Skip navigation.

Log in | Sign up

KIẾN TRÚC VIỆT

Những chặng đường kiến trúc Việt

Kiến trúc Đài Tưởng niệm Liệt sĩ: Từ "mẫu chuẩn" đến những sáng tạo độc đáo!

HÌNH ẢNH HÀNG NGHÌN CÁC ĐÀI TỔ QUỐC GHI CÔNG ĐƯỢC XÂY DỰNG TỪ TỈNH, HUYỆN ĐẾN XÃ GIỐNG NHAU VỀ KIỂU DÁNG ĐÃ LÀM ĐƠN ĐIỆU HOÁ LOẠI HÌNH KIẾN TRÚC NÀY. NHIỀU KTS MUỐN TÌM MỘT LOẠI HÌNH MỚI KHÁC THAY THẾ, SONG CŨNG KHÔNG PHẢI DỄ DÀNG THUYẾT PHỤC MỘT TIỀM THỨC ĐÃ ĂN SÂU VÀO NHÂN DÂN. tUY VẬY, CŨNG CÓ NHỮNG THÀNH CÔNG...

SỰ HÌNH THÀNH "MẪU CHUẨN"
Cuối năm 1950, kiến trúc sư Hoàng Như Tiếp (1910-1982) được cấp trên giao thiết kế quy hoạch - kiến trúc khu họp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1951), xây dựng trong khu rừng già tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Hàng chục công trình gồm hội trường, nhà làm việc, nhà nghỉ, câu lạc bộ, nhà ăn, sân vườn… và đặc biệt có một thể lọại công trình mới khiến kiến trúc sư dành nhiều thời gian suy nghĩ và đưa ra nhiều phác thảo để lựa chọn, đó là Đài Tưởng niệm. Công trình không lớn, nhưng có tính chất đặc biệt nên đựơc các đồng chí lãnh đạo quan tâm, góp ý để chọn phương án có ý nghĩa nhất. Phương án được chọn để xây dựng mô phỏng ngôi nhà tranh ba gian với bốn cột, chínhgiữa
là tấm bia mang dòng chữ “Tưởng nhớ các đồng chí đã hy sinh vì Tổ quốc vì Chủ nghĩa Cộng sản”, đặt trên bệ tam cấp, bên dưới là lư hương với lọ hoa hai bên, trên có hàng chữ “Đại hội đại biểu lần thứ II”(ảnh1). Tuy công trình giản dị nhưng đạt được tính trang nghiêm, giống như ngôi đền thờ, gần gũi với tình cảm nhân dân ta. Ngày 11-2-1951, trước giờ khai mạc Đại hội, Hồ Chủ tịch và các đại biểu về dự Đại hội đã đến thắp nén nhang tưởng nhớ đến vong linh các liệt sĩ.
Sau ngày Giải phóng Thủ đô, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh (1908-1975) đượcgiao thiết kế Lễ đài Ba Đình để phục vụ cuộc mít tinh khổng lồ, ngày 1-1-1955, nhân dân đón Bác Hồ, Đảng và Chính phủ về Thủ đô. Một công trình rất quan trọng gắn liền với ngày lễ trọng đại là Đài “Tổ quốc ghi công” xây dựng ở Quảng trường Ba Đình. Kiến trúc sư đã đưa ra ý tưởng mới về hình khối đài, đó là một khối hình trụ cao vút, kết thúc bằng mái truyền thống, ở giữa nền cờ Tổ quốc nổi bật hai hàng chữ “ Tổ quốc ghi công”, với một lư hương đặt ở trên mặt bệ, dưới là nơi đặt vòng hoa. Tạo nên không gian cảm thụ và tầm nhìn rộng, trang nghiêm, thiêng liêng của nơi thờ phụng, hương khói. Tuy là công trình xây tạm bằng gỗ nhưng đã đạt yêu cầu về hoành tráng, nền nã, mang đậm sắc thái dân tộc, dễ gần gũi với tình cảm của nhân dân. Mấy năm sau kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh thiết kế Nghĩa trang Mai Dịch - Hà Nội bằng vật liệu kiên cố. Ông giữ nguyên dáng vẻ của hình khối Đài tưởng niệm ở Ba Đình đã đi vào lòng người, song trau chuốt hơn, mái lượn cong gần gũi với kiến trúc cổ hơn và đường nét hình khối tỷ lệ hơn, tạo nên một không gian phong phú, đep, có hồn. Đài Tổ quốc ghi công Mai Dịch được coi là mẫu đạt nội dung và hình thức nhất, được quần chúng yêu thích nhất nên được áp dụng đại trà suốt mấy chục năm.

NHỮNG THỂ NGHIỆM THÀNH CÔNG
Hình ảnh hàng nghìn các Đài Tổ quốc ghi công được xây dựng từ tỉnh, huyện đến xã giống nhau về kiểu dáng đã làm đơn điệu hoá loại hình kiến trúc này. Nhiêù kiến trúc sư muốn tìm một loại hình mới khác thay thế, song cũng không phải dễ dàng thuyết phục một tiềm thức đã ăn sâu vào nhân dân. Khởi đầu, vào giữa thập niên 80, kiến trúc sư Trịnh Kim Như đã khởi xướng dáng hình kiến trúc đài theo một hướng khác, Đài Tổ quốc ghi công tỉnh Thuận Hải ông thiết kế theo hình tượng một mái nhà rông quen thuộc của địa phương. Sau khi xây xong đã chứng minh là thể loại công trình này cũng rất hợp với những kiểu dáng mới, có hình khối đa dạng, nếu khéo gắn kết với điêu khắc thì hiệu quả nghệ thuật còn có giá trị cao hơn. Cũng từ đó nhiều công trình Đài tưởng niệm đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa kiến trúc và điêu khắc, tạo nên những không gian thoáng đãng, mở rộng tối đa khu vực cảm thụ. Đến gần chiêm ngưỡng những bức tượng như có hồn, sống động mà sâu lắng về nội tâm.
Từ đầu thập niên 90, các kiến trúc sư Lê Hiệp, Phạm Sỹ Chức, Vũ Đại Hải, Nguyễn Khởi nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng… đã dựa trên cơ sở văn hoá và đặc thù riêng của từng địa phương phác thảo nhiều Đài tưởng niệm khác nhau như hình Cây đa Tân Trào ở Tuyên Quang, hai bàn tay ôm lấy ngôi sao năm cánh ở Ninh Thuận... kiến trúc sư Lê Hiệp đã thành công trong việc tạo hình khối âm- dương, giữa mảng đặc và rỗng, giữa còn và mất, dân tộc và hiện đại, đạt độ sâu lắng về nội tâm trong công trình Đài Tưởng niệm Bắc Sơn - Hà Nội.
Uống nước nhớ nguồn, nhân dân ta đang ngày đêm tạo nên nơi yên ngủ vĩnh hằng của các liệt sĩ ngày thêm ấm áp tình đồng chí, tình người.

Chú thích ảnh:
.Đài Tưởng niệm Liệt sĩ Bắc Sơn (HN) - Một sáng tạo thành công của KTS Lê Hiệp.
.Đài Tưởng niệm tại Tuyên Quang năm 1951 của KTS Hoàng Như Tiếp.
.Đài Tổ quốc ghi công tại Quảng trường Ba đình năm 1955 của KTS Nguyễn Văn Ninh.

KTS ĐOÀN ĐỨC THÀNH
(THỂ THAO&VĂN HOÁ,số 89 (2003) Thứ Sáu 27-7-2007)

Những tác phẩm tiêu biểu của kiến trúc sư Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương

