị quyết của Bộ Chính trị Việt Nam là Một". Quyết định này cho ra một sản phẩm duy nhất: Cầu Thăng Long còn sử dụng đến bây giờ.

Quy hoạch mở rộng thủ đô được ký với Viện Quy hoạch Léningrad. Hợp đồng hoàn thành khoảng năm 1979 - 1980, khi miền Nam đã hoàn toàn giải phóng.

Đất nước thống nhất, số lượng và bố cục hệ thống đô thị trên cả nước thay đổi về căn bản, xuất hiện mạng lưới các đô thị miền Nam với Sài Gòn như một chủ thể đối trọng so sánh, chủ trương mở rộng Hà Nội lên Vĩnh Yên không còn cơ sở thực hiện.

Tình thế mới. Hệ thống đô thị được mở rộng ra trên cả nước. Địa bàn quy hoạch, phương pháp quy hoạch đặt ra những vấn đề mới. Lực lượng phải dàn mỏng, san sẻ cán bộ cho miền Nam. Tính chất và kết cấu đô thị miền Nam là một hệ thống hoàn toàn phi xã hội chủ nghĩa.

Nói cho cùng, vì cách mạng phân công, một số cán bộ bước vào mội trường quy hoạch đô thị, vẽ cho đất nước những thành phố to đẹp mười lăm, hai mươi năm sau, nhưng đã trông thấy chiếc thang máy bao giờ đâu? Ngay cả những người từng được đi thang máy vì có du học nước ngoài thì Sài Gòn vẫn là một thành phố gây ấn tượng mạnh về nhiều mặt. Một đô thị kiểu chủ nghĩa tư bản ngay trên đất nước mình? Một biểu hiện của phồn vinh giả tạo vẫn được học lâu nay (?!). Khác với tất cả những gì được học và đã thử làm trong nhiều năm qua.
(Nguồn tuanvietnam.net)

"Người ta từng hăng hái đề nghị vẽ Hà Nội hình nắm đấm"

"Người ta từng hăng hái đề nghị vẽ Hà Nội hình nắm đấm"

Tác giả: Nguyễn Trọng Huấn

"Rà lại lịch sử phát triển ngành quy hoạch từ ngày thành lập, đọc lại danh sách, xem lại chân dung những nhân vật một thời, nhiều trường hợp không thể không cười ra nước mắt. Đã có lúc người ta hăng hái đề nghị nên vẽ "một Hà Nội hình nắm đấm, hướng về phía Nam" để thể hiện ý chí "đánh cho Mỹ cút".

LTS
: Vì sao đã mấy chục năm qua khát khao có một đô thị cho ra dáng văn minh hiện đại đến nay vẫn còn là giấc mơ xa vời? Là do chúng ta chưa biết làm quy hoạch; là hệ quả của lối tư duy ấu trĩ một thời đâu đó vẫn dai dẳng....? Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin giới thiệu tiếp phần hai bài viết thể hiện góc nhìn riêng của KTS Nguyễn Trọng Huấn.

Nhu cầu cuộc sống sinh ra ngành quy hoạch đô thị. Nếu kiến trúc sư công trình sắp xếp không gian cư trú cho một gia đình lớn khoảng trong ngoài chục người thì quy hoạch sư làm việc đó cho trong ngoài chục vạn, có khi đến cả chục triệu người như Hà Nội mở rộng hoặc thành phố Hồ Chí Minh tương lai.
Suốt chín năm kháng chiến, chúng ta rút ra khỏi các thành phố, xây dựng căn cứ ở vùng rừng núi vì vậy sự tác động đối với hệ thống đô thị không đáng kể. Sau ngày 10/10/1954, Thủ đô gần như nguyên vẹn. Hà Nội và các đô thị khởi đầu cuộc sống mới, quy hoạch xây dựng lại trên nền tảng những thành phố thuộc địa lâu đời theo phong cách châu Âu do người Pháp quy hoạch và xây dựng.
* Lễ đài Ba Đình bằng gỗ. KTS Nguyễn Văn Ninh (1908-1975) thiết kế năm 1954 để đón Đảng và Bác Hồ về Thủ đô 1-1-1955 (vị trí Lăng Bác hiện nay). Ảnh: Đoàn Đức Thành sưu tầm.

Chúng ta mất 2 năm để tập hợp lực lượng (1954 - 1956).

Khoảng 14 kiến trúc sư thiết kế công trình dân dụng, tất cả đều xuất thân từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương - có khuynh hướng thiên về sáng tác nghệ thuật hơn là nghiên cứu sản phẩm - tề tựu về Nha Kiến trúc trong Bộ Thủy lợi và Kiến trúc. Không có một kiến trúc sư quy hoạch nào. Quy hoạch đô thị là khái niệm mà ngay cả những ông thầy cũng phải bắt đầu từ chữ A.

1956 - Thành lập Phòng Đô thị.

1957 - Đại hội Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam lần thứ II. Lúc này, vì cần tập hợp lực lượng, mời cả những người không phải là kiến trúc sư nhưng có quan tâm đến sự nghiệp kiến trúc tham gia. Số lượng đoàn viên lên đến 100 người. Đây là bước khởi đầu cho quá trình mãi về sau, có tý chức, tý quyền trong ngành xây dựng là có thể tham gia hội này một cách tự nhiên, một cách thẩm thấu làm biến dạng môi trường kiến trúc dẫn đến những nhận thúc thiếu chuẩn mực về đặc thù nghề nghiệp của ngành này.

1958 - Bộ Kiến trúc tách khỏi Bộ Thủy lợi và Kiến trúc. Thành lập Cục Đô thị và Nông thôn, với 23 cán bộ các loại, trong đó có 04 kiến trúc sư cũng từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Chuẩn bị cho miền Bắc bước vào thời kỳ phục hồi và phát triển kinh tế, xây dựng công nghiệp và đô thị, Nhà nước mời các đoàn chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc và Ba Lan sang giúp nghiên cứu quy hoạch Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Việt Trì. Rất nhiều cán bộ tay ngang, do yêu cầu, được điều động về, chung lưng gánh vác trọng trách. Vừa làm vừa học.
* Lễ đài Ba Đình bằng gạch kiên cố. KTS Nguyễn Văn Ninh (1908-1975) thiết kế năm 1960 (tại vị trí Lễ đài 1955). Ảnh: Đoàn Đức Thành sưu tầm.