PHẦN II
Kiến trúc sư NGUYỄN QUANG NHẠC (1924-2004), PHẠM VĂN THÂNG cùng học một khoá (1943) ở Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Hà Nội. Theo Khoa Kiến trúc vào Đà Lạt được một năm thì Trường Kiến trúc Đà Lạt giải thể. Năm 1950, hai ông cùng NGUYỄN VĂN HOA (sinh viên Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương) sang Pháp học, tốt nghiệp kiến trúc sư Trường Mỹ thuật Quốc gia Paris cùng một năm, KTS Nguyễn Quang Nhạc ở lại hành nghề. Về nước, KTS Nguyễn Văn Hoa tiếp nhận Văn phòng kiến trúc của KTS Arthur Kruze và hợp tác với KTS Huỳnh Kim Mãng, Phạm Văn Thâng. Tháng10-1958, KTS Nguyễn Quang Nhạc về nước, khai trương Văn phòng Kiến trúc sư tư vụ Hoa –Thâng –Nhạc tại Sài Gòn. Nhóm kiến trúc sư ba thành viên này sáng tác theo phong cách Kiến trúc Hiện đại, thông thạo nhiều lĩnh vực: Quy hoạch đô thị, kiến trúc công nghiệp, kiến trúc dân dụng. Mỗi lĩnh vực lại có nhiều thể loại xuất sắc. Đến nay ít ai biết rạch ròi tác phẩm nào là của ai thiết kế chính, ai phụ. Chỉ biết văn phòng của bộ ba kiến trúc sư Hoa- Thâng- Nhạc đã thiết kế những công trình sau:
Về quy hoạch, có Khu đại học Viện Đại học Cần Thơ; Khu đại học Cộng đồng Duyên Hải , Nha Trang; Khu đại học Cộng đồng Tiền Giang, Mỹ Tho.
Kiến trúc công nghiệp là sở trư¬ờng của Văn phòng kiến trúc. Những nhà máy đã thiết kế xây dựng: Nhà máy Nhuộm và hoàn tất VINATEFINCO, Gò Vấp; Nhà máy Len Vĩnh Thịnh, Thủ Đức; Nhà máy Giấy Cogido Biên Hoà, khu kỹ nghệ Biên Hoà; Nhà máy Giấy Tân Mai, Biên Hoà; Nhà máy Thuỷ tinh Khánh Hội; Viện Bào chế Mỹ Châu, đ¬ường Trư¬ơng Minh Giảng; Viện Bào chế " La Thành Trung " đường Duy Tân; Viện Bào chế Roussel - đại lộ Nguyễn Huệ. Đặc biệt, Nhà máy Dệt VINATECO (Thắng Lợi) Gò Vấp là công trình công nghiệp hiện đại, ra đời sớm nhất ở n¬ước ta vào cuối thập niên 50 thế kỷ XX, công trình kết cấu vòm bê tông cốt thép, tổ chức dây chuyền hợp lý, quy trình kỹ thuật cao.
Cao ốc văn phòng: VINATECO đ¬ường Công Lý cũ, Sài Gòn (Nguyễn Thị Minh Khai); Trụ sở Sài Gòn Thuỷ cục, đư¬ờng Hồng Thập Tự cũ, Sài Gòn; Ngân hàng Việt Nam Thư¬ơng tín, đại lộ Hàm Nghi, Sài Gòn.
Chung cư¬ là thể loại đư¬ợc Văn phòng thiết kế nhiều ở Sài Gòn: Chung c¬ư SIFO 1, đường Đoàn Tòng Bửu, Yên Đổ cũ; chung cư¬ SIFO 2 ở 22 đư¬ờng Gia Long cũ; chung cư¬ COGISA 1, đư¬ờng Bà Huyện Thanh Quan; chung cư¬ COGISA 2, đ¬ường Phan Văn Đạt; chung cư¬ BGl đư¬ờng Thi Sách, chung cư¬ BGl đư¬ờng Hư¬ng Long, Chợ Lớn; chung cư¬ AD. DAVID đ¬ường Trư¬ơng Minh Giảng và chung cư¬ Giáo s¬ư, Viện Đại học Cần Thơ.
Biệt thự: Tổng Giám đốc SHELL đ¬ường Phan Đình Phùng cũ, Sài Gòn; Tổng Giám đốc Chartered Bank đ¬ường Phan Đình Phùng cũ, Sài Gòn; Giám đốc Chartered Bank, đ¬ường Trư¬ơng Minh Giảng, Sài Gòn; Tổng Giám đốc Việt Nam Thư¬ơng tín Bank đ¬ường Phan Đình Phùng cũ, Sài Gòn; Viện trư¬ởng Viện Đại học Cần Thơ; Biệt thự SHELL, Đà Lạt.
C¬ư xá (gồm biệt thự song lập, tứ lập nhà liên kế lầu): Cư¬ xá Ngân hàng Quốc gia, Tân Thuận Đông, Sài Gòn; Cư¬ xá Việt Nam Thư¬ơng tín, đ¬ường Trư¬ơng Minh Giảng, Sài Gòn; Cư¬ xá Việt Nam Thư¬ơng tín, Thị Nghè, Sài Gòn.
Khách sạn Caravelle nay là Độc Lập (Văn phòng hợp tác với KTS ng¬ười Pháp Masso), Nhà hàng khách sạn ARCENCIEL đ¬ường Tản Đà, Chợ Lớn.
Văn hoá - Giáo dục: Trư¬ờng trung học S¬ư phạm Quy Nhơn; Trư¬ờng trung học Kỹ thuật Quy Nhơn; Trư¬ờng trung học kỹ thuật Đà Nẵng. Đặc biệt, kiến trúc sư Nguyễn Quang Nhạc chủ trì thiết kế công trình Viện Văn hoá Pháp nay là Trung tâm Văn hoá với Pháp, 31 đư¬ờng Đồn Đất, Sài Gòn là một quần thể kiến trúc đẹp, hài hoà.
Giáo sư - Kiến trúc sư Nguyễn Quang Nhạc không chỉ sáng tác kiến trúc mà còn giảng dạy tại Trường cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn (Trường đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) từ năm 1958 đến ngày hưu trí, năm 1990. Năm 1967-1971, Giáo sư Nguyễn Quang Nhạc được bổ nhiệm làm Khoa trưởng (như Giám đốc, Hiệu trưởng) Trường đại học Kiến trúc thuộc Viện Đại học Sài Gòn, Đoàn trưởng- Chủ tịch Hội đồng Quốc gia Kiến trúc sư Đoàn (trước ngày Giải phóng gần một năm, ngày1-7-1974, có 147 Đoàn viên). Từ năm 1975, Giáo sư làm Chủ nhiệm bộ môn Kiến trúc Dân dụng, được Nhà nước phong hàm Giáo sư bậc II. Năm 1997 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng Ba. Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật, đợt I, cho tác phẩm: Viện Văn hoá Pháp, 31 Hòn Đất, Sài Gòn.
Giáo sư - Kiến trúc sư Phạm Văn Thâng cũng gắn bó với mái trường đào tạo kiến trúc sư ở miền Nam ngay từ cuối thập niên 50, khi mới về nước. Năm 1971-1974 ông được giao trọng trách làm Khoa trưởng Trường đại học Kiến trúc Sài Gòn. Sau ngày miền Nam giải phóng, ông tiếp tục làm công tác giảng dạy cho đến thập niên 80 thì sống định cư ở Pháp.
Kiến trúc sư Nguyễn Văn Hoa là kiến trúc sư tài ba, sáng tác nhiều. Sau này ông định cư ở Mỹ.
Kiến trúc sư TRẦN VĂN TẢI ra Hà Nội thi đỗ vào trường năm 1943 ở Hà Nội, theo Khoa Kiến trúc vào Đà Lạt, sau này ông tiếp tục học và tốt nghiệp kiến trúc sư ở Beaux-Arts de Paris, Pháp. Năm 1955 về nước và được bổ nhiệm ngay làm Giám đốc Trường cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn, ông là kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên giữ cương vị này, suốt 12 năm. Giáo sư giảng dạy là chính, song cũng thiết kế một số công trình kiến trúc như Văn phòng Đại học Sài Gòn, Trường Sư phạm thực hành, Trường Kỹ thuật Vĩnh Long, ngôi biệt thự tại Làng Đại học Thủ Đức, Sài Gòn,…
Kiến trúc sư NGUYỄN BÁ LĂNG học kiến trúc năm 1943. Khi nhà trường giải thể ở Đà Lạt ông trở ra Hà Nội. Mười năm sau ông cùng gia đình di cư vào Nam, sống ở Sài Gòn. Nhà nghèo, không có điều kiện sang Pháp du học, mãi sau này ông mới theo học tại Trường cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn. Tốt nghiệp kiến trúc sư năm 1961, công trình tiêu biểu là chùa Vĩnh Nghiêm, thiết kế xây dựng cách đây vừa tròn 40 năm, có quy mô vào loại lớn nhất ở Sài Gòn. Kiến trúc sư thiết kế kết hợp kiến trúc hiện đại và dân tộc, dùng bê tông cốt thép thay kết cấu gỗ một cách hợp lý, mái ngói chồng diêm khai thác các mô típ trang trí nhuần nhuyễn. Ngôi chùa ngoài nơi thờ Phật với những lớp lang theo bố cục truyền thống còn kết hợp với chức năng khác của Phật giáo như giảng đường, lớp học, thư viện, phòng họp, nhà tăng,…Nổi bật trong quần thể kiến trúc là toà tháp bảy tầng, kề ngay bên toà chính điện. Miếu bà Chúa Xứ núi Sam, Châu Đốc, An Giang (cùng với KTS Huỳnh Kim Mãng) cũng là một quần thể kiến trúc có quy mô lớn, cao hai ba tầng, nhiều chức năng sử dụng, trang trí công phu. Mái phủ ngói màu xanh, hiếm thấy trong các công trình kiến trúc cổ ở nước ta. Đi đôi với thiết kế kiến trúc chùa chiền, kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng còn viết sách, cuốn Kiến trúc Phật giáo Việt Nam là một trong những công trình nghiên cứu công phu nhất ở nước ta. Ông định cư ở Pháp từ năm 1975, đã qua đời vào thập niên 90.
Kiến trúc sư VÕ MINH NGHIỆM, ra Bắc học khoá 1943 Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, theo Khoa Kiến trúc học ở Đà Lạt rồi Sài Gòn, cùng lớp với Nguyễn Bá Lăng. Ra trường ông vào ngành Công binh trong quân đội Sài Gòn, tu nghiệp nhiều năm ở Hoa Kỳ. Công trình ông sáng tác nhiều là các doanh trại quân đội, tác phẩm chính được nhiều người biết đến là Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt.
Kiến trúc sư NGÔ VIẾT THỤ (1926-2000) học Trường Kiến trúc Đà Lạt trực thuộc Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, năm 1944, sau mấy năm gián đoạn, ôn luỵên tại nhà, năm 1950 ông vào học ở Trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia Pháp. Năm 1955 đoạt Giải Nhất giải thưởng Roma về kiến trúc gọi là Khôi nguyên La Mã về cuộc thi thiết kế công trình Ngôi thánh đường trên đảo Địa Trung Hải, có quy mô 40 nghìn tín đồ. Đồ án được lọt vào vòng trong, bao gồm 10 tác phẩm xuất sắc nhất, cuối cùng tác phẩm của ông đã đứng đầu cuộc thi với số phiếu nhất trí cao: 28/29 thành viên Ban Giám khảo Quốc tế. Năm 1955-1958, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ được cấp học bổng nghiên cứu và sáng tác ở lâu đài Médicis (La Mã) của Viện Hàn lâm Pháp. Thời gian này ông thiết kế đồ án quy hoạch chỉnh trang đô thành Sài Gòn- Chợ Lớn, tác phẩm được hoàn thành và trưng bày ở La Mã năm 1958, hai năm sau ông về nước và trưng bày đồ án này ở Sài Gòn. Tác phẩm của ông gây tiếng vang ở trong và ngoài nước. Năm 1962, Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (HFAIA) mời ông làm Viện sĩ Danh dự, ông là người châu á đầu tiên được vinh dự này. Những tác phẩm sau này của ông được nhiều người biết đến là: Dinh Độc Lập (1961-1966), Viện Đại học Huế (1961-1963), Khách sạn Hương Giang, Huế (1962); Làng Đại học Thủ Đức, Sài Gòn (1962); Viện hạt nhân Đà Lạt (1962-1965); Nhà thờ Bảo Lộc, Lâm Đồng; Nhà thờ Phủ Cam, Huế (1963); Trụ sở Hàng không Việt Nam (1972), Trường đại học Nông Lâm Súc, Thủ Đức (1975), Bệnh viện Sông Bé (1985), Khách sạn Century, Huế (1990),… Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ sáng tác theo phong cách kiến trúc dân tộc và hiện đại, hỗn dung văn hoá Đông Tây, các tác phẩm của ông gần gũi với tình cảm người Việt Nam.
Kiến trúc sư VÕ THÀNH NGHĨA học khoá cuối cùng Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ở Đà Lạt với kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, sau đó sang Paris học tiếp, tốt nghiệp kiến trúc sư và hành nghề tại Pháp. Ông có tác phẩm Đại sứ quán Việt Nam ở Paris, Pháp. Sân bay Nội Bài, Hà Nội do ông thiết kế đã thi công phần móng, thập niên 90 có chủ trương thay đổi về quy mô, kiến trúc sư Lương Anh Dũng thiết kế thi công theo phương án khác, như hiện nay.
Kiến trúc sư NGUYỄN MỸ LỘC học dở dang Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, tốt nghiệp kiến trúc sư ở Pháp, văn bằng kiến trúc sư DPLG Paris. Về nước ông thiết kế một số công trình được giới nghề ở Sài Gòn và Huế đánh giá là có bản sắc dân tộc, ảnh hưởng phong cách kiến trúc Đông Dương. Ông có tác phẩm nổi tiếng được dư luận khen ngợi suốt gần 5 thập kỷ qua là nhà thờ Đức Mẹ hằng cứu giúp, xây dựng ở Huế năm 1958. Vào thời điểm đó mới có nhà thờ Phát Diệm, Ninh Bình do Cha Sáu thiết kế xây dựng; nhà thờ Vĩnh Trị, Nam Định do Cha Phaolô Cẩm thiết kế; nhà thờ Cửa Bắc do kiến trúc sư Ernes Hébrad thiết kế là những công trình theo xu hướng tìm tòi, khai thác kiến trúc dân tộc Việt Nam, còn hầu hết các nhà thờ Thiên Chúa giáo khác đều du nhập phong cách kiến trúc châu âu như Gothique, Romanesque,…Nhà thờ Đức Mẹ hằng cứu giúp ở Huế có mặt bằng đối xứng qua trục trung tâm. Bố cục mặt bằng có nhiều đổi mới: Không gian hành lễ và chính điện ở mặt trước, giữa có cánh phụ trồi ra hai bên và nổi bật ở giữa một tháp chuông cao vút, hậu cung ở phía sau. Hình thức kiến trúc mái sảnh vào chính, mái lớn gian hành lễ, mái nhỏ hai bên cánh và trên các lớp tường giật cấp, mái xoè rộng trên các tầng tháp đều mang đường nét kiến trúc truyền thống Việt Nam.
Kiến trúc sư TÔ CÔNG VĂN học dở dang ở Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, sang Pháp học Trường cao đẳng Mỹ thuật Paris, tốt nghiệp kiến trúc sư cuối thập niên 50. Ông đi đầu tào lưu sáng tác kiến trúc theo phong cách Hậu- Hiện đại. Những công trình được nhiều người biết đến là Khu tu viện và Câu lạc bộ Đắc Lộ của Dòng Tên ở Sài Gòn, Giáo hoàng Chủng viện ở Đà lạt. Giáo sư- kiến trúc sư Tô Công Văn dành nhiều năm giảng dạy, là Khoa trưởng Trường Đại học Kiến trúc Sài Gòn (năm 1974-1975). Sau này ông định cư và hành nghề ở Pháp.
Kiến trúc sư LÊ VĂN LẮM học kiến trúc dở dang ở Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương rồi sang Pháp học tiếp ở Beaux- Arts de Paris. Cuối thập niên 50 ông về nước, thiết kế công trình Trường Cảnh sát Thủ Đức, toà nhà Văn phòng Trung tâm Khuyếch trương; cộng tác với các kiến trúc sư Trần Văn Tải, Bùi Quang Hanh thiết kế Trường tiểu học Sư phạm thực hành Sài Gòn; cộng tác với kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng thiết kế công trình kỹ nghệ súc sản VISSAN. Ông từng là Tổng Giám đốc Tổng Nha Kiến thiết và thiết kế Đô thị.
Kiến trúc sư BÙI QUANG HANH học Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, sau đó sang Pháp học tiếp, nhận văn bằng kiến trúc sư DPLG Paris. Về nước ông hợp tác với kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện, Huỳnh Tấn Phát thiết kế Thư viện Khoa học Tổng hợp Sài Gòn; hợp tác với các kiến trúc sư Mỹ thiết kế công trình Trường đại học Y khoa. Tham gia cuộc thi thiết kế kiểu nhà rẻ tiền do Kiến ốc Cục tổ chức. Cộng tác với kiến trúc sư Tải, Lắm thiết kế Trường tiểu học Sư phạm thực hành. Ông sớm ra định cư ở nước ngoài, song vẫn hành nghề ở trong nước, là kiến trúc sư ngoại kiều duy nhất được là đoàn viên Kiến trúc sư Đoàn ở Sài Gòn trước ngày giải phóng.
Năm 1945, với trên 20 sinh viên kiến trúc Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương phải bỏ học do chiến tranh, 15 năm sau trong số đó đã có gần 20 người trở thành kiến trúc sư. Như vậy, thế hệ kiến trúc sư đầu tiên tốt nghiêp từ Trường Mỹ thuật Đông Dương và Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương có khoảng 70 kiến trúc sư người Việt Nam. Các ông đã đặt nền tảng cho ngôi nhà Việt Nam từ cuối thế kỷ XX ngày thêm vững bền, hiện đại có bản sắc dân tộc./.
KTS ĐOÀN ĐỨC THÀNH

Những tác phẩm tiêu biểu của kiến trúc sư Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương

PHẦN I
Thế hệ kiến trúc sư đầu tiên có ý kiến nên dừng lại ở lớp kiến trúc sư đã tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương trước năm 1945, khoảng trên 50 kiến trúc sư như bài tôi đã viết đăng trên hai số Tạp chí Kiến trúc 6 và 7/ 2007. Theo tôi, thế hệ kiến trúc sư đầu tiên nên bao gồm cả những sinh viên kiến trúc thi đỗ vào Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, từ năm 1942 đến 1944, do chiến tranh nên các ông học dở dang, đến thập niên 50 mới có điều kiện làm đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư ở trong nước hoặc ở Pháp. Mặc dù thời gian khá dài, vào nghề muộn hơn nhiều, song tuổi tác của các ông đều rất cao, thấp nhất đến nay cũng trên 80 tuổi. Vậy thì thế hệ kiến trúc sư đầu tiên ở độ tuổi từ 80 đến 100 cũng tương đối hợp lý. Phân chia rạch ròi các thế hệ kiến trúc sư cũng khó, tôi dự kiến viết loạt bài về nội dung này có thể tạm chia như sau: Kiến trúc sư học ở nước ngoài hoặc trong nước tốt nghiệp từ đầu thập niên 60 đến cuối thập niên 70 là thế hệ thứ hai, thế hệ thứ ba tốt nghiệp trong hai thập niên 80 và 90, ra trường từ thế kỷ XXI trở lại đây thuộc thế hệ thứ tư. Như vậy đến nay nước ta có bốn thế hệ kiến trúc sư nối tiếp.
Các sinh viên Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương nhập trường trong hai năm 1942 và 1943 ở Hà Nội, Năm 1944 do cuộc chiến nên sinh viên hai khoá này theo Khoa Kiến trúc chuyển vào Đà Lạt. Năm 1944, Khoa nâng thành Trường Kiến trúc Đà Lạt trực thuộc Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và chiêu sinh năm học mới, cuối năm 1945 Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương giải thể, các sinh viên phải bỏ sự nghiệp học tập để trở về quê hương.
ở miền Bắc, các sinh viên kiến trúc học dở dang không được học hết chương trình. Vào đời, các ông không có điều kiện học thêm, song một số ông đã lăn lộn với nghề ở chiến khu Việt Bắc, được Bộ Giao thông – Công chính giao trách nhiệm cho các kiến trúc sư ở Vụ Kiến trúc tổ chức nâng cao tay nghề, các bậc kiến trúc sư đàn anh tạo điều kiện cho các ông làm đồ án tốt nghiệp, giúp đỡ hành nghề nên đã có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp kiến thiết nước nhà.
ở miền Nam, phần lớn sinh viên kiến trúc học dở dang sau này đều có điều kiện học ở Trường Mỹ thuật Quốc gia Pháp (Beaux- Arts de Paris), có văn bằng kiến trúc sư DPLG Paris (Architecte diplomé par le gouvernement Paris), hoặc tiếp tục học ở trong nước (Trường Kiến trúc Đà Lạt, Trường Kiến trúc Sài Gòn), khi tốt nghiệp có văn bằng kiến trúc sư. Điều kiện và môi trường hành nghề của kiến trúc sư ở miền Nam cũng thuận lợi hơn, do chiến tranh không ảnh hưởng trực tiếp đến công tác thiết kế, xây dựng. Những tác phẩm của các ông đã đóng góp nhất định trong việc làm đẹp đất nước ta. Đi sâu vào nghệ thuật sáng tạo kiến trúc, các ông cũng có những thành công, nhiều tác phẩm mang tính tìm tòi khai phá, thúc đẩy phát triển nền kiến trúc nước nhà, đáng để hậu sinh nghiên cứu, học tập, phát huy. Mặt khác, nhiều kiến trúc sư đã có công lớn trong công tác đào tạo kiến trúc sư, tạo nên những thế hệ kiến trúc sư kế tiếp có kiến thức và trình độ đáp ứng với công cuộc xây dựng đất nước. Vì vậy, trong loạt bài viết “Hướng tới kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Hội Kiến trúc sư Việt Nam”, nhận thấy có những kiến trúc sư thế hệ đầu tiên tuy không trực tiếp liên quan đến hoạt động này, song, vì những quan điểm như trên, tôi mạn phép nhân đây giới thiệu về sáng tác và sự nghiệp đào tạo kiến trúc sư của các ông cho có hệ thống, người viết mong được sự cảm thông.
Kiến trúc sư ĐÀM TRUNG LÃNG (sinh năm 1920) thi đỗ vào Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1942 (cùng khoá với Đàm Trung Phường, Dương Hy Chấn, Huỳnh Kim Mãng,…), học được một thời gian thì nhà trường giải thể, ông chuyển từ Đà Lạt ra Hà Nội. Toàn quốc kháng chiến ông ra vùng tự do rồi lên Việt Bắc, công tác ở Vụ Kiến trúc (Bộ Giao thông- Công chính). Năm 1952, ở Tuyên Quang, ông được giao làm đồ án Quy hoạch thị trấn Đông Khê, tỉnh Cao Bằng. Đồ án đã được Bộ chứng nhận tốt nghiệp kiến trúc sư. Sau đó ông tham gia thiết kế xây dựng Khu Giao tế Lạng Sơn. Năm 1954, Giải phóng Thủ đô, ông công tác ở Cục thiết Dân dụng (Bộ Thuỷ lợi- Kiến trúc), Uỷ ban xây dựng cơ bản Nhà nước cho đến khi nghỉ hưu với chức năng chính là phụ trách tổ thiết kế điển hình các công trình dân dụng và chi tiết cấu tạo, nghiên cứu ban hành quy phạm, tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam.
Kiến trúc sư ĐÀM TRUNG PHƯỜNG (1923) là em trai kiến trúc sư Đàm Trung Lãng, cùng thi đỗ vào Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương một năm, cùng hoàn cảnh học hành. Ông làm công tác thiết kế kiến trúc từ năm 1948 ở Liên khu 3, năm 1952 lên Việt Bắc công tác ở Vụ Kiến trúc (Bộ Giao thông- Công chính), làm đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư ở Tuyên Quang. Sau đó, Bộ biệt phái ông sang Bộ Ngoại giao, chỉ huy xây dựng Khu Giao tế ở Lạng Sơn. Giải phóng Thủ đô, ông trở về Bộ Giao thông- Công chính, Nha Kiến trúc (Bộ Thuỷ lợi- Kiến trúc), Cục Đô thị và Nông thôn (Bộ Kiến trúc). Từ 1970 đến 1986, Phó Viện trưởng rồi Viện trưởng Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn (Bộ Xây dựng). Ông đã trực tiếp hoặc tham gia khảo sát và chỉ đạo thiết kế nhiều đồ án quy hoạch chi tiết ở Hà Nội như: Công viên Thống Nhất, tiểu khu nhà ở Kim Liên; một số quy hoạch đô thị các thị xã, thành phố: Thái Nguyên, Việt Trì, Uông Bí, Hạ Long, Cẩm Phả, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hải Dương, Yên Bái, Tuyên Quang, Lào Cai, Sơn La, Vũng Tàu,… Những năm sau này ông đề ra và thực hiện những chương trình và đề tài nghiên cứu đô thị hoá và quy hoạch phát triển lãnh thổ mang tính chiến lược như: Chương trình 28-01 (1981-1985) “Lập hệ thống sơ đồ tổ chức môi sinh và bảo vệ mô trường vùng Đông Nam Bộ”, Chương trình 28A(1986-1990) “Quy luật đô thị hoá- phân bố và phát triển mạng lưới dân cư ở Việt Nam trong thời kỳ tiến lên CNXH”. Năm 1991-1995, ông chủ trì chương trình khoa học- công nghệ cấp Nhà nước “ Nâng cao hiệu quả quản lý và xây dựng đô thị” và viết bộ sách 2 tập “Đô thị Việt Nam” trong khuôn khổ đề tài “Chiến lược xây dựng và phát triển đô thị Việt Nam” . Nội dung bộ sách: đúc kết kinh nghiệm, xây dựng nguyên lý sau 30 năm phát triển đô thị Việt Nam, định hướng phát triển đô thị lâu bền những thập kỷ tới phù hợp với chính sách Đổi mới của Nhà nước và xu hướng toàn cầu của thế giới. Tác phẩm đã được tặng Giải thưởng Nhà nước, đợt 1, năm 2001.
Kiến trúc sư DƯƠNG HY CHẤN (1919-!988), thi đỗ vào Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1942, học dở dang. Mười năm sau làm đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư ở Tuyên Quang. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp và sau ngày thắng lợi ông luôn là quan chức chính quyền thuộc tỉnh Bắc Ninh, lãnh đạo các phòng, cục, vụ, viện thuộc các bộ Giao thông- Công chính, Thuỷ lợi- Kiến trúc, Kiến trúc, Xây dựng; Hiệu trưởng Trường đại học Kiến trúc Hà Nội,…Ông không trực tiếp thiết kế, song đã chỉ đạo thiết kế nhiều công trình, nhất là lĩnh vực thiết kế kiến trúc công nghiệp.
Kiến trúc sư HUỲNH KIM MÃNG (1919) từ Long Xuyên đến học ở Sài Gòn, ra Hà Nội thi đỗ vào Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Cũng như các sinh viên kiến trúc cùng khoá học năm 1942, do thời cuộc ông cũng bỏ học dở dang. Đầu thập niên 50, ông cùng các sinh viên cùng hoàn cảnh sang Pháp học tiếp và tốt nghiệp kiến trúc sư tại Beaux-Arts de Paris. Về nước, ông giảng dạy rồi làm Phó khoa (tương đương với Phó Giám đốc hoặc Hiệu phó trước và sau đó) Trường cao đẳng Kiến trúc Sài Gòn (2 nhiệm kỳ), sau đổi thành Trường đại học Kiến trúc thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Ông mở Văn phòng Kiến trúc chung với KTS Nguyễn Văn Hoa, Phạm Văn Thâng, mấy năm sau mở riêng tại 129A Nguyễn Huệ, 139Bis Võ Tánh, 84 Duy Tân. Ông tham gia cuộc thi thiết kế chợ Bến Thành, đoạt Giải Nhất. Tác phẩm này cấu trúc hiện đại với giải pháp kiến trúc hình xoắn ốc, được dư luận trong và ngoài giới nghề hoan nghênh. Cao ốc văn phòng 20 tầng ở đường Đông Du, Quận I, Sài Gòn cũng đoạt Giải Nhất trong một cuộc thi thiết kế tìm ý tưởng kiến trúc. Các công trình đã xây dựng được đồng nghiệp đánh giá cao như: Hội trường Đại học Cần Thơ thuộc Viện Đại học Cần Thơ, tác giả mô phỏng hình con rùa, đặc trưng cho miền sông nước đồng bằng sông Cửu Long. Văn phòng Bộ Y tế, Quận I, Sài Gòn. Ông cộng tác với đồng nghiệp sáng tác một số công trình xuất sắc: Miếu bà Chúa Xứ ở núi Sam xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang (cùng KTS Nguyễn Bá Lăng); chợ Đà Lạt (cùng KTS Lâm Du Tốt); công trình k? nghệ súc s?n VISSAN, quận Bình Thạnh, Sài Gòn (cùng KTS Lê Văn Lắm). Sau ngày Giải phóng miền Nam KTS Huỳnh Kim Mãng thiết kế nh Hội trường tỉnh Cần Thơ, quy hoạch chung thành phố Nha Trang; Trưởng Bộ môn Quy hoạch Trường đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1984 ông sang Bỉ, đoàn tụ với gia đình.
Kiến trúc sư VƯƠNG QUỐC MỸ (1920-1984) từ thị xã Hội An, Quảng Nam ra Hà Nội thi đỗ vào Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1943 (cùng khoá với Nguyễn Quang Nhạc, Phạm Văn Thâng, Trần Văn Tải, Nguyễn Bá Lăng, Võ Minh Nghiệm,…). Do thời cuộc nên đang học dở dang thì Khoa Kiến trúc chuyển vào Đà Lạt rồi Trường giải thể, ông trở về quê hoạt động đoàn thể, cách mạng Tháng Tám ông tham gia giành chính quyền tại địa phương. Toàn quốc kháng chiến ông hoà vào Đoàn Văn nghệ Giải phóng ra Bắc rồi lên Việt Bắc, tham gia thiết kế xây dựng các công trình phục vụ Đại hội Đảng, Đoàn Thanh niên, Phụ nữ. Năm 1952 làm đồ án tốt nghiệp kiến trúc sư. Hoà bình lập lại, ông làm việc tại Viện Thiết kế Kiến trúc (Bộ Kiến trúc), chủ trì thiết kế một số công trình như: Rạp chiếu bóng Long Châu Sa ở Việt Trì (Phú Thọ), Trụ sở Khu uỷ Việt Bắc (Thái Nguyên), Khu Triển lãm Giảng Võ (Hà Nội), nhà khách của Trung ương ở Bãi Cháy (Quảng Ninh),…Ông được cử sang Liên Xô (cũ) làm luận án phó tiến sĩ về đề tài “Khí hậu và nhà ở”, là phó tiến sĩ đầu tiên trong giới nghề. PTS-KTS Vương Quốc Mỹ là Hiệu trưởng đầu tiên Trường đại học Kiến trúc Hà Nội (1969), đến năm 1972 được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Kiến trúc, tức Bộ Xây dựng ngày nay. Ông qua đời tại Hà Nội khi còn đang tại chức.
(Xem tiếp phần II)
KTS ĐOÀN ĐỨC THÀNH