1961 - Thành lập Viện Thiết kế Quy hoạch Đô thị và Nông thôn. Phương châm ngành là: "Quy hoạch phục vụ công nghiệp, phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống của đông đảo nhân dân lao động kết hợp với yêu cầu quốc phòng".

Nhận thức luận, hệ thống lý thuyết quy hoạch và mô hình đô thị Xô viết lần đầu tiên được truyền bá vào Việt Nam.

Cũng trong năm 1961, miền Bắc mở lớp đào tạo kiến trúc sư, giảng dạy theo giáo trình kiến trúc Xô viết, dịch từ sách Nga, nhưng tinh thần, khuynh hướng dường như vẫn chịu ảnh hưởng của Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Kỹ năng vẽ (chưa hẳn đã là năng khiếu thẩm mỹ) được coi là một ưu tiên. Sinh viên trúng tuyển phần đông là học sinh các trường phổ thông. Những sinh viên vẽ kém, cán bộ, đảng viên được cử đi học, phần lớn bố trí theo ngành quy hoạch. Những đảng viên này, nhiều vị xuất thân cán bộ xã đi tập kết, giỏi "đấu tranh giai cấp" nhưng tiếp thu kém. Nhiều vị đi học nhưng ghế bàn đã dọn, chờ sẵn ở cơ quan, nên chỉ học làm phép, thầy cũng phải ngán, chấm tốt nghiêp cho rồi. Quy ước bất thành văn này dẫn đến nhiều khập khiễng trong bố trí lực lượng sau này. "Dốt chuyên tu - Ngu quy hoạch" từng là khẩu ngữ quen thuộc trong môi trường đào tạo kiến trúc sư những năm đầu ở nước ta.

Thực trạng trên phản ánh hai góc tiếp cận:

"Khuynh hướng", nếu được phép tạm gọi như vậy, từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương coi kiến trúc là nghệ thuật, một hoạt động thuộc lĩnh vực sáng tạo, mang dấu ấn cá nhân tác giả, thì "khuynh hướng Xô viết", coi kiến trúc là một bộ phận cấu thành của nền công nghiệp xây dựng. Kiến trúc là công đoạn khởi đầu, cần có sự tham gia đóng góp ý kiến của tập thể để nâng cao chất lượng. Mà đã là sản phẩm công nghiệp, có thể sản xuất hàng loạt thì ai học mà chả làm được.

Kiến trúc được xếp vào khung lương ngành công nghiệp nặng. Kiến trúc sư được coi là cán bộ thiết kế, cùng thang và hệ số lương với kỹ sư cơ khí, kỹ sư giao thông, kỹ sư san nền, cấp thoát nước... Không có chuyện kiến trúc sư ghi tên dưới chân công trình. Sản phẩm là của tập thể, đồ án xuất xưởng thuộc viện nọ, viện kia, chất lượng thuộc trách nhiệm cơ quan này, cơ quan khác, chuyện của lãnh đạo. Kiến trúc sư chỉ ký tên mình trong bảng lương lĩnh tiền.

Quy hoạch và kiến trúc đặt dưới sự quản lý của một bộ lấy chức năng sản xuất làm nhiệm vụ chính trị trung tâm. Làm ra xi măng, sản xuất gạch ngói, xây khu công nghiệp... tăng năng suất, tăng sản lượng mới là chuyện cần bàn, cần tập trung để hoàn thành nhiệm vụ bằng mọi giá. Công trình kiến trúc bé tý, không thể đòi được đối xử đồng hạng với ngàn tấn xi măng, với sản lượng gạch tính bằng triệu viên. Phương châm thiết kế được minh định là: "Tiện dụng - Bền vững - Mỹ quan trong điều kiện có thể".

Riêng quy hoạch là một lĩnh vực nhạy cảm, tiếp cận hàng ngày với những tư liệu, tài liệu được cho là mật, những chủ trương, kế hoạch quan trọng của địa phương, của quốc gia, thường xuyên phải tiếp xúc với lãnh đạo, ít nhất là Thường vụ Tỉnh ủy. Thỉnh thoảng lãnh đạo Đảng hoặc Nhà nước gọi báo cáo. Trước cuộc họp có an ninh, bảo vệ đến rà mìn nên nhân sự cần được quản lý chặt. Mà như đã trình bày ở trên, bộ khung nhân sự cho quản lý được chọn từ trong trường, vững vàng về quan điểm lập trường nhưng học lực có hơi yếu. Đã có sinh viên xin: "Thầy cho em đỗ đi. Đảm bảo với thầy ra trường em không làm kiến trúc đâu, thầy yên tâm, em chỉ làm lãnh đạo". Chuyện thật như đùa, không biết nên khóc hay cười, nhưng khi kể lại, sống mũi thấy hơi cay cay!

Trong hoàn cảnh đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, một đồng, một cắc đầu tư vào xây dựng cơ bản cũng phải quý, nhưng cũng không thể phủ nhận quan niệm và cách thức quản lý này không để lại những hệ lụy về sau. Đặc biệt, quy hoạch là một hình thức lao động đám đông, Hội đồng khoa học hay "bộ tứ" cơ quan, gồm nhiều ông, bà chẳng cần biết quy hoạch là gì, có thể làm sụp đổ ý tưởng mà kiến trúc sư thai nghén, ấp ủ nhiều năm, biến đồ án thành thành quả chung của mọi người. Quan điểm của tổ chức và cung cách quản lý một thời vừa coi quy hoạch là chuyện hệ trọng, vừa là chuyện xa vời, 25 năm sau, vẽ thế nào chẳng được, vẽ xong, xoá đi, vẽ lại mấy hồi, có xây đâu mà lo, đã biến quy hoạch thành một chuyện hài hước, thiếu nghiêm túc.
* Quy hoạch Nhà Quốc hội bên Hồ Tây, thiết kế đầu thập niên 1960. Đoàn Đức Thành sưu tầm.

Khoảng năm 1972- 1973, Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn họp hội nghị xin ý kiến các ngành về Quy hoạch Thủ đô Hà Nội mở rộng đại biểu Hội Mỹ thuật đã hăng hái đề nghị ta nên vẽ "một Hà Nội hình nắm đấm, hướng về phía Nam "để thể hiện ý chí" đánh cho Mỹ cút".

Không ít nơi, thậm chí nhiều thời kỳ, trong các cơ quan thiết kế kiến trúc, quy hoạch, kiến trúc sư có chút máu nghệ sỹ là một cái tội, như con vịt con xấu xí lạc giữa bầy thiên nga, khó lòng cải tạo!

10 đời viện trưởng có 5 đời là cán bộ chính trị

Ở nước ta, cho đến tận bây giờ, quy hoạch là một loại công trình không có tác giả, không ai phải chịu trách nhiệm về những thiếu sót, thậm chí, những sai lầm khiếm khuyết của đồ án. Nếu cần xoá đi, làm lại đã có sẵn một mỹ từ: "Điều chỉnh quy hoạch".

Cách hiểu như trên đã để lại khá nhiều dấu ấn trong bộ máy tổ chức ngành. Ông nào cũng có thể làm lãnh đạo quy hoạch được. Từng có ông phó tiến sỹ vật liệu xây dựng làm Hiệu trưởng một trường đại học kiến trúc ở phía Bắc, trong khi một ông kỹ sư kết cấu làm Hiệu trưởng một trường đại học kiến trúc ở phía Nam! Còn các ông phó tiến sỹ cấp thoát nước, phó tiến sỹ san nền tiêu thủy, thậm chí có những ông chẳng cần một mảnh bằng nào cả cũng có thể làm được viện trưởng một viện quy hoạch.

Riết rồi quen, ai lãnh đạo quy hoạch cũng được, thành ra tự nhiên, chuyện hàng ngày ở huyện. Sau ngày thống nhất đất nước, đã có ông, trong một năm rải quân đi địa phương, làm xong 145 quy hoạch thị trấn huyện lỵ! Mấy ông này, mất tích ngay sau khi về hưu, thỉnh thoảng xuất hiện ở cuộc họp hưu trí cuối năm, nói cười rổn rảng.

Suy cho cùng, cũng không phải lỗi của họ. Chính họ đã chứng minh được một điều mà ông bà chúng ta đã tổng kết từ lâu: "Thợ may ăn giẻ - thợ vẽ ăn hồ". Mỗi người một nghề, ai làm việc nấy. Lỗi là tại cái nghề quy hoạch quá đa mang, chút kinh tế, chút kỹ thuật, chút nghệ thuật, giao thông đô thị, cấp điện, cấp nước, tiêu thủy san nền, cống rãnh, thoát nước, công viên cây xanh... đấy là chưa kể cần có thêm dự báo học, xã hội học đô thị... xét thấy cũng nên tham gia.

Tổng kết 50 năm thành lập Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn 1956 - 2006, trong 10 đời viện trưởng thì hết 5 đời là cán bộ chính trị, không hiểu biết gì về quy hoạch, hoặc nghề nghiệp không liên quan gì đến quy hoạch. Tổng thời gian "trị vì" của các vị này chiếm 21/50 năm. Năm viện trưởng còn lại, là kiến trúc sư quy hoạch giỏi, là những công chức mẫn cán, nhưng rất tiếc là năng lực chưa tương xứng với tầm nhiệm vụ được giao. Không thể trách họ vì dù sao họ cũng chỉ là người thừa hành. Nguyên nhân nằm ở những chỗ cao hơn, những người vạch đường đi nước bước cho đất nước, những người có quyền lực và trách nhiệm sắp xếp công việc và nhân sự.

Rà lại lịch sử phát triển ngành quy hoạch Việt Nam từ ngày thành lập, đọc lại danh sách, xem lại chân dung những nhân vật một thời, nhiều trường hợp không thể không cười ra nước mắt !

Không thể tính nổi những lãng phí vô cùng to lớn kéo dài nhiều thập kỷ qua do cách làm này. Và cũng không một ai phải chịu trách nhiệm về những hệ lụy mà xã hội và đất nước phải gánh chịu về những tổn thất mà công tác quy hoạch đã gây ra.

Sự khác biệt quan điểm từng dẫn đến một cuộc tranh chấp không thể quên: "kiến trúc là nghệ thuật hay kỹ thuật?". Và thuộc quyền quản lý của ai?

Thân phận của lớp kiến trúc sư đầu tiên của nước ta do bộ Kiến trúc mở năm 1961 đã có lúc trôi dạt, trở thành một khoa của Trường Đại học Xây dựng do Bộ Đại học quản lý. Hội Kiến trúc sư Việt Nam, một thời do văn phòng Bộ Kiến trúc quản lý cũng chịu thân phận của chú vịt con xấu xí khi lạc vào Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam! Ở đây người ta "sỹ" cả, sao các ông lại "sư"? Còn quy hoạch? Là thứ gì và lạc đến từ hành tinh nào vậy?

1962 - Thành lập Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Một thiết chế để quản lý công tác quy hoạch và cả thiết kế kiến trúc khởi đầu từ đây.

Ủy ban này cũng là một thân phận long đong. Chẳng phải do trình độ, năng lực giữa Ủy ban với Bộ Kiến trúc, mà là sự tranh chấp quyền lực giữa Bộ và Ủy ban. Ai quản lý ai? Đã có lúc Ủy ban này phải giải thể, sáp nhập vào Bộ Kiến trúc. Rồi lại tách ra, tái lập Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, khác nhau mỗi chữ kiến thiết đổi lại là xây dựng. Rồi lại giải thể, nhập vào Bộ Xây dựng. Tất cả động thái trên chỉ chứng minh một điều, nhận thức về một công cụ quản lý ngành xây dựng cơ bản cấp vĩ mô, trong đó có quản lý quy hoạch luôn ở trong tình trạng lúng túng, chưa bao giờ mạch lạc, rõ ràng cho đến nay. Mà xem ra hiện nay lại còn rối hơn trước nữa.