Những tác phẩm tiêu biểu của kiến trúc sư Trường Mỹ thuật Đông Dương

PH ẦN II


Kiến trúc sư NGUYỄN NGỌC CHÂN (1911-1990) sau khi tốt nghiệp năm 1939, nhận làm việc ở Phòng thiết kế Đô thị và Công trình ở Đà Lạt. Ông cùng KTS Lagisquet thiết kế cải tạo mở rộng Khách sạn Langbian Palace Đà Lạt, thiết kế nhiều biệt thự, chủ yếu khu cư xá Decoux và cùng ông này vẽ lại đồ án quy hoạch Đà Lạt theo chỉ thị của Toàn quyền Jean Decoux. Sau ngày Giải phóng Thủ đô, ông được giao làm Tổ trưởng Tổ thiết kế 1, Cục thiết Dân Dụng, Bộ Kiến trúc, KTS Nguyễn Ngọc Chân có điều kiện để sáng tác theo sở nguyện của mình. Ông thiết kế Hội trường Trường Đảng cao cấp Nguyễn ái Quốc; Học viện Quân sự; các trường ở Trung ương như: Công đoàn, Phụ vận, Ngân hàng; các trụ sở tỉnh uỷ và uỷ ban nhân dân các tỉnh Hà Đông (cũ), Kiến An (cũ), Ninh Bình, Nghệ An, Thanh Hoá và trụ sở Bộ Xây dựng. Ông là tác giả của hàng chục biệt thự, nhà khách phục vụ các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước xây dựng ở Hồ Tây, Đồ Sơn, Tam Đảo, Tuần Châu, Ba Vì. KTS Nguyễn Ngọc Chân là người chủ trì về phía Việt Nam thiết kế Lăng Bác Hồ, ông đã thiết kế phương án Lăng theo gợi ý của Bộ Chính trị, kiên trì thuyết phục các chuyên gia Liên Xô (cũ) thiết kế kỹ thuật theo phương án của Việt Nam như đã xây dựng hiện nay. Trong chiến tranh chống Mỹ, ông được giao thiết kế nhiều khu sơ tán của các cơ quan Trung ương, các kho tàng, hầm ngầm quan trọng. Quần thể Trường Đảng cao cấp Nguyễn ái Quốc ở Hà Nội bao gồm nhà Hội trường, Thư viện, nhà văn phòng, nhà ở, nhà ăn, sân vườn,… được các tác giả (đồng tác giả với KTS Trần Hữu Tiềm) bố cục mặt bằng tổng thể đối xứng nghiêm chỉnh, tổ chức không gian gắn kết với sân vườn hợp lý. Giải pháp kiến trúc bình dị, theo phong cách Kiến trúc Tân Cổ điển, hình khối đường nét tỷ lệ một cách chững chạc, có chính phụ rõ ràng, với những chuẩn mực đã trở thành khuôn mẫu, kinh điển. Tác phẩm đã được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Nhà nước, đợt 1, năm 1996.
Kiến trúc sư NGUYỄN NGHI (1917- 1988) tốt nghiệp năm 1939, ông thiết kế nhiều nhà mặt phố, biệt thự ở Hà Nội theo cả phong cách kiến trúc truyền thống lẫn phong cách kiến trúc châu Âu như ngôi nhà 17-19 phố Hàng Vôi, 59 phố Quang Trung, 80 Nguyễn Du,… Một trong những công trình được nhiều người biết đến là toà nhà thiết kế đầu thập niên 40, theo phong cách kiến trúc mô đéc, một trào lưu mới thịnh hành ở Việt Nam thời đó, là ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội - nơi Bác Hồ đã từng sống, làm việc và viết bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945. Trong kháng chiến chống Pháp, các KTS Nguyễn Nghi, Tạ Mỹ Duật và các hoạ sĩ Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Tạ Thúc Bình tham gia thiết kế, thi công Khu Giao tế Trung ương trong khu rừng già ở Thái Nguyên (1950-1951). Một quần thể kiến trúc bằng gỗ, tre nứa rộng hàng chục ha được nghiên cứu kỹ lưỡng, bao gồm các công trình: Hội trường, nhà khánh tiết, câu lạc bộ, thư viện, nhà ăn, nhà ở,… được tổ chức không gian sống tiện nghi, trang trí nghệ thuật phù hợp với sinh hoạt của người nước ngoài, được bè bạn năm châu khen ngợi. Hoà bình lập lại ông được giao thi công các công trình công nghiệp lớn ở thành phố trẻ Việt Trì và từ đầu thập niên 60 đến khi nghỉ hưu ông làm công tác giảng dạy, đào tạo kiến trúc sư nên ít có điều kiện sáng tác.
Kiến trúc sư NGUYỄN NGỌC DIỆM (1908-1999) tốt nghiệp năm 1939, làm việc ở Sở Công chính Hà Nội. Năm 1950, ông thiết kế lại cầu Thê Húc dẫn vào đền Ngọc Sơn bên Hồ Gươm. Sau ngày Giải phóng Thủ đô, ông thiết kế các tiểu khu nhà ở Văn Chương, Nguyễn Công Trứ ( cùng với KTS Nguyễn Ngọc Ngoạn ). Một số công trình trong Công viên Thống Nhất xây dựng đầu thập niên 60 như cầu cong vào đảo giữa, giàn hoa, cổng vào từ đường Nam Bộ, nay là đường Lê Duẩn- Hà Nội. Cổng công viên có hình thức như một dàn hoa, đơn giản mà gợi cảm. Sáng tác của ông phảng phất nét kiến trúc Trung Hoa, song cảm nhận của người dân vẫn thấy gần gũi.
Kiến trúc sư NGUYỄN HỮU THIỆN (1914 – 1980) tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1939, thời điểm các kiến trúc sư đàn anh sáng tác bắt đầu hướng về cội nguồn dân tộc, nên phong cách kiến trúc, tổ chức không gian, trang trí chi tiết kiến trúc của ông ảnh hưởng sâu sắc kiến trúc truyền thống. Ông mở văn phòng kiến trúc tư ở Sài Gòn, sau đó làm việc ở Tổng nha Kiến thiết Sài Gòn, Hội viên thực thụ trong Hội đồng Quốc gia Kiến trúc sư Đoàn. Ông thiết kế nhiều công trình tôn giáo ở Sài Gòn – Gia Định như: Chùa Huệ Lâm, chùa ấn Quang, tháp Cổ Đồng, tháp chuông nhà thờ Thị Nghè,... Tác phẩm nổi bật nhất của KTS Nguyễn Hữu Thiện là Thư viện Khoa học Tổng hợp Sài Gòn, đồng tác giả với các KTS Huỳnh Tấn Phát, Bùi Quang Hanh. Công trình này có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai trường phái: á và Âu - dân tộc và hiện đại. Khi ta tiếp cận từ xa, công trình nổi bật bởi hình khối có tỷ lệ hài hoà giữa cao (khối kho sách) và thấp (khối thư viện), tạo được điểm nhấn trong không gian đô thị. Đến gần công trình có nhiều góc cạnh, không gian và chi tiết trang trí hoa bê tông cũng như phù điêu mang sắc thái dân tộc có hình thức đẹp. Sau khi miền Nam giải phóng ông làm Phó Giám đốc Sở Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh kiêm Viện trưởng Viện Quy hoạch Xây dựng. Tác phẩm Thư viện Khoa học Tổng hợp Sài Gòn đã được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Nhà nước, đợt 1, năm 1996.
Kiến trúc sư TẠ MỸ DUẬT (1915-1989) ra trường năm 1939, ông sáng tác khá nhiều và được xây dựng ở nhiều đô thị như Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Thanh Hoá,… Những biệt thự xây dựng ở Hà Nội đến nay còn được nhiều người biết đến, mặc dù xuống cấp nghiêm trọng nhưng vẫn còn bảo lưu phong cách kiến trúc thời đó như ngôi nhà 27 Nguyễn Đình Chiểu, 67 Nguyễn Du, 28 Hàng Chuối. Đầu thập niên 40, ông cùng KTS Cerutti thiết kế biệt thự 25 Hùng Vương và toà nhà Bưu điện Bờ Hồ ở góc đường Đinh Tiên Hoàng- Lê Thạch. KTS Tạ Mỹ Duật, KTS Đỗ Hữu Dư đã cùng KTS Lagisquet thiết kế Khu học xá Trường đại học Đông Dương. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, KTS Tạ Mỹ Duật và KTS Nguyễn Nghi là đồng tác giả thiết kế thi công Khu Giao tế Trung ương ở trong khu ATK Thái Nguyên. Hoà bình lập lại ông thiết kế Trường trung cấp Thương nghiệp ở Mai Dịch, nhà khách Bộ Nội thương ở Phạm Đình Hồ, nhà ở tập thể Bộ Ngoại thương phố Lê Quý Đôn, tiểu khu nhà ở phố Trần Quốc Toản, nhà ở góc phố Trần Hưng Đạo – Hàn Thuyên, các cửa hàng bách hoá tổng hợp xây dựng ở Hải Dương, Thanh Hoá, Vinh. Sau ngày thống nhất đất nước, KTS Tạ Mỹ Duật đã cùng KTS Trần Hữu Tiềm thiết kế Nghĩa trang Liệt sĩ Đà Lạt, chủ trì thiết kế Bảo tàng Hùng Vương- Phú Thọ (cùng KTS Vương Văn Lai, Lưu Tương Giang). Ông sáng tác gần 30 mẫu nhà ở ít tầng, nhà ở nông thôn và tập hợp để triển lãm rộng rãi (năm 1978 ở số 4 Tràng Thi, năm 1985 ở 23 Đinh Tiên Hoàng – Hà Nội) với hy vọng gợi lên những ý tưởng đẹp để nhân dân xây dựng trong các khu đô thị mới, nông thôn mớí ở đồng bằng, miền biển, trung du, miền núi. Nhà ở nông thôn của KTS Tạ Mỹ Duật có đậc điểm là đường nét kiến trúc đơn giản, hình khối đep, gợi cảm, đậm đà sắc thái dân tộc, gắn bó chặt chẽ với yếu tố thiên nhiên, khí hậu, con người. Hầu hết các kiểu nhà đều có hàng hiên phía trước, cửa mở thông thoáng sáng sủa, hưởng được gió mát mùa hè, tránh được gió lạnh mùa đông. Phòng gia đình (nay là phòng sinh hoạt) kết hợp với tiếp khách thường bố trí trung tâm, chung quanh là các phòng ngủ riêng của các thành viên trong gia đình. Các mẫu nhà ở đều đã đề cập đến chỗ làm việc cho người lớn, nơi học tập cho trẻ em và tạo thành một không gian khép kín, đó là những tìm tòi lớn mang tính sáng tạo mà ngày nay đang trở thành xu hướng kiến trúc nhà ở nước ta. KTS Tạ Mỹ Duật viết nhiều bài lý luận, phê bình kiến trúc đăng trên các báo, tap chí. Ông có một nỗi đam mê từ thủơ ngồi trên ghế nhà trường là vẽ tranh phong cảnh bằng sơn dầu, đi đâu ông cũng mang theo giá vẽ bên người, dù đó là những chuyến công tác nước ngoài hay đến các tỉnh thành xa.
Kiến trúc sư NGUYỄN NGỌC NGOẠN (1912-1990) tốt nghiệp năm 1939, ông mở Văn phòng kiến trúc tư, cùng với KTS NGUYỄN XUÂN TÙNG, KTS PHẠM QUANG BÌNH hợp thành một êkíp chuyên thiết kế các công trình dân sinh. Từ nhà ở, biệt thự, trường học, chùa chiền, chợ búa đến xưởng sản xuất, bất cứ ở nơi nào có yêu cầu, miền xuôi hay miền núi, các ông đều sẵn sàng nhận việc. Đầu thập niên 40, KTS Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng thiết kế chùa Quán Sứ, hoàn thành xây dựng năm 1942, một ngôi chùa có tính chất đột phá về tổ chức không gian và hình thức kiến trúc. Chính điện đặt trên tầng trên, dưới là tầng hầm, hành lang bao quanh, mái chồng diêm. Nhà tăng, nhà tổ cao hai tầng ôm ba mặt nhà. Đây còn là ngôi chùa đầu tiên sử dụng bê tông cốt thép thay cho cấu trúc gỗ trong các bộ phận chịu lực chủ yếu như cột, kèo, rầm, xà, bẩy,…Những năm đầu chống Pháp, KTS Nguyễn Ngọc Ngoạn có mặt ở chiến khu Việt Bắc, thiết kế một số công trình phục vụ cách mạng như trụ sở cơ quan, quân y viện. Do không có điều kiện đi theo hết 9 năm kháng chiến, đến năm 1951 ông trở lại thành Hà Nội. Sau ngày Giải phóng Thủ đô, ông giảng dạy môn toán ở nhiều trường. Từ thập niên 60, làm việc ở Sở Xây dựng Hà Nội, thiết kế nhà Liên cơ quan Vân Hồ, một thử nghiệm đầu tiên về ghép nhiều cơ quan của Hà Nội vào trong một công trình kiến trúc để tạo nên sự thuận tiện trong mối liên hệ, giao dịch, đồng thời tạo sự đồ sộ của hình khối kiến trúc, đóng góp thêm bộ mặt mới của Thủ đô sau ngày giải phóng. Rạp chiếu phim Đống Đa dựng lên trong điều kiện khó khăn về vốn và vật liệu xây dựng nên ít gây được ấn tượng tốt trong sử dụng. Trong Tiểu khu nhà ở Văn Chương, ông đã đề xuất vệt dắt xe đạp ở giữa cầu thang lên tầng, sau đó được giới nghề áp dụng vào nhiều công trình nhà ở trong những thập kỷ cuối thế kỷ XX.
Kiến trúc sư NGÔ HUY QUỲNH (1920- 2003) tốt nghiệp kiến trúc sư năm 1943, nhưng từ thời đang là sinh viên năm thứ 3 ông đã có tác phẩm để đời, đó là ngôi biệt thự 84 Nguyễn Du- Hà Nội. Công trình này có giải pháp kiến trúc mới, độc đáo, gây ấn tượng tốt trong xu hướng khai thác kiến trúc truyền thống. Ông là tác giả Lễ đài Độc Lập trên Quảng trường Ba Đình - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 2-9-1945. Từ thập niên 50, kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh đã viết nhiều bài trên tạp chí kiến trúc của Liên Xô (cũ) giới thiệu về lịch sử kiến trúc Việt Nam, tuyên truyền về kiến trúc truyền thống gắn với nền văn hoá lâu đời của nhân dân ta với bạn bè năm châu. Giải phóng Thủ đô, trở về Hà Nội, nhiều năm KTS Ngô Huy Quỳnh chủ trì nghiên cứu quy hoạch xây dựng và cải tạo Thủ đô, khu trung tâm Hà Nội. Từ đầu thập niên 60,ông là trưởng đoàn chuyên gia Việt Nam sang giúp bạn Lào thiết kế và chỉ đạo xây dựng thành phố Khang Khay, trong đó có nhà Hội đồng Chính phủ và các biệt thự của lãnh đạo Nhà nước. Năm 1983, ông là Tổng biên tập đầu tiên của Tạp chí Kiến trúc- Hội Kiến trúc sư Việt Nam. Ông là tác giả nhiều cuốn sách về kiến trúc, quy hoạch; bộ sách «Lịch sử kiến trúc Việt Nam” được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Nhà nước, đợt 1.
Kiến trúc sư KHỔNG TOÁN tốt nghiệp kiến trúc sư năm 1943, tập kết ra miền Bắc sau Hiệp định Giơnevơ, ông có nhiều đóng góp cho quy hoạch các thành phố: Thái Nguyên, Việt Trì, Hòn Gai, Uông Bí , Cẩm Phả,…Ông dành nhiều năm làm công tác giảng dạy, đào tạo kiến trúc sư. Sau ngày thống nhất đất nước, ông vào công tác tại thành phố Hồ Chí Minh và qua đời do căn bệnh nhiểm nghèo.
Kiến trúc sư HOÀNG HÙNG giữ cương vị Bộ trưởng Kiến thiết của chính quyền Sài Gòn trong thập niên 50, 60; Hội viên thực thụ Hội đồng Quốc gia Kiến trúc sư Đoàn. Ông có phương án đề xuất Quy hoạch Khu Hành chính Văn hoá Thủ Thiêm thay thế Khu Hành chính Sài Gòn cũ của Pháp. Tác phẩm được nhiều người biết đến là: Nhà thờ dòng Cứu thế xây dựng tại Huế năm thiết kế xây dựng năm 1958; Dự án Trường đại học Công giáo Đà Lạt, bao gồm nhà nguyện, nhà học, nhà ở của giáo viên, nhà ăn, bếp, trạm xá,… tạo thành một quần thể kiến trúc đẹp, sinh động. Toà nhà Văn phòng nay là trụ sở Sở Tài chính ở góc đường Nguyễn Thị Minh Khai - Trương Định, biệt thự của bác sĩ Trần Văn Chương ở Sài Gòn và nhiều công sở, biệt thự xây dựng ở Sài Gòn và Đà Lạt..
TRẦN VĂN ĐƯỜNG và ĐỖ BÁ VINH là hai kiến trúc sư đồng khoá, tốt nghiệp vào năm 1945 ở Đà Lạt. Sau năm 1954, KTS Đỗ Bá Vinh di cư vào Sài Gòn đã hợp tác cùng KTS Trần Văn Đường thiết kế chùa Xá Lợi, khởi công xây dựng vào năm 1956. Ngôi chùa có giải pháp bố cục mặt bằng theo chiều dọc, qua đầu hồi như ngôi đình làng Quảng Bá, Hồ Tây - Hà Nội. Song ngôi chùa này có cấu trúc mới, bằng bê tông cốt thép, chính điện ở tầng lầu và có toà tháp cao bảy tầng ở bên cạnh, ngay phía trái tam quan. Tháp hình bát giác, bốn cạnh to và bốn cạnh nhỏ, các tầng ngăn cách nhau bằng lớp mái có độ xoè tương xứng. Tầng kết thúc là điện thờ cao vọt, có cửa kính lớn, trên cùng có mái nhọn. Tam quan có lớp mái cổ kính, hài hoà với chùa và tháp. Phong cách kiến trúc Đông Dương gắn kết với kiến trúc hiện đại một cách hài hoà, song thiên về kiến trúc Trung Hoa nhiều hơn và cách biệt với kiến trúc truyền thống Việt Nam.
Kiến trúc sư LÊ VĂN CẤU (Hội viên thực thụ Hội đồng Quốc gia Kiến trúc sư Đoàn) và kiến trúc sư VŨ BÁ ĐÍNH cùng từ Hà Nội vào Sài Gòn năm 1954. Thập niên 60, hai ông được nhiều người biết đến qua hai khách sạn hiện đại vào bậc nhất Sài Gòn thời bấy giờ, đó là khách sạn Rex và khách sạn Crystal Palace trên đường Nguyễn Huệ. Hai công trình này đang có kế hoạch cải tạo khác hẳn công trình cũ.
Kiến trúc sư ĐÀO TRỌNG CƯƠNG (Hội viên thực thụ Hội đồng Quốc gia Kiến trúc sư Đoàn) nổi tiếng với Giải Nhất cuộc thi thiết kế đồ án Trung tâm Thể dục thể thao Cần Thơ, số tiền 500 đồng của giải thưởng đủ mua ngôi nhà một tầng ở phố Hàng Bún, Hà Nội. Vào Sài Gòn, KTS Đào Trọng Cương cùng với các kiến trúc sư cùng thời như Nguyễn Gia Đức,
PHẠM GIA HIẾN, thiết kế trụ sở Bộ Kiến thiết tức Viện Thiết kế - Quy hoạch tổng hợp ngày nay. KTS Phạm Gia Hiến có thế mạnh về quy hoạch đô thị, ông chỉ đạo thiết kế nhiều quy hoạch các thành phố ở miền Nam. Vốn là những quan chức trong Tổng nha Kiến thiết Sài Gòn nên các ông ít có điều kiện sáng tác như các đồng nghiệp.
Kiến trúc sư NGUYỄN MẠNH BẢO di cư vào Sài Gòn được hai năm thì thiết kế đền Đức Trần Hưng Đạo Vương nay ở đường Võ Thị Sáu, công trình có mặt bằng hình chữ “đinh”, mái chồng diêm theo phong cách đình chùa ngoài Bắc.
Kiến trúc sư NGUYỄN ĐĂNG LINH dành cả cuộc đời nghiên cứu vật liệu tiền chế và thiết kế những mẫu nhà để ứng dụng vật liệu ông nghiên cứu ra, nhằm hạ giá thành công trình, phục vụ đời sống dân nghèo.
Có những kiến trúc sư sau khi ra trường lại chuyển sang làm nghề khác, khoá đầu tiên (1925 – 1930) có kiến trúc sư NGUYỄN XUÂN PHƯƠNG, ông mở xưởng mộc nội thất ở phố Nguyễn Hữu Huân, thiết kế những sản phẩm đẹp có tiếng ở Hà Nội. Sau ngày Giải phóng Thủ đô, ông dành nhiều năm làm thầy giáo giảng dạy môn cấp thoát nước và hình học hoạ hình ở Trường trung cấp Kiến trúc Hà Đông.
Kiến trúc sư NGUYỄN TƯỜNG TAM học khoá 2 Trường Mỹ thuật Đông Dương (1926 – 1931). Sau một năm học Khoa Mỹ thuật, ông chuyển sang học Khoa Kiến trúc, khi chưa tốt nghiệp ông đã bỏ nghề, chuyển sang viết văn chuyên nghiệp mang bút danh Nhất Linh, rồi làm chính trị, đi ngược với con đường của nhân dân ta.
Nhiều kiến trúc sư rất nổi tiếng, tên tuổi gắn với nhiều công trình đẹp ở miền Nam, song người viết bài này là hậu sinh, không cùng thời, lại ở xa, sách báo không thấy ghi lại để tham khảo nên không có điều kiện tìm hiểu viết ra đây đầy đủ. Xin ghi lại danh tính các kiến trúc sư để đồng nghiệp nào biết thì bổ sung cho đầy đủ, phong phú hơn. ở miền Bắc di cư vào Nam có các kiến trúc sư: NGUYỄN THUỴ, NGÔ KHẮC TRĂM (cả hai cùng là Hội viên dự khuyết Hội đồng Quốc gia Kiến trúc sư Đoàn), BẠCH VĂN CHỤ, VŨ ĐÌNH HOÁ, HỒ ĐẮC CÁO, NGUYỄN KHẮC SIÊU, ĐỖ ĐỨC TRUNG, NGUYỄN XUÂN NGHỊ, PHẠM KHÁNH CHÙ,… ở miền Nam có các kiến trúc sư: HUỲNH VĂN NHU, NGUYỄN HỮU PHI, HUỲNH ẩ N, NGUYỄN VĂN NHỊ, LÂM DU TỐT,…
Hướng tới kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Hội Kiến trúc sư Việt Nam, chúng ta nhắc tới thế hệ kiến trúc sư tiền bối, thế hệ đầu tiên, được đào tạo và tốt nghiệp từ Trường Mỹ thuật Đông Dương (1925- 1945), nhằm ghi khắc sâu thêm những đóng góp lớn lao vào sự nghiệp xây dựng nền tảng cho ngôi nhà Việt Nam phát triển bền vững trong thế kỷ XX. Khi nói đến sự nghiệp của từng kiến trúc sư, chúng ta không thể bỏ qua bối cảnh lịch sử và xã hội của thời đại mà kiến trúc sư thế hệ đầu tiên đã trải qua. Xã hội nào, kiến trúc nấy. Kiến trúc chỉ phát triển mạnh mẽ khi có hoà bình. Song các kiến trúc sư thế hệ đầu tiên của chúng ta đã không được sống trong môi trường đó. Trong hoàn cảnh cảnh khó khăn gian khổ, phần lớn kiến trúc sư của chúng ta đã khắc phục để tổ chức hội nghề, đóng góp cho công cuộc kháng chiến sớm thành công. Khởi xướng những phương hướng, con đường đi mới theo cốt cách dân tộc, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, xây dựng trên đất nước ta những công trình đẹp mang dấu ấn của lịch sử, dân tộc và hiện đại./.
KTS ĐOÀN ĐỨC THÀNH
(Tạp chí Kiến Trúc, Số147, 7-2007)