Quy hoạch một đường, cuộc sống một nẻo
* Toà nhà EVN chuẩn bị xây dựng bên hồ Hoàn Kiếm, công luận lên tiếng phản đối nên đã dừng lại không xây. Phối cảnh: Đoàn Đức Thành sưu tầm.

Hoà bình trên miền Bắc kéo dài trong khoảng 10 năm, từ 1954 đến 1964. Trong mười năm đó, thực trạng kinh tế - xã hội trải qua những biến động chưa từng xảy ra trong đời sống đất nước. Công cuộc chuyển hoá nền kinh tế của một nước nông nghiệp, lạc hậu, một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, đang kiệt quệ vì vừa trải qua chiến tranh có rất nhiều việc cần làm và phải làm. Xã hội chưa định hình, tiền đề đô thị hoá để tiến hành quy hoạch chưa chín muồi. Mô hình đô thị Xô viết hoàn toàn mới mẻ, đòi hỏi thay đổi phương thức sống, tổ chức lại xã hội đô thị theo mô hình mới, áp lên một thực thể đô thị Việt Nam từng được sinh ra và hình thành từ những hoàn cảnh khác, nguyên nhân và điều kiện hoàn toàn khác, không thể không gây đổ vỡ.
Thiết kế quy hoạch lúc ấy, thực chất chỉ có tính hình thức, là những bài học trên giấy, trong văn phòng, chủ yếu nhằm đào tạo, xây dựng lực lượng, tập dượt cán bộ chuẩn bị cho tương lai. Quy hoạch một đường, cuộc sống một nẻo. Cũng may là giai đoạn này không xây dựng gì nhiều và các đồ án quy hoạch, sau khi báo cáo, trình bày, phần lớn đùng để gói được nhiều thứ.

Từ 1964 đến 1975, chiến tranh lan rộng, miền Bắc trở thành chiến trường, công cuộc xây dựng đô thị trên miền Bắc, thực chất đã tạm ngưng. Những đồ án quy hoạch được nghiên cứu trong giai đoạn này chỉ có giá trị những bài tập minh họa cho một số nguyên lý vừa được học. Không một đồ án quy hoạch cho bất cứ thành phố nào tiến hành trong giai đoạn này tồn tại như một giá trị nghiên cứu, chưa nói đến tác động của chúng lên đời sống xây dựng, vì thực tế nước ta trong thời kỳ đó không hoạt động xây dựng.

Những số liệu đáng lưu tâm

Trong 86 năm chiếm đóng, đô hộ, mãi năm 1925, tức là 66 năm sau (1859 - 1925), người Pháp mới mở khoa Kiến trúc, trong Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, đào tạo kiến trúc sư cho người Việt, loại hình kiến trúc sư thực hành với phong cách nghệ sỹ, thiên về nghệ thuật sáng tạo.

Trong 20 năm từ 1925 đến 1945, Trường đào tạo được 11 khoá với trên 50 kiến trúc sư, mỗi khoá từ 2 đến 5 người, tốt nghiệp ra trường, hành nghề tự do.

Cũng trong 20 năm đó, Trường đã cấp văn bằng tốt nghiệp cho 128 họa sỹ, sau này có những họa sỹ trở thành nổi tiếng như Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên... Không có khoa Quy hoạch đô thị.

Cho đến 1945, nước ta có 50 kiến trúc sư công trình cho 25 triệu dân, đạt 0,002 kts/1.000 dân, nhưng không có một "nhà quy hoạch" nào.

Đấy là lý do tại sao sau 1954, công việc tái thiết miền Bắc bắt đầu, "quy hoạch" là một khái niệm hoàn toàn xa lạ với một lực lượng chuyên ngành bằng 0.

------------------------------------------
Bài viết sử dụng tư liệu:
Đào tạo kiến trúc sư 50 năm giữa thế kỷ XX - Đoàn Đức Thành - Kiến trúc Việt - 5/6/2008

(Nguồn: tuanvietnam.net)
Xin mời click vào đường link dưới đây xem bản gốc:
http://www.tuanvietnam.net/2009-10-27-nguoi-ta-tung-hang-hai-de-nghi-ve-ha-noi-hinh-nam-dam-

Mừng sinh nhật cháu Minh Anh


Mừng sinh nhật cháu Minh Anh


Hôm nay Minh Anh bảy tuổi tròn,
Ông ngoại cũng tròn... bảy mươi xuân.
Ông chụp tặng cháu dăm kiểu ảnh,
Cháu tặng ông bằng trí học chăm.
Hà Nội 27-10-2009



* Cháu Minh Anh học sinh giỏi lớp 2A2, Trường Bình Minh, Hà Nội.
* Cháu rất yêu âm nhạc, hiện đang theo học piano và organ.
* Cháu đam mê vẽ tranh, sinh hoạt ở đội vẽ Cung Thiếu nhi Hà Nội. Bức tranh "Em yêu chú mèo" đạt giải Ba tranh thiếu nhi toàn quốc 2009.
* Cháu kết thúc bài đàn bằng động tác rất điệu nghệ.
* Hôm nay cậu Vũ tặng cháu con rối, cháu rất thích.

Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận và những câu hỏi còn bỏ ngỏ

Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận và những câu hỏi còn bỏ ngỏ

Phạm Duy Hiển

Không thể xem nhà máy ĐHN như một món hàng thông thường có thể mua sắm dễ dàng, ai cần thì sắm, cần bao nhiêu sắm bấy nhiêu, mà quên rằng đây là một công nghệ rất phức tạp, quy mô đồ sộ, lại chứa đựng không ít rủi ro, nhạy cảm, vốn gây chia rẽ thế giới dai dẳng trong nhiều thập kỷ qua.