Những tác phẩm tiêu biểu của kiến trúc sư Trường Mỹ thuật Đông Dương

PHẦN I

Từ đầu thập niên 30 thế kỷ XX, thế hệ đầu tiên của giới kiến trúc sư Việt Nam tuy mới rời ghế nhà trường, song ý tưởng sáng tạo trong tổ chức không gian rất phong phú, đã có nhiều tác phẩm đoạt giải thưởng trong những cuộc thi sáng tác kiến trúc công trình công cộng ở các đô thị. Những công trình đã xây dựng tuy quy mô không lớn, chủ yếu là trường học, bệnh viện, cửa hàng, chùa chiền, khách sạn, biệt thự của vua quan, phần lớn là nhà ở xây dựng ở nhiều đô thị như Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt. Từ khi có phong trào Mặt trận Bình dân đấu tranh đòi quyền tự do dân chủ do Đảng lãnh đạo (1936-1939), Văn phòng Kiến trúc Luyện- Tiếp- Đức đưa ra kiểu " Nhà ánh sáng" phục vụ dân nghèo thành thị, được công luận lên tiếng tán đồng, bấy giờ xã hội mới có nhiều người biết đến giới kiến trúc sư, cũng từ đấy hoạt động nghề nghiệp có nhiều thuận lợi hơn..
NHỮNG CUỘC THI SÁNG TÁC KIẾN TRÚC
Trước Cách mạng Tháng Tám, phần lớn những cuộc thi sáng tác kiến trúc trong phạm vi thành phố hay quốc gia đều do các đoàn thể và chính quyền Đông Dương phối hợp với các kiến trúc sư người Pháp đứng ra tổ chức. Những kiến trúc sư người Pháp theo tư tưởng cộng hoà và phần lớn là thầy giáo trực tiếp giảng dạy các kiến trúc sư người Việt Nam, nên có thái độ bình đẳng trong sáng tạo nghệ thuật. Những cuộc thi đều có kiến trúc sư người Pháp và người Việt cùng tham gia, ban giám khảo xét chọn bằng hình thức bỏ phiếu kín, khách quan.
Cuộc thi sớm nhất là thiết kế Nhà thờ ở Hải Phòng, năm 1933, do đốc lý Bouchet tổ chức, đồ án của kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện đoạt Giải Nhất.
Từ thời còn là sinh viên, Tạ Mỹ Duật là người sốt sắng nhất trong những cuộc thi thiết kế kiến trúc. Năm 1936, tổ chức Phật giáo Hà Nội đứng ra mở cuộc thi chọn mẫu chùa Quán Sứ. Có nhiều đồ án dự thi, Ban Giám khảo do Tổng đốc Nguyễn Năng Quốc làm Trưởng ban, cùng Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) và các thượng toạ đã chọn đồ án gây ấn tượng bởi toà tháp " Cửu phẩm liên đài " của Tạ Mỹ Duật trao Giải Nhì (không có Giải Nhất). Đầu thập niên 40 chùa được xây dựng với quy mô nhỏ hơn, như hiện nay, theo đồ án của hai kiến trúc sư Hà Nội là Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng.
Cuộc thi thiết kế Trung tâm Thể dục thể thao Cần Thơ có nhiều tác giả dự thi. Nội dung gồm công trình sân vận động, sân ten nít, nhà thi đấu được Tạ Mỹ Duật sắp xếp mạch lạc, khoa học, phong cách kiến trúc hiện đại, được Ban Giám khảo trao Giải Nhất, ngang với đồ án của kiến trúc sư Đào Trọng Cương.
Ngày 2-11-1941, ở Hà Nội, Toàn quyền Jean Decoux phát động cuộc thi với quy mô lớn toàn Đông Dương về ý tưởng kiến trúc Khu học xá Trường đại học Đông Dương, quy mô 17 ha, tại làng Bạch Mai- Hà Nội. Sau thời hạn 3 tháng, có 14 đồ án tham dự. Ban Giám khảo đã xếp Giải Nhì cho đồ án của kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật. Giải Nhất thuộc về nhóm 3 kiến trúc sư người Pháp làm việc ở Sài Gòn là Louis Chauchon, Masson, Gilles. Giải Ba là đồ án của kiến trúc sư Bruell, Sở Nhà đất thành phố Sài Gòn. Công việc cuối cùng được giao cho kiến trúc sư Jacques Lagisquet, người của Sở Nhà đất Hà Nội đứng ra tổ hợp những ý tưởng ưu việt từ 3 đồ án trúng giải, đưa ra một đồ án khác để xây dựng. Trong cuộc thi này, đồ án của kiến trúc sư Đỗ Hữu Dư (Hoàng Linh) tuy không đoạt giải, nhưng được Ban Giám khảo đánh giá cao. Kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật và kiến trúc sư Đỗ Hữu Dư được Sở Nhà đất Hà Nội mời làm việc cùng kiến trúc sư Lagisquet nghiên cứu tổ hợp thành đồ án thi công. Các công trình tồn tại đến ngày nay.
Năm 1941, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát đoạt Giải Nhất cuộc thi thiết kế Khu Trung tâm Hội chợ - Triển lãm Đông Dương, dự kiến xây dựng ở vườn Ông Thượng (nay là vườn hoa Tao Đàn) Sài Gòn, cũng do Jean Decoux,Toàn quyền Đông Dương hồi đó tổ chức. Cuối thập niên 50, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát tham gia cuộc thi thiết kế Nhà Văn hoá xây dựng ở Khám Lớn Sài Gòn, đồ án của ông đoạt Giải Nhì (không có Giải Nhất).
Năm 1942, sinh viên kiến trúc năm thứ tư Ngô Huy Quỳnh và nhà điêu khắc Trần Văn Lắm đã đoạt Giải Nhất cuộc thi Đài trận vong chiến sĩ đặt ở Lạng Sơn, cuộc thi do chính quyền Pháp tổ chức.
NHỮNG TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
Kiến trúc sư nước ta sáng tác trong giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám khá nhiều, chủ yếu xây dựng ở Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt. Do tình hình chính trị phức tạp và có những quan điểm nhìn nhận khác nhau về thời cuộc nên ở miền Bắc sau năm 1954, ở miền Nam sau năm 1975, hầu như không một kiến trúc sư nào dám nói công khai đến những tác phẩm của mình thiết kế xây dựng trứơc đây, ngừơi ta coi đó như sản phẩm của một thời lỗi lầm phục vụ chính quyền trong chế độ thù địch với cách mạng. Vào thập niên 80, khi đã cởi mở, mọi công việc có thể nói ra dễ dàng, thì hầu như phần lớn kiến trúc sư đã quy tiên hoặc định cư ở một phương trời xa. Điều này đã hạn chế tầm hiểu biết của đồng nghiệp, nên khi đi tìm tư liệu viết ra sẽ không đầy đủ và chính xác là đương nhiên, xin vong linh các kiến trúc sư lượng thứ. Những tác giả tác phẩm dưới đây giới thiệu trình tự theo thứ tự năm tốt nghiệp kiến trúc sư, tuy nhiên nhiều tác giả chúng tôi cũng không biết ngày tháng năm sinh, cũng không biết các ông học năm nào và càng không biết những sáng tác của các ông, khác nào mò kim đáy bể, do đó chỉ cố gắng nêu ra, được chút nào cũng là điều tốt cho những tìm hiểu hoàn chỉnh sau này.
Năm 1933, tuy mới ra trư¬ờng hai năm như¬ng kiến trúc sư¬ NGUYỄN VĂN NINH (1908-1975) đã giúp hai kiến trúc sư¬ ngư¬ời pháp Arthur Kruze và Jacques Lagisquet thiết kế mặt tiền nhà Câu lạc bộ Ba Đình - Hà Nội. Công trình này đã là cầu nối cho những sáng tác sau này của ông ở Huế, Sài Gòn và Đà Lạt. Kiến trúc s¬ư Nguyễn Văn Ninh đã mở Văn phòng Kiến trúc chung với kiến trúc s¬ư Veyssyre ở Đà Lạt, thiết kế nhiều công thự, biệt thự, nhà thờ, nhà băng xây dựng ở Sài Gòn và Đà Lạt. Một công trình đư¬ợc giới nghề quan tâm đến nhiều là nhà nghỉ của vua Bảo Đại ở Đà Lạt, thiết kế năm 1938, theo phong cách kiến trúc mô đéc, phi đối xứng, là xu hư¬ớng tìm tòi mới thời đó. Sau ngày Giải phóng Thủ đô, ông có những tác phẩm tiêu biểu đư¬ợc Chủ tịch n¬ước tặng Giải thư¬ởng Nhà nư¬ớc, đợt 1, năm 1996 : Lễ đài Ba Đình (bằng gỗ) đón Hồ Chủ tịch, Đảng và Chính phủ về Thủ đô ngày 1-1-1955. Công trình mang những đặc trư¬ng của kiến trúc truyền thống, bố cục mặt bằng và hình khối kiến trúc như ¬ một tam quan hai tầng, đối xứng, phần đế rỗng bởi ba cửa cuốn vòm, phần trên là lễ đài có mái che lớn nhô cao, dốc xoè bốn phía, mái phụ và khối kiến trúc hai bên thấp hơn. Toàn bộ lễ đài toát lên vẻ trang nghiêm, đậm đà tính dân tộc, giản dị mà gần gũi, phảng phất chút tâm linh. Lễ đài Ba Đình (xây bằng gạch) năm 1960 vẫn thiết kế theo tinh thần lễ đài trư¬ớc đây, như¬ng thể hiện đúng bản chất của vật liệu gạch và bê tông, hiện đại hơn như¬ng vẫn mang phong cách kiến trúc truyền thống. Nhà sàn Bác Hồ ở Phủ Chủ tịch, năm 1957, đ¬ược dựng lên bằng gỗ, mái ngói. Vẫn là ngôi nhà hai gian nh¬ư ở Việt Bắc, song rộng hơn, và có thêm hai gian hồi ở hai đầu là nơi bố trí cầu thang và hàng hiên. Tầng d¬ưới dành làm nơi họp, tiếp khách, để trống thông thoáng, không gian rộng mở hoà vào sân vư¬ờn ao cá chung quanh, tầng trên có gian làm phòng ngủ, gian làm việc, hàng hiên bao quanh. Ông là ngư¬ời đư¬a ra ý t¬ưởng về một tựơng đài Tổ quốc ghi công Liệt sĩ có hình trụ cao vút, kết thúc bằng mái nhà truyền thống, một thời là hình mẫu để xây dựng khắp nơi.
Những tác phẩm trên đây sớm đi vào lòng người, được Bác Hồ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng đông đảo quần chúng nhân dân yêu thích. Hình tượng kiến trúc mỗi công trình được ông chắt lọc khai thác từ trong kho tàng kiến trúc truyền thống, có nội dung và hình thức độc đáo, phù hợp với tính chất công trình, phản ánh được kiến trúc đặc trưng của vật liệu xây dựng, nên gây ấn tượng sâu sắc đối với tâm tưởng và ký ức quần chúng.
Trong hơn 10 năm, Văn phòng Kiến trúc LUYỆN - TIẾP - ĐỨC gồm những kiến trúc sư tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1932, 1933, đã thiết kế nhiều công trình kiến trúc có giá trị về phong cách nghệ thuật. Giai đoạn đầu, chịu ảnh hưởng những kiến thức học được từ trong ghế nhà trường và sách vở Pháp, các tác phẩm hướng theo phong cách cổ điển Pháp và kiến trúc mô đéc là mốt thời thượng thời bấy giờ, điển hình là biệt thự của bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, 65 Lý Thường Kiệt; biệt thự của nha sĩ Nghiêm Mỹ, 77 Nguyễn Thái Học- Hà Nội. Bước sang thập niên 40, các ông nhận ra phải tìm một hướng đi mới cho nền kiến trúc nước nhà có cốt cách, có bản sắc dân tộc kết hợp với hiện đại. Từ đó các ông dày công tìm về cội nguồn, khai thác kiến trúc cổ truyền. Những tác phẩm có nội dung và hình thức hoà quyện lối sống và văn hoá truyền thống trong giai đoạn này là các biệt thự số 7 Thiền Quang; 215 Đội Cấn- Hà Nội,...
Sau Cách mạng Tháng Tám, kiến trúc sư NGUYỄN CAO LUYỆN (1907-1987) đã sáng tác một số tác phẩm mang tính tiên phong, rất đáng chú ý để thế hệ sau này học tập, phát huy. Với lòng mong muốn mỗi tỉnh thành ở đồng bằng, ven biển, trung du, miền núi, mỗi vùng dân tộc đều có một sắc thái kiến trúc riêng theo kiến trúc truyền thống của địa phương, mở đầu bằng Trụ sở Uỷ ban Hành chính tỉnh Nghĩa Lộ (cũ), tác giả đã khai thác kiến trúc dân tộc Thái Đen không chỉ các mô típ trang trí mà cả hình khối và không gian kiến trúc, thể hiện qua hai mái ngói cong ở đầu hồi nhà, do đó mà có đặc trưng riêng, gắn bó với thiên nhiên và người dân miền núi, công trình được đồng bào các dân tộc địa phương yêu mến. Bảo tàng Cổ vật ở Nam Định không những là tác phẩm hiện đại đi tiên phong theo xu hướng Chủ nghĩa Biểu hiện, với nội dung “ Sư tử vồ mồi”, còn là tác phẩm đầu tiên ở Việt Nam khởi xướng nghệ thuật sắp đặt mà mấy chục năm sau này giới mỹ thuật mới rộ lên. Hội trường Ba Đình (đồng tác giả với kiến trúc sư Trần Hữu Tiềm), Trụ sở Quốc hội, 35 Ngô Quyền; sách: " Từ những mái nhà tranh cổ truyền", "Chùa Tây Phương, một công trình kiến trúc cổ độc đáo" là những tác phẩm của ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, đợt 1, năm 1996.
Cuối năm 1950, kiến trúc sư HOÀNG NHƯ TIẾP (1910-1982) được cấp trên giao thiết kế quy hoạch - kiến trúc khu họp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, xây dựng trong khu rừng già tại xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang. Hàng chục công trình gồm Hội trường với quy mô lớn và đẹp, những ngôi nhà sàn để các đại biểu Quốc tế và trong nước làm việc, nghỉ ngơi; nhà ăn, câu lạc bộ, hệ thống nước sinh hoạt, sân vườn,…được các đại biểu dự Đại hội trong các ngày 11-19/2/1951 khen ngợi, đánh giá là khu công trình lớn nhất, độc đáo nhất, đẹp nhất được xây dựng trong thời kháng chiến chống Pháp. Đầu thập niên 60, ông thiết kế Bảo tàng Kim Liên, Nam Đàn- Nghệ An và Bảo tàng Việt Bắc ở Thái Nguyên. Công trình Bảo tàng Thái Nguyên được tác giả bố cục mặt bằng độc đáo nhất, tạo nên những không gian phong phú nhất, khai thác nhuần nhuyễn những yếu tố dân tộc địa phư¬ơng nh¬ư đ¬ưa thiên nhiên lồng vào các không gian kiến trúc, sử dụng một cách tinh tế những mô típ trang trí của các dân tộc Việt Bắc trong trang trí cửa, trần nhà,... Ông là nhà quy hoạch hàng đầu của nước ta, đã chỉ đạo hoặc trực tiếp thiết kế nhiều quy hoạch đô thị các tỉnh thành trên miền Bắc. Ông tham gia thiét kế và chỉ đạo quy hoạch xây dựng nhiều đô thị lớn. Từ năm từ 1967 đến 1970, ông đã quy hoạch vùng Tam Thiên Mẫu và thiết kế các công trình ở thôn Đào Viên, Hải Hưng. Những kiến thức về quy hoạch được ông đúc kết viết thành cuốn sách “ Mối quan hệ giữa quy hoạch lãnh thổ với quy hoạch xây đựng đô thị”, xuất bản năm 1979. Những tác phẩm trên đã được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, đợt 1.
NGUYỄN GIA ĐỨC là kiến trúc sư tài hoa, ông có biệt tài vẽ phối cảnh rất sinh động từ những ngày ngồi trên ghế nhà trường (1928-1933). Biệt thự của ông Lê Đình H ở phố Hàng Đẫy- Hà Nội; “ Bình Minh Trang”, ngôi nhà lá một tầng của gia đình ông xây dựng đầu thập niên 40 lưu chứa đầy ắp những tinh hoa của dân tộc. Sau năm 1954, ông di cư vào Nam, làm việc trong cơ quan kiến thiết của chính quyền Sài Gòn. Tác phẩm của ông trong giai đoạn này có công trình Tổng nha Kiến thiết nay là Viện thiết kế Tổng hợp.
Kiến trúc sư TRẦN HỮU TIỀM (1912- 1984) tốt nghiệp năm 1933, ông sớm vào Đà Lạt cùng kiến trúc sư PHAN NGUYÊN MẬU mở văn phòng kiến trúc tư mang tên “MẬU - TIỀM Architecte”. Hai kiến trúc sư thiết kế nhiều biệt thự, nhà hàng phố, kể cả nhà ở cho các ấp Hà Đông, Quảng Bá, Nghi Tàm trồng rau, trồng hoa. Sau khởi nghĩa, kiến trúc sư Phan Nguyên Mậu bị địch ám hại, kiến trúc sư Trần Hữu Tiềm ra Hà Nội, lên Việt Bắc rồi tham gia làm cầu đường phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Trở về Hà Nội ông thiết kế Hội trường Ba Đình ( đồng tác giả với kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện ); nhà Hành chính và nhà ở học viên Trường Đảng cao cấp Nguyễn ái Quốc. Ông dành nhiều thời gian chỉ đạo và nghiên cứu thiết kế điển hình; lập tiêu chuẩn, quy phạm thiết kế kiến trúc các thể loại công trình dân dụng, công nghiệp .
Kiến trúc sư ĐOÀN NGỌ (1905-1986) tốt nghiệp năm 1934, ông làm việc trong công sở của Pháp, cộng tác với kiến trúc sư Mayener (Pháp) thiết kế một số công trình trong bệnh viện Bạch Mai- Hà Nội, sau đó mở văn phòng kiến trúc tư ở Hà Nội. Toàn quốc kháng chiến, ông tản cư lên Việt Bắc sau đó trở vào thành làm việc ở Sở Lục lộ. Sau Giải phóng Thủ đô ông được giao làm Tổ trưởng Tổ thiết kế 2, Cục thiết kế Dân dụng, Bộ Kiến trúc. Thời gian này ông đã chỉ đạo và trực tiếp thiết kế nhiều công trình như: Bệnh viện Mắt Trung ương ở góc phố Bà Triệu- Trần Nhân Tông, các trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Sư phạm Vinh; Dân tộc Trung ương, Kinh tế Tài chính, Ngoại ngữ, Khu triển lãm Vân Hồ- Hà Nội, nhà liên cơ Thái Nguyên,…Tác phẩm của ông đằm khoẻ, thể hiện sự vững chãi của thời xây dựng bằng tường gạch chịu lực, sàn và mái lắp ghép bằng tấm panen đúc sẵn.
Kiến trúc sư ĐOÀN VĂN MINH (1908-1973). Sau khi tốt nghiệp kiến trúc sư (năm 1935), ông làm việc ở Sở Hoả xa Hà Nội. Trong 10 năm ông đã thiết kế nhiều nhà ga ở các địa phương có tuyến đường sắt đi qua. Kiến trúc sư Đoàn Văn Minh sáng tác tốt nhiều thể loại công trình vào cuối thập niên 50, đầu thập niên 60. Tác phẩm của ông trong giai đoạn này thiết kế theo tinh thần của Chủ nghĩa Cổ điển phương Tây với ngôn ngữ kiến trúc là thức Hy Lạp- La Mã được cải biên. Về trụ sở có Tổng cục Thống kê, Tổng cục Lâm nghiệp, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Về trường học: Đại học Thuỷ lợi, Đại học Nông- Lâm; các trường trung học y tế ở Thanh Hoá, Thái Bình, Nam Định. Bệnh viện ở các thành phố, thị xã: Thái Nguyên, Bắc Cạn, Yên Bái, Cao Bằng. Gian triển lãm trong Hội chợ Quốc tế ở New Delhi- Ân Độ, được dư luận khen ngợi đã truyền bá kiến trúc truyền thống Việt Nam đến bạn bè thế giới. Tác phẩm Trường đại học Thuỷ lợi và Trụ sở Tổng cục Thống kê được Chủ tịch nước tặng Giải thưởng Nhà nước, đợt 1, năm 1996.
Kiến trúc sư VÕ ĐỨC DIÊN (1906- !961) tốt nghiệp kiến trúc sư năm 1935, từng mở Văn phòng kiến trúc ở phố Đông Kinh Nghĩa Thục- Hà Nội. Năm 1937, ông cộng tác với kiến trúc sư Nguyễn Xuân Tùng thiết kế xây dựng nhà Thuỷ Tạ bên bờ hồ Hoàn Kiếm, 70 năm qua công trình vẫn tồn tại, còn đó phong cách kiến trúc Đông Dương không những chỉ có kiến trúc sư người Pháp thiết kế mà kiến trúc sư người Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng và khai thác thành công từ rất sớm. Độ cong mềm mại gắn với một góc hồ tưởng như không còn tài nào có thể hài hoà hơn. Sau 1954, ông di cư vào Nam. Cuối thập niên 50, đầu thập niên 60 ông thiết kế một số công trình gây ấn tượng tốt, như Khu triển lãm trong Hội chợ Lâm Viên - Đà Lạt, Lữ quán Thanh niên và Lao động Đà Lạt. Đồng Giải Nhất với Liên Xô trong cuộc bình chọn nghệ thuật kiến trúc Gian triển lãm trong Hội chợ Quốc tế New Delhi ở Ân Độ.
Kiến trúc sưHUỲNH TẤN PHÁT (1913-1989) sau khi tốt nghiệp năm 1936, trở về Sài Gòn hành nghề. Trong những năm tập sự tại Văn phòng kiến trúc sư Chauchon (người Pháp) ông đã nổi tiếng với công trình Câu lạc bộ Thuỷ quân, cao 5 tầng. Từ năm 1940, ông mở văn phòng kiến trúc sư tư, thiết kế nhiều công trình được khách hàng ưa thích. Nhiều biệt thự ông thiết kế xây dựng trong giai đoạn này ở Sài Gòn – Gia Định, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên, Đà Lạt,…Đáng chú ý là các ngôi biệt thự ở 40/40 Lò Heo (cũ) nay là phường 4, quận Bình Thạnh; biệt thự 150 đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3 (nay là Lãnh sự quán Nhật Bản); số 1 Bà Huyện Thanh Quan, quận 3; số 6 Nguyễn Huy Lượng, số 38 Phan Đăng Lưu, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh; biệt thự An Hoá ở Đà Lạt,…Đêm 24-8-1945, ông thiết kế kỳ đài cao 15m ghi tên 11 vị trong Uỷ ban Hành chính lâm thời Nam Bộ, gây tiếng vang lớn trong ngày giành chính quyền ở Sài Gòn. Năm 1972, ông thiết kế quy hoạch và hàng chục công trình tại căn cứ cách mạng Thủ phủ Lộc Ninh. Sau ngày thống nhất đất nước, ông đã có các tác phẩm được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, đợt 1, như: Quy hoạch thủ đô Hà Nội (1981), chỉ đạo và trực tiếp tham gia thiết kế các công trình Sân bay Nội Bài, Trường đại học Sư phạm Hà Nội, Cung Thiếu nhi Trung ương (1978), Bảo tàng Hồ Chí Minh (1979-1980), Nhà hát Hoà Bình.
Kiến trúc sư ĐỖ HỮU DƯ tức Hoàng Linh (1912-1968) tốt nghiệp kiến trúc sư năm 1937, nhưng ít ai biết ông thiết kế những công trình nào trước Cách mạng Tháng Tám, ngoài tác phẩm gây xôn xao trong cuộc thi ý tưởng kiến trúc Khu học xá Trường đại học Đông Dương. Cuối năm 1950 đầu năm1951, ông chỉ huy quân đội thi công khu họp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II ở khu rừng thuộc huyện Chiêm Hoá, Tuyên Quang. Sau Giải phóng Thủ đô, KTS Hoàng Linh thiết kế nhà Bác Hồ làm việc K9 Đá Chông, Ba Vì - Hà Tây (1959). Nhiều công trình quân đội được ông thiết kế như: Khu Văn công Quân đội Mai Dịch- Hà Nội; khu nhà ở quân đội Nam Đồng- Hà Nội; bệnh viện 103 Hà Đông; nhà nghỉ quân đội Sầm Sơn- Thanh Hoá; Trường Sĩ quan Quân y; Trụ sở Bộ Tư lệnh Thông tin; các doanh trại quân đội cấp trung đoàn, sư đoàn,..