LTS: Tại kỳ họp QH lần này, dự án điện hạt nhân Ninh Thuận sẽ được đặt lên bàn nghị sự. Dự án được xem có ý nghĩa chiến lược trong cân bằng năng lượng phục vụ phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Và đây cũng là một dự án không dễ nghiên cứu đối với các ĐBQH. Vì sao phải xây dựng nhà máy điện hạt nhân vào thời điểm này? Nếu xây dựng thì những yếu tố cần và đủ là gì? Phải bảo đảm những yêu cầu gì về nguồn vốn đầu tư, về công nghệ, về độ an toàn và nhiều vấn đề phát sinh khác... Bài viết thể hiện góc nhìn riêng của GS Phạm Duy Hiển phần nào sẽ giúp độc giả giải đáp những câu hỏi này.
* Nhà máy điện hạt nhân (Ảnh minh họa)


Điện hạt nhân trên bàn nghị sự
Báo cáo đầu tư (BCĐT) Dự án điện hạt nhân (ĐHN) Ninh Thuận đã được Chính Phủ thông qua và trình ra Quốc Hội xem xét trong kỳ họp cuối năm 2009, theo đó hai nhà máy ĐHN với bốn lò phản ứng công suất 4x1000 MW sẽ xuất hiện vào năm 2020 - 2022. Cũng theo BCĐT, bốn lò nữa sẽ tiếp tục đưa vào vận hành từ năm 2023 đến 2025. Một tốc độ khởi động ĐHN ồ ạt như thế chưa hề có tiền lệ trên thế giới. Với 8000 MW ĐHN vào 2025, Việt Nam sẽ đặt chân vào câu lạc bộ 15 nước hàng đầu thế giới về ĐHN. Để thuyết phục Chính phủ và Quốc hội, BCĐT đưa ra mấy nhận định cơ bản sau đây:


Xin mời click vào đường link dưới đây xem tiếp:
http://www.tuanvietnam.net/2009-10-17-du-an-dien-hat-nhan-ninh-thuan-va-nhung-cau-hoi-con-bo-ngo

* Địa điểm dự kiến xây nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận. Ảnh: taichinh.saga.com

Quy hoạch đô thị - trăm năm nhìn lại (kỳ 1)

Quy hoạch đô thị - trăm năm nhìn lại (kỳ 1)

KTS Nguyễn Trọng Huấn

Để có thể nhìn thấu đáo "Bộ mặt đô thị Việt Nam" với thời lượng "hơn ba chục năm qua", việc đầu tiên nên làm là tìm "một chỗ đứng", chọn "một góc nhìn" và… "một độ lùi cần thiết".


LTS: Nhìn lại diện mạo đô thị Việt Nam mấy chục năm qua, KTS Nguyễn Trọng Huấn cho rằng, đây không phải là chuyện "vụ việc", mà là mổ xẻ một quá trình. Trách nhiệm thuộc nhiều lớp người, nhiều thế hệ, nhiều cấp độ, về một khái niệm gần đây đang trở nên thông dụng, thậm chí có lúc bị lạm dụng: "Tầm nhìn". Và, phải dứt mình ra khỏi những bức xúc thường nhật, những thành tích vụn vặt dễ ru ngủ, những thiên kiến ý thức hệ, để trong một chừng mực nhất định, hy vọng có được một nhãn thức toàn cảnh về công cuộc đô thị hoá. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết thể hiện góc nhìn riêng của ông.
* Hồ Hoàn Kiếm Hà Nội. Ảnh: Đoàn Đức Thành.

Cuộc khảo nghiệm năng lực quy hoạch đô thị

"Paris không mọc lên trong một đêm" là khẩu ngữ quen thuộc, thường dùng để nói về những công việc dài hơi, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, tiền của, tính chuyên nghiệp, sự bền bỉ và cả chút ít tài năng mà hình như quan điểm, nhận thức trong xã hội ta hiện nay còn có những khoảng cách khá xa, thậm chí khác biệt, như xây dựng không gian đô thị. Những gì ta thấy hôm nay, là hệ quả tất yếu của cả một tiến trình lịch sử, không phải chỉ vài mươi năm, mà khúc đoạn trường phải tính bằng cả trăm năm.

Mời các bạn click vào đường link dưới đây xem tiếp:
http://www.tuanvietnam.net/2009-10-26-quy-hoach-do-thi-tram-nam-nhin-lai-ky-1-

Giải thưởng Xuất sắc ULI 2009: Thiết kế "xanh" cho cộng đồng

Giải thưởng Xuất sắc ULI 2009: Thiết kế "xanh" cho cộng đồng

Các khu Namba tọa lạc tại Osaka, Nhật Bản, nằm trong 4 dự án phát triển bất động sản nổi bật đã chiến thắng Giải thưởng Xuất sắc 2009 của Viện Đất Đô thị (ULI) trong cuộc thi châu Á - Thái Bình Dương.
Do Liên doanh Jerde thiết kế, các khu Namba nằm kề với nhà ga xe lửa Namba, mang đến một không gian tự nhiên thú vị trong thành phố, trông như một đô thị nhiệt đới, tăng cường kết nối với thiên nhiên trong khi vẫn hình thành mô hình lưu thông cơ bản.
Namba hình thành một nét ấn tượng mới cho thành phố, với những tòa thấp văn phòng 30 tầng, tòa tháp cư trú 46 tầng đặc trưng cho một trung tâm thương mại theo phong cách sống mới với khu vực đỉnh mái chéo qua nhiều khối nhà, bắt lên đến tầng 8 của tòa nhà. Lối thiết kế dốc hình thành một ốc đảo xanh hữu hình nằm trong một thành phố nơi thiên nhiên ít ỏi len vào. Bằng cách kết nối với đường phố, mặt phẳng của khu dốc này sẽ thu hút du khách tiến vào trong khu rừng nhỏ của cây cối và không gian xanh, tại đây, họ có thể ăn tối, đọc sách hoặc gặp gỡ, hay đơn giản là ngắm nhìn toàn cảnh quan thành phố.
Toàn cảnh khu Namba.
Giai đoạn thứ hai hoàn thành 2007, bao gồm việc mở rộng bề ngoài của khu vực đỉnh mái dốc, nâng từ tầng 8 lên tâng 10 và chỉ mở rộng phía bên trên đường và kết thúc tại khu vực đối diện nhà ga xe lửa.
Namba là một ví dụ điển hình về định hướng phát triển xanh, đó cũng là mục tiêu duy nhất của khu Namba này.
Đồ án này đã chiến thắng Giải thưởng Xuất sắc 2009 trong cuộc thi châu Á - Thái Bình Dương.

Xin mời clik vào đường link dưới đây xem tiếp hình ảnh:
http://www.cad.vn/tabid/105/CategoryID/113/ItemID/10949/Default.aspx

Mừng sinh nhật tragung

50 rồi!

Wednesday, 14. October 2009, 11:18:12

Loáng thoáng ngày mai năm mươi rồi!
Tóc xanh lác đác điểm sương rơi.
Ngoảnh lại dòng đời bao năm tháng,
gập gềnh,khúc khủyu dốc chơi vơi!

Giờ tuổi năm mươi sống thảnh thơi.
Sáng chăm hoa kiểng giọt "thơ" rơi,
vào blog bạn bè vui chia sẻ.
Tính...,tính...,tang...,tình...,tơ buông lơi...

tragung

Thân gửi bạn tragung.
Lâu nay bận quá không thăm blog của bạn được. Hôm nay mới biết ngày sinh nhật của bạn, 15-10, quá muộn phải không bạn? Mặc dù chậm, mình tặng bạn bài thơ chúc bạn ngày sinh nhật:

Mừng sinh nhật tragung

Mình tròn bảy mươi, bạn năm mươi,
Tuổi bạn vừa hay biết mệnh trời.(1)
Mình vừa sang tuổi xưa nay hiếm,(2)
Ta cùng vui, khoẻ, tính, tình tươi.

Sống cho thanh thản, chớ buông lơi,
Lao động hết mình, thoải mái chơi.
Hoa, kiểng, cá, chim, thăm blog,
Thơ, ca, trăng, gió vẫn bời bời!

Hà Nội ngày 23-10-2009
Đoàn Đức Thành
----------------
(1)"Ngũ thập chi thiên mệnh"
(2)"Nhân sinh thất thập cổ lai hy"