Kiến trúc sư PHẠM KHẮC HỆ tức Phạm Hoàng (1911-1979) tốt nghiệp năm 1937 công trình để lại không mấy, vẻn vẹn chỉ có một tác phẩm thiết kế từ trước cách mạng Tháng Tám, đó là ngôi nhà Quảng Thái, chủ kinh doanh vàng bạc lớn ở phố Hàng Bạc – Hà Nội. Chỉ cần thông qua một công trình cũng đủ để đánh giá được tài năng nghệ thuật sáng tạo kiến trúc của ông- một kiến trúc sư dành phần lớn cuộc đời cho binh nghiệp, bảo vệ Tổ quốc. Ngôi nhà có mặt chính 3 tầng ở115 Hàng bạc, bên trong thông với ngôi nhà 2 tầng với hệ thống sân vườn lớn có ngõ nối với phố Đinh Liệt. Từ hình thức đến nội dung đều nhất quán khai thác từ kiến trúc truyền thống, tạo được nhiều không gian đẹp, ấn tượng sâu sắc.
(Xem tiếp phần II)

KTS ĐOÀN ĐỨC THÀNH
(Tạp chí Kiến Trúc, Số 146, 6-2007)

Xin mời click vào đường link dưới đây xem tổng mục lục blog doanducthanh:
http://blog.xalo.vn/ketqua.blog?Q=15_username%3Adoanducthanh_1a_my.opera.com%2Fdoanducthanh%2Fe__1____6__

Lý luận phê bình kiến trúc - Cuộc khủng hoảng triền miên

KTS ĐOÀN ĐỨC THÀNH

Lần thứ hai trong nhiệm kỳ này giới nghề chúng ta lại có dịp ngồi với nhau để cùng “than thở” về lý luận - phê bình, một công việc cần phải có để thúc đẩy sự phát triển nền kiến trúc nước nhà. Sở dĩ tôi nói là than thở vì việc này đã từng bàn nhiều lần rồi, song lực bất tòng tâm, thực hiện được rất khó. Do đó mà mỗi khi nghe họp hành, hội thảo, đánh giá về thực trạng công tác lý luận – phê bình kiến trúc thì tâm trạng của tôi lại thấy thiếu hào hứng, mà thừa băn khoăn. Nguyên nhân “than thở” là vậy.
Sau một thời kỳ đóng cửa chìm đắm trong giấc mộng thành quả xây dựng quy hoạch- kiến trúc, khi bừng tỉnh thì đã thấy ta tụt hậu so với các nước bầu bạn chung quanh ta. Không ít ưu tư, lo lắng, day dứt và đã báo động về những yếu kém trong sáng tác kiến trúc – quy hoạch, trong đó thiếu lý luận - phê bình được coi là một trong những nguyên nhân cơ bản.
Nhớ lại những phương hướng phát triển kiến trúc đề ra từ trong các kỳ Đại hội Kiến trúc sư toàn quốc, hầu như một đề cập luôn luôn trùng lặp nhau, nhắc đi nhắc lại, coi lý luận - phê bình kiến trúc là một lĩnh vực khoa học để thẩm định tác phẩm, có tính chiến lược, không thể thiếu được trong guồng máy hoạt động nghề nghiệp, cần có kế hoạch đào tạo cán bộ và có tổ chức cho công tác này. Thế nhưng, lý luận - phê bình kiến trúc, một công việc cấp thiết mà Bộ Xây dựng, Hội Kiến trúc sư Việt Nam, các trường đào tạo kiến trúc sư ai cũng “biết rồi, khổ lắm nói mãi” song đến hôm nay vẫn bỏ trống, vẫn thiếu vắng trong đời sống kiến trúc. Không có một ai là nhà lý luận - phê bình chuyên nghiệp, tất cả đều là tay trái, đều là nghiệp dư, có nghĩa là lâu nay chúng ta lập luận chưa căn bản, chưa chuẩn mực, chưa chính xác, chưa phong phú, còn dè dặt. Tiếng nói chưa có trọng lượng bởi lý giải, phán quyết chưa thuyết phục để đánh giá một tác phẩm.
Thời gian cứ trôi đi một cách bình thản, 5 năm, 10 năm, 20 năm rồi và chắc sẽ còn lâu hơn nữa, không ai có thể khẳng định được đến thập niên nào trong thế kỷ XXI này nước ta sẽ có đội ngũ lý luận - phê bình kiến trúc. Có được dù rất nhỏ đã là mừng, được vững mạnh như các nước trong khu vực là điều ước mong vời vợi.
Như vậy, trong nhu cầu thực tiễn, đây là công tác có tính khủng hoảng triền miên, ngày một bộc lộ năng lực yếu kém, vĩnh viễn mờ nhạt một chiến lược nhằm phát triển nghệ thuật kiến trúc. Đó là một trong những nguyên nhân làm suy thoái môi trường kiến trúc, gây nên tình trạng xuống cấp trầm trọng trong các đô thị ở nước ta hiện nay.
Hai mươi năm đất nước Đổi mới, kiến trúc mở cửa, rồi hội nhập. Những việc làm được là đáng kể, chưa có giai đoạn nào trong lịch sử xây dựng đất nước lại có một khối lượng công trình lớn đến thế. Kiến trúc sư nội, kiến trúc sư ngoại thiết kế nhiều công trình đến thế. Song đất nước ta, giới nghề chúng ta đã được gì? mất gì? khuynh hướng nào cần phát triển, cần hạn chế? những gì là tốt, xấu ra sao? hậu quả thế nào?
Những nhiệm vụ mà thực tiễn cuộc sống đang đặt ra đòi hỏi giới kiến trúc sư có trách nhiệm làm rõ, nhưng vẫn chưa có phương thức thực hiện, thiếu đời sống nội tại. Đến nay vẫn chưa có đánh giá xác đáng theo tiêu chuẩn tuyệt đối, chưa mổ xẻ tìm ra căn bệnh trong kiến trúc. Những báo cáo tổng kết đánh giá về tình hình kiến trúc vẫn chung chung, vô thưởng vô phạt, năm nào cũng na ná như nhau.
Nhìn chung, từ Thủ đô đến các tỉnh thành, quy hoạch - kiến trúc đang phát triển một cách tự phát, xây dựng tuỳ tiện. Với chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội, vai trò của Hội chúng ta tuy đã cố gắng nhưng lực bất tòng tâm, còn mờ nhạt, chưa với tới những động mạch chủ, chưa trị được những căn bệnh trầm kha như nhại “kiến trúc Pháp” mang tính chất dịch hoạ lây lan, làm hỏng môi trường kiến trúc.
Trong kiến trúc các công sở - công trình được xây bằng nguồn vốn của Nhà nước đang mặc sức tung hoành về kiểu dáng, về tổ chức không gian, nhại kiến trúc Pháp thế kỷ trước một cách tràn lan, mà lại thiếu vắng và quá ít những công trình để đời mang tính thời đại.
Các khu đô thị mới thì chủ đầu tư mặc sức thay đổi cơ cấu căn hộ theo nhu cầu kinh doanh, mật độ xây dựng cao, thiếu cơ sở hạ tầng, không gian đô thị đang thành một mớ lôm nhôm khó diễn tả.

THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC LÝ LUẬN - PHÊ BÌNH KIẾN TRÚC

Công tác tổ chức: Trước tình hình đất nước xây dựng nhiều mà không có kiến trúc, tại Đại hội Kiến trúc sư toàn quốc lần thứ IV (tháng 4 năm 1989) giới nghề chúng ta đã kiến nghị với Đảng và Nhà nước một số chủ trương có tính biện pháp, trong đó đề cập những vấn đề mấu chốt nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch xây dựng – công trình kiến trúc như: …“Thực hiện chế độ kiến trúc sư trưởng – người chịu trách nhiệm quản lý thống nhất về kién trúc – quy hoạch trên lãnh thổ; Lập hội đồng kiến trúc các cấp (quốc gia và địa phương) là tổ chức có thẩm quyền cao nhất về nghệ thuật kiến trúc, làm chức năng tư vấn cho các cấp chính quyền về những vấn đề kién trúc - quy hoạch, và xét duyệt các thiết kế cần thiết; Chuẩn bị các điều kiện và sớm thành lập viện kiến trúc quốc gia để chăm lo công tác nghiên cứu lý luận, lịch sử và phê bình kiến trúc…; Ngay từ bây giờ có kế hoạch đào tạo cán bộ chuyên sâu về lý luận - phê bình kiến trúc...”
Ngót 20 năm qua chúng ta đã thực hiện đến đâu, thiết nghĩ cũng nên xem lại:
Tổ chức kiến trúc sư trưởng: được thành lập thí điểm ở hai thành phố lớn rồi sau đó sẽ có kế hoạch mở rộng đại trà, nhằm tạo nên ở mỗi thành phố một “nhạc trưởng” với cái “gậy chỉ huy” để đưa quy hoạch - kiến trúc vào nền nếp, tạo nên bộ mặt đô thị sinh động, có nhịp điệu, giàu bản sắc. Sau một thời gian thực hiện cho thấy, về tổ chức tuy có danh nhưng chức năng, quyền hạn chưa được chủ động, còn quá lệ thuộc vào chính quyền. Bộ máy hoạt động lỏng lẻo, năng lực điều hành yếu, không quán xuyến, không theo kịp tốc độ phát triển,..Vì vậy, thực chất công việc chưa có mở đầu đã phải kết thúc một cách đáng buồn.
Hội đồng tư vấn kiến trúc, quản lý của Thủ tướng Chính phủ hình thành, công việc vừa vào guồng, tiếng nói bước đầu đã có trọng lượng trong xã hội, đã làm được một số việc mang tính khởi đầu, song chưa kịp rút ra bài học kinh nghiệm cũng đã bị giải thể. Ở các tỉnh thành, nhiễu nơi đã thành lập hội đồng kiến trúc – quy hoạch, nhưng tỷ lệ giới làm nghề còn lọt thỏm trong cơ cấu chung nên tiếng nói yếu ớt, chẳng quyết được về chuyên môn, hữu danh vô thực. Nghệ thuật kiến trúc ở các tỉnh thành quá lệ thuộc vào kiến thức cố hữu của các cấp xét duyệt, các vị “quan trí” sính chơi đồ cổ, nên những công trình yếu kém xuất hiện ngày thêm nhiều, nhất là các trụ sở làm việc, các công trình công cộng.
Viện nghiên cứu kiến trúc được hình thành khá lâu. Song nhìn vào công việc và tổ chức bộ máy cũng như năng lực chuyên môn cho thấy viện cũng chưa có chiến lược, mà cũng chẳng mặn mà gì với công tác lý luận - phê bình, một công việc khó nhá mà càng khó làm ra tiền. Hình như công việc của viện đang phát triển như một công ty tư vấn thiết kế, vì mặt này nổi trội hơn. Do đó nên khó mong chờ tiếng nói có trọng lượng mang tính thuyết phục để nâng cao trình độ chuyên môn cho giới nghề.
Hầu hết các trường đào tạo kiến trúc sư của chúng ta đến hôm nay vẫn chưa có khoa lý luận - phê bình kiến trúc. Khó khăn là không có thầy dạy, chưa có mạnh thường quân nghiên cứu bài bản về nội dung chương trình đào tạo và tổ chức thực hiện. Nên chăng khi ta chưa có điều kiện mở lớp, mở khoa thì nên gửi sinh viên ra nước ngoài đào tạo những hạt nhân nòng cốt để trở thành những nhà giáo, những cây bút chuyên nghiệp nhận xét phê bình giúp ích cho giới nghề. Nếu quan tâm đến vấn đề này từ ngay sau Đại hội IV của Hội thì đến nay chúng ta đã có một đội ngũ chuyên nghiệp chuyên lo công tác lý luận – phê bình kiến trúc, tình hình chắc sẽ sáng suẩ hơn.
Đến nước này giờ đây chỉ còn có thể trông cậy vào Hội Kiến trúc sư Việt Nam. Hội đã khởi xướng công tác lý luận - phê bình kiến trúc, Hội biết rõ nhất tầm quan trọng của vấn đề này ra sao. Hội nên chữa cháy bằng cách thành lập một tổ chức để tập hợp lực lượng chuyên lo cho công việc này. Có thể chưa đúng chức năng của một hội chuyên ngành, nhưng thà như vậy còn hơn không.

Diễn đàn lý luận phê bình kiến trúc, ở đâu? Câu hỏi khá khôi hài, tưởng như thừa, ấy vậy mà cũng khó lần ra một cái “bàn tròn”, một chuyên mục nhỏ trong tạp chí chuyên ngành. Phê bình kiến trúc hôm nay không có diễn đàn để thường xuyên trao đổi những quan điểm, góp ý với nhau trong sáng tác, cùng nâng cao trình độ chuyên môn. Hội có cơ quan ngôn luận là Tạp chí Kiến trúc, đương nhiên giới nghề sẽ gửi gắm những suy tư và phê phán những xu hướng lạc hậu trong kiến trúc. Đã hơn 20 năm Tạp chí mở chuyên mục “Lý luận - phê bình”, đã có tiếng nói nhất định, đã từng phê phán không ít quy hoạch và công trình xây dựng yếu kém trên khắp miền đất nước, được dư luận đồng tình. Có công trình trụ sở đầu tỉnh ở Tây Nguyên thiết kế theo kiến trúc Pháp diêm dúa, Tạp chí đã hướng công luận phê phán, kết quả chủ đầu tư đã thay đổi ý kiến. Thế nhưng, một hai năm gần đây chuyên mục này chỉ còn “lý luận” kiến trúc, đã bỏ đi một vế quan trọng, đó là “phê bình” kiến trúc. Tại sao cơ quan ngôn luận của Hội lại từ bỏ diễn đàn “phê bình” kiến trúc? Phải chăng Hội ta mới có chủ trương dĩ hoà vi quý, mũ ni che tai, ngại đụng chạm, ngại mất lòng thiên hạ?

Lý luận phê bình - kiến trúc, bạn là ai? Quả là nan giải nếu ai đó nặng lòng với cái nghiệp, cái căn phê bình kiến trúc. Nghiệp này không giống như phê bình văn học, phê bình mỹ thuật hoặc sân khấu, điện ảnh, âm nhạc,... có thể ngồi nhà, đến phòng triển lãm, galery hoặc nhà hát để cảm nhận. Đối với kiến trúc không thể chỉ xem trong bản vẽ mà phải đến hiện trường, hoà mình trong không gian tác phẩm mới đánh giá chính xác. Vì chưa đâu có tổ chức và đầu tư cho công tác này, nên hoạt động thật là khó, rất khó khăn.
Nếu bạn là người có chức có quyền, nay đây mai đó, nay liếc nhìn công trình này một ít, mai ngó công trình kia chút đỉnh, dần dà sẽ cảm nhận được gương mặt công trình này ra sao, thể loại công trình kia thế nào. Mặc dù chỉ cưỡi ngựa xem hoa, nhưng vẫn là tiếng nói của người tai nghe mắt thấy, viết ra chắc sẽ có người tin, người nghe. Thế nhưng guồng maý công việc sẽ lôi cuốn bạn hết ngày này sang ngày khác, nên mong đợi bạn viết bài phê bình cụ thể vào một tác phẩm nào đó, một thể loại công trình nào đó, một trào lưu kiến trúc nào đó, chắc là khó, nếu dễ thì trên Tạp chí Kiến trúc của Hội đã đăng rất nhiều bài rồi, không đến nỗi xoá sổ mục “phê bình” kiến trúc!
Cũng không mấy ai vì quá mặn mà với công việc phê bình kiến trúc lại xin tiền của vợ con đi hết tỉnh này sang tỉnh khác để xem xét tác phẩm A, công trình B, rồi về thức trắng đêm, kéo qua suốt sáng, chiều, viết một bài báo mà tiền nhuận bút không đủ chi cho tiền ngủ một đêm ở khách sạn bình dân.
Nếu là chỗ quen biết, bạn có thể dựa vào hội cơ sở, vào đồng nghiệp ở địa phương giúp đỡ cho việc đi lại, ăn ở để đi tìm hiểu, khảo sát công trình. Như vậy thì khó giữ được một khoảng cách cần thiết với đối tượng phê bình. Lỡ lòng nào bạn lại không chỉ khen thôi mà còn dùng ngòi bút để phê bình công trình làm ăn của đồng nghiệp, người bạn ruột của mình? nếu thế thì liệu sẽ thực hiện được mấy lần? Hay hễ nghe đến tên bạn thì đồng nghiệp ở bên kia đầu dây sẽ cúp máy cái rẹt? Trong trường hợp này để dung hoà giữa lý tính và cảm tính, tốt nhất là khen một chút, chê một chút cho phải lẽ. Như thế thì vẫn theo vết mòn xưa cũ, vẫn né tránh cả nể, chưa có phê bình kiến trúc đúng nghĩa, thế thì làm sao rút ra được bài học kinh nghiệm?.
Giải thưởng Kiến trúc hai năm một lần, hàng trăm tác phẩm khắp cả nước gửi về, đây là dịp những người mê thích phê bình kiến trúc có thể khai thác, tìm hiểu, viết lách một cách khách quan. Nói vậy thôi, thực ra cũng khó lắm. Muốn vậy bạn phải là thành viên chấm giải, bạn phải là người “hợp cạ” ít ra cũng với vị chủ tịch hội đồng chuyên ngành. Không thì bạn cứ ở ngoài mà ứơc mong. Muốn động vào các tập hồ sơ thì thư ký hội đồng (KTS Trần Thanh, KTS Hồng Hạnh) sẽ chặn lại ngay: “ấy ấy, làm hồ sơ lẫn lộn hết bây giờ!”
Còn nguồn nào nữa đâu, có thể bạn nghĩ rằng lấy thông tin từ chuyên mục Sáng tác kiến trúc, vốn rất phong phú. Song đấy là chuyện xưa như cổ tích, chuyện năm nảo năm nào, ngày ấy bạn có thể tìm kiếm được những gương mặt kiến trúc trên khắp các vùng miền, bạn có thể biết đồng nghiệp của mình đang sáng tác ra sao. Qua đó có thể thấy từng bước phát triển của giới nghề ở mỗi địa phương. Bạn hãy dành chút thời gian giở từng mục, từng trang Tạp chí Kiến trúc xuất bản trong một hai năm gần đây, tuy rất sướng mắt bởi toàn trông thấy những dự án đồ sộ của các cuộc thi thiết kế ở trong nước mang tính quốc tế. Phần lớn tác giả là kiến trúc sư ngoại quốc và Việt kiều sang ta làm ăn, xem cứ xướng như xem tạp chí kiến trúc nước ngoài. Còn công trình ở các tỉnh thành thì chẳng thấy đâu, hình thù mặt mũi thế nào chỉ có hội viên ở trong tỉnh ấy biết với nhau thôi, làm gì có thông tin mà tìm hiểu để viết phê bình. Chẳng lẽ bạn cứ tấm tắc khen mãi những dự án của Tây, khác nào khen phò mã tốt áo?
Ta cũng có những người ngộ nhận là nhà lý luận - phê bình, viết và nói khệnh khạng theo kiểu sống lâu lên lão làng. Song, theo nhận xét của riêng tôi, dường như nhiều năm rồi có phần trễ nải trong nghiên cứu, đọc sách nên ở diễn đàn nào thì vẫn một cách nói ấy, số lượng ngôn từ ấy. Nó vô thưởng, vô phạt, chung chung sự đời, nhưng nội dung thì rỗng tuyếch, không thuyết phục được ai, không giúp ích được ai, chỉ làm mất thì giờ cho cả người nghe lẫn người đọc. Đây cũng là một kiểu làm nhiễu môi trường lý luận – phê bình kiến trúc.

KIẾN TRÚC CÔNG SỞ – THÚ CHƠI ĐỒ CỔ CỦA QUAN CHỨC

Kiến trúc sư Tây, ta – lương tâm ở đâu?
Thuở trước, từ khi có thiết kế trên giấy, con đường đi của kiến trúc nước ta – dù là Tây hay ta thiết kế – thế hệ kiến trúc sư đàn anh đã đi đúng với quy luật của sự phát triển mang tính toàn cầu. Do đó, một thời nghệ thuật kiến trúc nước ta phát triển theo chiều hướng tiến bộ, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển lịch sử kiến trúc.
Khi mới sang đô hộ nước ta, các kiến trúc sư người Pháp do chưa hiểu gì về nền văn hoá bản địa nên họ áp đặt có tính cưỡng bức kiến trúc nước họ vào nước ta bằng cách cho du nhập nguyên xi kiến trúc đương thời của Pháp xây dựng thịnh hành trước và sau thế kỷ XX. Đó là phong cách kiến trúc Cổ điển – một phong cách thiết kế theo nguyên tắc đối xứng qua trục trung tâm, trang trí cửa cột vòm cuốn bằng những gờ chỉ rườm rà theo các thức cổ điển châu Âu, mái lợp đá phiến tạo nên tầng áp mái. Hình thức kiến trúc này được xây dựng trong một số đô thị lớn ở nước ta. Ở Hà Nội, KTS Henri – Auguste Vildieu đã thiết kế một số công trình tiêu biểu theo phong cách kiến trúc này: Phủ Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch) xây dựng năm 1902, Dinh Thống sứ (Bắc Bộ phủ), Phủ Thống sứ (trụ sở Bộ Thương binh Xã hội), Toà án Tối cao; KTS Broger và Harlioy thiết kế Nhà hát Lớn (1901). Đến thập niên 20 của thế kỷ trước, KTS Ernest Hébrad, người Pháp, đã đến nhiều nước Đông – Nam Á, cuối cùng làm việc ở Việt Nam. Đến đâu ông cũng cho khảo sát và vẽ ghi rất nhiều đình chùa đền miếu lăng tẩm, và nhận ra là Việt Nam có nền văn hoá phong phú, rất đặc sắc, điều kiện thiên nhiên khí hậu và vật liệu cũng rất đặc biệt, nên đã tìm con đường riêng cho kiến trúc Việt Nam. Trong vòng 10 năm, KTS E.Hébrad đã thiết kế hàng loạt công trình ở Hà Nội mang phong cách kiến trúc mới gần gũi với nền văn hoá người phương Đông, hợp với khí hậu địa phương, thể hiện qua cấu tạo hệ mái dốc nhiều lớp lang lợp ngói gắn kết với mái sảnh, mái đua và các con sơn đỡ với kiểu dáng hình thức phong phú, hoa văn trang trí sinh động như: Trường đại học Đông Dương (1923-1925), Sở Tài chính nay là Bộ Ngoại giao (1925-1927), Nhà thờ Cửa Bắc (1925-1930), Bảo tàng Louis Finot nay là Bảo tàng Lịch sử (1928-1932),…KTS Gaston Reger cùng đồng nghiệp của ông thiết kế Viện Pasteur nay là Viện Vệ sinh Dịch tễ (1925-1930),… KTS Arthur Kruze thiết kế Câu lạc bộ Thuỷ quân nay là Tổng cục TDTT (1939), toà báo Văn nghệ Quân đội phố Lý Nam Đế, biệt thự Dielot ở đầu đường Ngọc Hà cũng theo phong cách này. Vào cuối thập niên 30, nước Pháp có trào lưu thiết kế đơn giản hoá theo phong cách kiến trúc modec thì ở nước ta kiến trúc sư Việt Nam và kiến trúc sư Pháp cũng làm theo như: Nhà Ngân hàng Đông Dương, Câu lạc bộ thể thao Ba Đình, trụ sở Hãng Shell 39 Trần Hưng Đạo, một số toà nhà ở Tràng Tiền, Đinh Tiên Hoàng,…, chỉ trong 10 năm họ đã chuyển sang kiến trúc Hiện đại, kịp thời với trào lưu trên thế giới. Khi các kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên ra trường cũng làm theo thầy, rồi dần dần bứt ra khỏi cái bóng của thầy để tìm cho nền kiến trúc nước nhà một phong cách kiến trúc truyền thống, cốt cách sâu sắc và triệt để hơn. Thể hiện được nền nghệ thuật mang tính thống nhất, có tổ chức cao độ về phương pháp sáng tác.
Điều đáng buồn là hiện nay một số kiến trúc sư người Pháp hành nghề ở Việt Nam, mặc dù đã từng sống và làm việc ở Việt Nam trên dưới 10 năm, lẽ ra họ đem đến đất nước ta những gì tinh tuý, tốt đẹp nhất của nước Pháp, của phương Tây. Nhưng không, họ không có bản lĩnh nghề nghiệp của thế hệ kiến trúc sư đàn anh trước đây, hôm nay họ đang phản bội lại tinh thần sáng tạo của những kiến trúc sư có lương tâm người Pháp đã sản sinh ra những công trình kiến trúc ở nước ta 100 năm trước đây. Họ đã thiết kế những công trình bắt đầu ở Thủ đô, sau lan ra các tỉnh thành, đến cả thành phố Hồ Chí Minh, lên cả các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc rặt một kiểu “kiến trúc Pháp” cổ lỗi thời. Những ông chủ - trưởng giả của Việt Nam - tưởng thế là hay, cứ a dua đua nhau đặt hàng với tâm niệm: Kiến trúc sư Pháp vẽ kiến trúc Pháp thì hết xảy! họ biết đâu được rằng thứ kiến trúc lỗi thời ấy từ nơi sản sinh ra - nước Pháp - đã loại bỏ một cách triệt để gần cả thế kỷ nay, mà ngày nay nếu còn sót lại sẽ được xếp vào hàng di sản quý báu. Điều đáng buồn hơn, người thích “kiến trúc Pháp” cổ không chỉ còn “quan trí” nữa! Bước sang năm thứ 7 thế kỷ XXI này người thích “kiến trúc Pháp” cổ đã sang cả một số hội đồng giám khảo, những người được coi là kiến trúc sư hàng đâù gồm những giáo sư, tiến sĩ, kiến trúc sư “có uy tín kinh nghiệm về nghề nghiệp”! Tôi mong Hội nghề nghiệp của chúng ta cũng nên ngồi lại bàn xem công trình VINCOM ở trước UBND thành phố Hồ Chí Minh vừa được chấm Giải A có phải “kiến trúc Pháp” cổ hay không?, cần làm sáng tỏ trước khi xây dựng (Tạp chí Kiến trúc số 10-2007 giới thiệu phương án này).
Kiến trúc sư Việt Nam bây giờ cũng còn nhiều người thiếu bản lĩnh, chiều các ông chủ một cách vô lối, họ lập luận: “Chủ đầu tư thích thế, mình không làm thì kiến trúc sư khác cũng làm, thế là mất việc"!.Có thể do thiếu kiến thức để thuyết phục, do quá coi trọng về kinh tế mà quên đi sự nghiệp cao cả của người kiến trúc sư là làm đẹp đất nước. Ngẫm mà thấm thía, từ thập niên 30 thế kỷ trước, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện (1907 – 2007) đã trả lại khách hàng nhiều hợp đồng đắt giá khi họ coi kiến trúc sư như kẻ làm thuê, phải vẽ theo ý thích và theo khả năng hiểu biết của họ.