NGHIỆP NGHỀ, NGHIỆP ĐỜI

NGHIỆP NGHỀ, NGHIỆP ĐỜI

Kiến trúc sư Võ Thành Lân


Nghề với nghiệp là hai thứ gắn liền với nhau như hai mặt của một bàn tay. Kiến trúc sư cũng là một nghề như mọi nghề khác và cũng phải: “Mang lấy nghiệp vào thân!”.
Thế giới này hàng ngày có một số nghề mất đi và cũng có nhiều nghề mới xuất hiện, đó là quy luật tự nhiên, và điều đó phản ánh một thực tế là công việc nào không còn có ích cho đời thì không có lý do để tồn tại. Chúng ta, những kiến trúc sư thật là may mắn khi chọn cho mình một cái nghề gắn liền với cái nhu cầu thiết yếu của con người từ thuở sơ khai và chắc là sẽ còn cần thiết lâu dài. Một lọai nghề đặc biệt có một thứ ngôn ngữ riêng mà ai cũng có thể hiểu được trong cái thế giới rộng lớn bao la này. Trong thâm tâm, mỗi kiến trúc sư đều tự hào về cái vị trí xã hội đó và thường kháo nhau rằng ai muốn thành kiến trúc sư phải tốn công học hành vất vả, còn đã là kiến trúc sư thì rất dễ dàng hội nhập bằng vai phải lứa với hầu hết mọi giới trong cuộc đời. Một kiến trúc sư có thể dễ dàng nói chuyện một cách hết sức hiểu biết nhau với bác nông dân, với anh xích lô, với chàng trai miền núi, với chị bán rau ngòai chợ,... có thể thù tạc không chút e ngại với nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, thầy giáo,...có thể vẽ tranh, bình luận bóng đá,... và rất có khả năng nhanh chóng hiểu các chị em đang muốn gì, có vấn đề gì cần giải quyết!... - Kiến trúc sư là như thế và phải như thế vì cái nghề nầy cần như thế!
Nghề kiến trúc sư chỉ có thầy chứ không có tổ, cho nên cái nghiệp của nó phải tự nó gánh vác, khắc chướng gì cũng phải tự mà gỡ, không có thánh thần nào ngồi sẳn đó để hối lộ, để mà cầu xin ban phước, giải oan. Cái nghiệp của kiến trúc sư cũng lớn như cái vóc xã hội của cái nghề, cũng mênh mông và bất định trong sự lu tỏ nhập nhòe của cuộc đời. Một cái nghiệp dễ dắt người ta lạc vào cái cõi phiêu diêu mộng ảo làm ta quên mất cái chức phận của mình, quên mất rằng cái nghiệp của chúng ta không phải là một thứ bí ẩn của số phận mà chỉ là một lời răn, là sự nhắc nhở: “Hãy trả nợ cuộc đời bằng chính cái nghề của mình”. - Cái nghiệp của chúng ta là như thế!, đơn giản và chân thực như thế thôi.
Nước ta hiện nay có bao nhiêu kiến trúc sư ? – Có thể nhiều mà cũng có khi rất thiếu. Nhiều là nhiều người có bằng kiến trúc sư, ít là ít kiến trúc sư thực sự mang lên đôi vai của cái nghiệp của mình. Trong Hội còn có phân lọai kiến trúc sư già, trẻ, trong Hội hay ngòai Hội, kiến trúc sư là Đảng viên hay ngòai Đảng; lại còn có thêm kiến trúc sư là thạc sĩ, là tiến sĩ, là giáo sư,... có rất nhiều cách định danh, và mỗi danh xưng lại có không gian tư duy và họat động khác nhau, thậm chí khác nhau hòan tòan.
- Có người suốt đời chỉ biết làm cán bộ, làm quan, chưa từng sản xuất ra một bản thiết kế nào, nhưng lại rất giỏi cái việc làm cho tác giả của những bản thiết kế nào đó đó cụt hứng bất cứ lúc nào!
- Có những người trên danh thiếp trước chữ kiến trúc sư có đến vài tiếp đầu ngữ được ghi rất sang trọng, nhưng suốt đời hoặc từ rất lâu rồi chưa hề cầm đến cây bút vẽ, thế mà lại rất thạo cái việc phát biểu trước hội đồng này, hội thảo nọ và làm rất tốt cái việc tạo ra những phiên bản giống y như họ cho những ai có nhu cầu!
Còn nhiều, còn rất nhiều sự khác biệt không thể tương thích nổi giữa những người mang danh là kiến trúc sư trong xã hội. Nhiều đến mức việc định nghĩa kiến trúc sư là ai, kiến trúc sư làm gì trở thành một việc không cần thiết, chỉ có những anh dở hơi mới cần có cái định nghĩa vô bổ như thế!. Có phải thực sự là như thế không?
- Tôi, hồi mới ra trường, còn trẻ ham vui, ráng sức cậy cục nặn ra được một cái gọi là đồ án gửi đi dự thi kiến trúc Quốc tế. Phước chủ may thầy, được một cái giải thưởng nho nhỏ. Thế là được lên báo, lên đài, được kết nạp vào Hội, được đưa vào Ban Chấp hành Trung ương Hội từ đó cho đến nay.
- Cách nay không lâu, có lần tôi được Sở Xây dựng mời làm giám khảo cuộc chi thiết kế chung cư, với dự án được mô tả có quy mô vài ngàn tỷ đồng, với lời mời rất chân tình và thiết tha. Nhưng khi tôi hỏi thù lao trả cho tôi trong công việc này là bao nhiêu thì mọi thứ trở nên khác hẵn, tôi được nhìn như là một người ngòai hành tinh(?). Ở đâu cũng vậy, tại Hội đồng thẩm định Cung Hội nghị Quốc gia với vốn đầu tư mấy trăm triệu USD; tại cuộc thi quốc tế Quy họach Thủ Thiêm; nơi Hội đồng Giải thường Nhà nước,...không thấy ai nói gì đến thù lao cụ thể cả mà chỉ là những chiếc phong bì tùy hỷ. Cung cách đối đãi này thể hiện sự kéo dài của một cách nhìn về trí thức như là lọai thành phần xã hội mà ý kiến chuyên môn của họ chỉ được nhìn nhận ở mức tham khảo; thể hiện một thói quen cái gì có sẵn thì dùng và của ai muốn lấy thì lấy.
- Chừng hai năm trước, một ngày đẹp trời nọ có người mang đến nhà cho tôi một cái huy chương, Huy chương Vì sự nghiêp Văn hóa, với giấy chứng nhận do Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Thể thao ký hẳn hoi. Dần dà hỏi ra mới biết tôi được thưởng Huy chương cùng lúc với một số kiến trúc sư khác. Tự xét, tôi thấy mình thực sự có công trạng gì đâu, thì ra chỉ là vì cái danh sách xin Huy chương kia nếu có thêm tên tôi xem chừng sẽ tròn trịa về thành phần cấu tạo hơn, dễ thuyết phục hơn mà thôi. Vốn là người nhẹ dạ, tôi nghĩ thôi kệ, người ta vui thì mình cũng vui,... Thế nhưng làm ta không thể không suy nghĩ về sự tồn tại của mình, sự tồn tại đó có phải như là một thực chất xã hội hay là một lọai chỉ cần để cấu tạo hoặc trang trí cho đẹp chơi ?!
- Gần nay thôi, có các bạn trẻ hỏi tôi rằng qua 30 năm làm kiến trúc sư tôi cảm nhận thế nào về nghề nghiệp của mình. Một câu hỏi tưởng chừng như đơn giản nhưng lại khó quá cho tôi để mà trả lời. Nhớ lại rằng từ khi sinh ra còn chưa biết gì, rồi thì tập ăn tập nói, rồi đi học; tới 15 tuổi thì đã biết xuất tinh, nhìn trộm con gái,... và tới 18 tuổi thì biết đủ thứ, đã có thể lấy vợ, làm bố,... Thế mà từ khi mang danh kiến trúc sư đến nay đã 30 năm rồi vẫn còn bối rối trước câu hỏi mình là ai và làm gì! - Tại sao thế nhỉ?, tại sao cái vấn đề lẽ ra là cái sự đơn giản nhất lại trở thành khó khăn và ám ảnh đến mức khó chịu như vậy?. Người xưa nói “Ngũ thập tri thiên mệnh” – Đêm nằm ngẫm nghĩ cái mệnh nào của mình đây?, mình đang là to hay nhỏ; To chứ, vì mình đã từng có mặt ỡ những nơi quan trọng, đã từng đứng ngồi gần các ông to nắm trong tay tiền tỷ của Nhà nước, hay đã từng tiếp xúc với các đại gia bảnh chọe thứ gì cũng biết,... Nhưng lại cũng rất nhỏ, nhỏ bởi vì mình chỉ được làm những cái việc mà người ta cho mới được làm, nhỏ bởi vì mình chỉ làm theo cái việc người ta bảo mình làm mà thôi,... Lớn là bởi vì mình đang có những thứ mà nhiều người khác không có, nhỏ ở chỗ người ta có cho thì mình mới có được, dù anh có tài giỏi siêng năng đến mấy thì cũng một phép mà tuân thủ...!!!.
Thật tình nhiều lúc có ý định bỏ nghề, vì thấy sao kỳ cục quá:
- Kỳ cục nhất là mấy ông bà chủ bên A, ai cũng trịch thượng đòi chia tiền thiết kế như thể họ có quyền ban cho hay lấy đi cái công sức lao động của mình và nếu không có họ thì sẽ không có gì cả cho anh em mình.
- Cùng một công việc như nhau, nếu là người nước ngòai thì được hưởng thiết kế phí cao hơn kiến trúc sư trong nước 10-20 lần. Đồ nội có yếu hơn đồ ngọai thì cũng không thể có cách đánh giá về giá trị sáng tạo hay khả năng sản xuất chênh lệch xa đến mức như vậy. Đây không chỉ là sự phân biệt đối xử, mà từ lâu đã là một lọai vật cản không vượt qua được trên con đường đi lên và hội nhập của ngành thiết kế kiến trúc nước nhà. Cái giá thiết kế hiện nay đang đặt các kiến trúc sư và doanh nghiệp của mình trước bờ vực của sự phá sản, đang biến chúng ta thành những tên ăn cắp, ăn cắp định nghĩa theo công ước Brent; đang biến chúng ta trở thành những tên tội đồ nhỏ nhoi và tội nghiệp. Bây giờ các cuộc thi thiết kế, người ta thích yếu tố nước ngòai và thậm chí còn tìm cách lọai hẳn các kiến trúc sư trong nước ra khỏi cuộc chơi. Do vậy, nhiều anh em mình do ham việc phải bấm bụng mà núp dưới một cái tên Tây tên Tàu nào đó để tìm cơ hội mong manh ngay trên sân nhà. Lẽ ra một anh nước ngòai phải theo một anh local thì mới đúng - Tình thế hiện nay là rất kỳ cục như vậy. Các ông quan chức lớn ở Bộ vô tình với dân mình đến thế sao?! – Chắc chắn là không vô tình đâu, vì sự tồn tại những tập đòan dưới trướng của họ mới thực sự là điều cần quan tâm và càng ít đi các văn phòng thiết kế tư nhân thì càng tốt chứ sao!?.
- Cà nước có chừng 10 trường có đào tạo kiến trúc sư. Các trường phải tuân thủ nghiêm ngặt chương trình giảng dạy, học trò muốn được học phải qua xét tuyển kỹ càng. Nhưng bên cạnh đó mỗi tỉnh có một ông quan cấp Sở có quyền cho hoặc không cho giấy phép hành nghề! và, danh sách các ông quan này không nằm trong một danh mục nào cả!.
- Với tấm bằng kiến trúc sư cộng thêm một số quen biết cần thiết, kiếm một chỗ ngồi cấp phép xây dựng, một chân quản lý dự án, hay quản lý một vài thứ lằng nhằng gì đó ở các cơ quan quản lý xây dựng, quản lý kế họach, quản lý đầu tư,... xem chừng kiếm ăn khá hơn và bảnh bao hơn, được người ta xum xoe ve vuốt, hơn là phải khoanh tay cúi đầu trước những cái "thùng rỗng" và gò lưng trên bản vẽ với cái mộng tưởng làm đẹp cho đời.
Và còn nhiều thứ trái khóay khác có kể hết cũng đến... mai!
Và cứ như thế cái nghiệp đời phủ cái bóng đen to lớn của nó cái nghiệp nghề bất phân phải trái, trắng đen. Và cứ như thế mỗi ngày một chút, cái nghề kiến trúc sư trở thành cái nghề vẽ thuê, cái nghề làm dịch vụ, là cái cớ góp phần thực hiện những toan tính nhiều mầu lắm vẻ nhưng bên trong chứa đựng không ít điều hắc ám.
Chả có mấy khi gặp gỡ nhau đông đúc thế này. Thường thì tiêu chí vui vẻ được đặt lên hàng đầu trong những cuộc anh em đồng nghiệp có dịp gần gũi nhau, vui vẻ là cần thiết, là thuộc tính tự nhiên của kiến trúc sư, không ai giỏi hơn các kiến trúc sư về việc tạo ra sự vui vẻ, dù bất cứ ở đâu và trong hòan cảnh nào. Và song song, cũng không ai hơn kiến trúc sư về cái khả năng nhận ra chân tướng những éo le của cuộc đời. Chúng ta không bi kịch hóa cuộc đời, cũng như không tự huyễn hoặc mình trong một cái bối cảnh không gian mộng tưởng nào đó, kiến trúc sư là những người vui vẻ và chân thực, hồn nhiên và đáng yêu. Một tiếng nói chung nào đó ở đây vào lúc này theo tôi nghĩ đều không ngòai mục đích bảo vệ cái tính chất nghề nghiệp trong sáng và yêu đời của chúng ta, trong mỗi người chúng ta bắt đầu từ việc dẹp bỏ tự ái và những lời thị phi sang một bên mà định nghĩa lại: Ai là kiến trúc sư?, và bao giờ thì ta thực sự là một kiến trúc sư? – Phải kiên trì trả lời cho được câu hỏi này, dù đó là một câu hỏi khó trả lời, bởi vì tuy không khó về nội dung và chữ nghĩa mà lại rất khó ở tại lòng người!. Không vượt qua được câu hỏi này thì làm sao cái nghiệp nghề và cái nghiệp đời thành một được – Làm sao để khi nói đến kiến trúc sư thì chủ yếu là nói đến người làm công việc sáng tác và thiết kế thực sự chứ không phải đánh đồng với "kiến trúc sư quan", "kiến trúc trúc sư quản lý", "kiến trúc sư thầu", "kiến trúc sư chạy chọt",... Một khi câu hỏi còn đó thì chúng ta còn phải sống theo cái kiểu phân thân nữa vời và trong hòan cảnh này chúng ta có gặp nhau thì cũng chỉ gặp có một nửa của mỗi người mà thôi. Một ngàn cái một nửa cũng không bao giờ thành một được. Có vui cũng là vui gượng, kẻo mà...
Để trở thành một: một thực thể xã hội, một nguồn lực quốc gia, một tình yêu nghề nghiệp chân phương, một trách nhiệm cá nhân hòan hảo của giới kiến trúc sư, cần phải bắt đầu từ một không gian nghề nghiệp lành mạnh và hiệu quả hơn. Tất cả, tất cả có gì khác hơn đó là cần phải có một KIẾN TRÚC SƯ ĐÒAN. Mà nào có xa lạ chi, khó khăn chi, cả thế giới này thiên hạ ai cũng làm vậy.
Nãy giờ tôi nói có gì chưa đúng hay làm phiền lòng ai, xin hãy bỏ qua vì nỡ nào bắt lỗi một kẻ thiệt tình – Có tâm đắc về điều gì đó qua cái tâm sự lòng thòng của tôi thì xin cũng đừng vỗ tay vì có gì mới lạ đâu mà tán thưởng. Điều tôi nghĩ cần làm lúc này là giữ nửa phút im lặng để chúng ta thực sự thấy rằng chúng mình rất gần nhau...
__________________
January 2010
M T W T F S S
December 2009February 2010
1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31