Không có kiến trúc sư giỏi – chỉ có ông chủ thông minh”.
Ngẫm câu nói trên đây của thiên tài kiến trúc Le Corbusier (1887 - 1965) lại nghĩ về kiến trúc của nước ta hiện nay mà thấy thấm thía, mà thấy đau lòng, một bài học đắng cay trong phát triển kiến trúc Việt Nam.
Từ ngày đất nước mở cửa, kinh tế được cải thiện, các quan chức đua nhau cải tạo, mở rộng hoặc xây mới công sở. Kiến trúc công sở – công trình được xây bằng nguồn vốn Nhà nước, đối tượng quản lý và sử dụng là Nhà nước, là một thể loại công trình được nhiều quan chức để ý nhất từ nhiều năm nay. Nếu chỉ quan tâm đến bố cục nội dung, dây chuyền sử dụng là lẽ đương nhiên, là điều cần làm. Oái ăm thay, phần lớn các ông chủ lại chỉ đạo kiến trúc sư, thậm chí đặt hàng từ trong nhiệm vụ thiết kế là hình thức kiến trúc bắt buộc phải làm theo kiến trúc cổ điển Pháp!
Bắt đầu từ đầu thập niên 90, hàng loạt công sở trước đây thiết kế theo phong cách kiến trúc Hiện đại vốn nhẹ nhàng thanh thoát, các ông chủ yêu cầu cải tạo bằng cách đắp điếm thêm gờ chỉ, biến cột vuông thành cột tròn, làm thêm mái kiểu mansarde, nhại theo kiến trúc Pháp càng nhiều càng tốt, theo họ có thế mới oai, mới đẹp. Tiếp theo là hàng loạt các trụ sở mới mọc lên, cứ “kiến trúc Pháp” cổ mà sài. Ngày ấy, nhà nghiên cứu kiến trúc người Pháp Christian PÉDELAHORE DE LODDIS viết bài trên Tạp chí Kiến trúc của Hội ta đã cảnh báo về những thứ gọi là “kiến trúc Pháp” ấy là những “bản sao của bản sao”, không chuẩn xác, nó kệch cỡm, không có ý nghĩa gì cả.
Phải chăng có cung thì có cầu? Có đặt hàng mới có thiết kế?
Quả là như thế, một số quan chức nước ta, từ trung ương đến địa phương, cứ thích loại kiến trúc Pháp cổ điển này để xây dựng các công sở? Phải chăng họ đang hẫng hụt về văn hoá, không biết hướng phát triển của nghệ thuật kiến trúc, nên mới chuộng phong cách lỗi thời này?
Tất cả đều quy ra nguyên nhân chính vẫn là chúng ta bỏ trống chiến lược quan trọng trong phát triển kiến trúc, đó là lý luận - phê bình. Công tác truyền thông trên báo đài chưa có để các “quan trí” nâng cao kiến thức, nhận thức giáo dục thẩm mỹ, biết thế nào là đẹp, thế nào là lỗi thời, có như vậy mới không có đơn đặt hàng thiết kế những công trình đi ngược lại với xu hướng phát triển nghệ thuật kiến trúc./

NÊN CHĂNG 27/4 - NGÀY KIẾN TRÚC SƯ VIỆT NAM

Cách mạng Tháng Tám như một luồng gió mới đến với giới kiến trúc sư, nhiều người tham gia giành chính quyền và giữ các cương vị quan trọng trong các cấp chính quyền ở các tỉnh thành: KTS Huỳnh Tấn Phát, Uỷ viên Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ; KTS Nguyễn Văn Ninh, Uỷ viên Uỷ ban Nhân dân tỉnh Lâm Viên nay là tỉnh Lâm Đồng, Phó Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Lạng Sơn; KTS Dương Hy Chấn, Phó Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính tỉnh Bắc Ninh; KTS Hoàng Như Tiếp, KTS Phạm Khắc Hệ, Uỷ viên Uỷ ban Kháng chiến Hành chính các tỉnh Phúc Yên, Hải Dương, KTS Nguyễn Ngọc Chân dẫn đầu đoàn biểu tình ở Đà Lạt,, vv…Một số kiến trúc sư lần lượt tham gia tòng quân làm anh bộ đội Cụ Hồ, trực tiếp cầm súng ra chiến trường chống ngoại xâm, như Đỗ Hữu Dư ( Hoàng Linh ), Phạm Khắc Hệ ( Phạm Hoàng ) và KTS Nguyễn Nghi.
Nhà nước ta đã chủ trương tổ chức các giới nghề để tập hợp lực lượng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mùa Thu năm 1946, tại nhà Khai Trí Tiến Đức bên hồ Hoàn Kiếm, mấy chục kiến trúc sư đã họp bàn việc chuẩn bị Điều lệ, chương trình hoạt động và lễ ra mắt Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam, đồng thời xuất bản Tạp chí "Kiến thiết", "Trước kia dưới thời Pháp thuộc muốn lập một tổ chức ái hữu của những anh em kiến trúc sư cũng không thể làm nổi, vì khi mà nghệ thuật kiến trúc bị coi rẻ như một món hàng bán lấy lãi, vì giữa những anh em kiến trúc sư tuy là đồng nghiệp nhưng hoạt động ở các ngành khác nhau, người mở phòng riêng, người làm công chức, người chủ trương đi sâu về nghệ thuật thường có sự va chạm và chống đối nhau về quyền lợi. Sau Cách mạng tập hợp nhau được trong một hội nghị chuẩn bị thành lập Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam giữa hoàn cảnh phức tạp và chia rẽ như thế, nói được với nhau những nhiệm vụ chung phải gánh vác, đó là những cố gắng đầu tiên của chúng ta" (1). Công việc đang tiến triển khẩn trương thì thực dân Pháp gây hấn ở Hà Nội.
Toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, "Anh em kiến trúc sư chúng ta do lòng yêu nước và trí căm thù quân cướp nước, tin tưởng vững chắc vào tiền đồ của dân tộc, đã rời bỏ cuộc sống thành thị mà hăng hái tham gia cuộc kháng chiến của toàn dân. Anh em chúng ta đã tự nguyện bất kỳ công tác gì, người ở lại chiến đấu bảo vệ Thủ đô, người ra vùng tự do phục vụ trong quân đội, tham gia chính quyền địa phương, làm công tác tuyên truyền, công tác tản cư di cư. Trong khi ấy ở miền Nam một số anh em kiến trúc sư cũng rời bỏ đô thị, tham gia công tác kháng chiến,…"(1).
Năm 1948, công cuộc kháng chiến được hơn một năm. Ở Việt Bắc, quân ta chiến thắng giòn giã trên các mặt trận Đoan Hùng, Sông Lô, Sông Thao, Phủ Thông, Đèo Giàng, Bông Lau, Bố Củng, Lũng Phầy,vv… Ngày ấy dưới khẩu hiệu kháng chiến kiến quốc, các văn nghệ sĩ phấn khởi, tìm mọi cách liên lạc, móc nối lại với nhau, đoàn kết một lòng, tất cả cho kháng chiến, tất cả cho dân tộc. Khí thế Cách mạng lan toả khắp nơi. Các liên khu dấy lên phong trào hưởng ứng cuộc thi "Việt Bắc kháng chiến" do Tạp chí "Văn nghệ" phát động, chuẩn bị Đại hội Tập, tổ chức triển lãm tác phẩm sáng tác phục vụ kháng chiến,vv…
Chính phủ chủ trương tổ chức đại hội thành lập các hội: Văn hoá Việt Nam, Văn nghệ Việt Nam và các đoàn: Kiến trúc sư, Mỹ thuật, Âm nhạc, Sân khấu.
Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam có vinh dự được tổ chức hội nghị thành lập đầu tiên tại Việt Bắc.
Ngay sau Tết Mậu Tý một tháng, vào trung tuần tháng ba năm 1948, dưới nắng chiều bên đồi cọ ở Ấm Thượng - Phú Thọ, hoạ sĩ Tô Ngọc Vân với cương vị Uỷ viên Ban Chấp hành lâm thời Hội Văn nghệ Việt Nam ( được bầu tại cuộc họp trù bị lần thứ nhất ngày 03-10-1947 ở Đại Từ - Thái Nguyên ) đã cùng các kiến trúc sư ở Liên khu X: Tạ Mỹ Duật, Nguyễn Nghi, Võ Đức Diên bàn về Hội nghị Kiến trúc sư toàn quốc, thảo luận về Đại hội Tập, về hoạt động nghề,… Cùng dự còn có Thao Trường (2) phóng viên Tạp chí "Văn nghệ"( Xem bài" Các văn nghệ sĩ với cuộc thi Việt Bắc Kháng chiến" của Thao Trường, Tạp chí" Văn nghệ" số 2 tháng 4&5 -1948 ).
Ở Liên khu I, KTS Nguyễn Cao Luyện và KTS Hoàng Như Tiếp cùng tản cư ở Phúc Yên. KTS Nguyễn Cao Luyện có mối giao lưu rộng trong giới văn hoá, ông dành nhiều thời gian và tâm sức gặp gỡ, tiếp xúc với giới khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, giáo dục và văn học, nghệ thuật để tổ chức Hội nghị Văn hoá Việt Nam. KTS Hoàng Như Tiếp quan tâm nhiều đến giới nghề, ông thường xuyên gặp gỡ lãnh đạo Bộ Giao thông Công chính , tiền thân của Bộ Xây dựng ngày nay để bàn về hoạt động của giới nghề. Ở Liên khu III, KTS Trần Hữu Tiềm liên lạc thường xuyên với Bộ trưởng Trần Đăng Khoa và được biết Bác Hồ chỉ thị trong hoàn cảnh nào cũng phải tập hợp anh em kiến trúc sư tổ chức thành một đoàn thể vững mạnh để đóng góp cho kháng chiến và sau khi kháng chiến thắng lợi. KTS Trần Hữu Tiềm đã tìm mọi cách để liên lạc được với hơn một chục kiến trúc sư đang sống rải rác khắp nơi: Nguyễn Ngọc Chân và Đoàn Văn Minh ở Liên khu IV, Nguyễn Cao Luyện , Hoàng Như Tiếp và Phạm Quang Bình ở Liên khu I, Tạ Mỹ Duật, Nguyễn Nghi , Võ Đức Diên, Ngô Huy Quỳnh ở Liên khu X.
Theo lời kể của KTS Tạ Mỹ Duật với tôi năm 1985 thì đến ngày 6-4-1948, khi Ban Chấp hành lâm thời Hội Văn nghệ Việt Nam triệu tập tại Việt Bắc lần thứ hai, giới kiến trúc sư được biết tin chính thức ngày giờ và địa điểm triệu tập Hội nghị Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam. Do thời gian triệu tập gấp nên không liên lạc được với kiến trúc sư quân đội, kiến trúc ở miền Nam và kiến trúc sư vùng tạm chiếm. KTS Nguyễn Văn Ninh bận việc tiễu phỉ ở Lạng Sơn nên báo báo trước là không đến dự được, KTS Ngô Huy Quỳnh sau đợt oanh tạc của máy bay " Bê vanh cát" đã rời nhà đi nơi khác, không ai biết ở đâu, KTS Nguyễn Nghi hăng hái trong mọi hoạt động, nhưng bị ốm năng nên không dự được.
Ngày họp đã được ấn định. Đi đường vất vả nhất là ba kiến trúc sư ở Liên khu IV, Liên khu III. Các ông phải đi bộ mấy trăm cây số, vừa đi vừa hỏi thăm đường, tránh vòng vây địch, nhiều hôm ngày nghỉ, đêm đi vì phải qua vùng tề. Ban ngày hướng về dãy núi Tam Đảo mà đi, ban đêm cứ nhằm hướng sao Bắc Đẩu mà thẳng tiến. Cũng may những ngày đi đường trời nắng ráo, đêm có sao và trăng mọc khuya.
Sáng ngày 21-4-1948, ba kiến trúc sư Trần Hữu Tiềm, Nguyễn Ngọc Chân, Đoàn Văn Minh vừa đặt chân đến làng Thản Sơn thì đã thấy ông Vũ Thế Lĩnh, Chánh Văn phòng Bộ Giao thông Công chính đến tiền trạm từ hôm trước. Đây là một làng sơn cước, cây cối um tùm, đồi san sát như bát úp, nhà dân thưa thớt, không cách xa chân núi Tam Đảo là bao. Ngày ấy làng Thản Sơn ở thuộc xã Chiến Thắng, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên ( nay là xã Liễn Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc). Lập Thạch vừa bị tàn quân Pháp thua trận ở Việt Bắc rút về qua đây, chúng đốt phá nhà cửa tan hoang. Đó đây ở Thản Sơn vẫn còn trơ những mảng tường, gốc cây loang lổ hằn những vết đạn thù, những cột nhà cháy xém, những đống tro tàn trên những nền nhà trống không ( theo cuốn " Lịch sử hoạt động cách mạng của nhân dân xã Liễn Sơn" ).
Theo KTS Nguyễn Ngọc Chân kể chuyện với tôi thì chiều ngày 22-4, KTS Nguyễn Cao Luyện và Hoàng Như Tiếp đến nơi. Mờ sáng hôm sau KTS Tạ Mỹ Duật và Võ Đức Diên đã có mặt. Ai cũng hỏi thăm KTS Nguyễn Nghi sao không đến? Thật là tiếc, một người nhiệt tình sốt sắng với Hội nghị là thế mà trước ngày họp thì bị ngã nước, sốt rét liên miên, không sao đi được. KTS Diên khoe: "Cả đêm qua được ngồi tựa mạn thuyền dọc dòng sông Thao ngắm trăng rõ sướng, không gì vui bằng".( Theo bài " Hai sườn Tam Đảo" của Đoàn Phú Tứ đăng trong Tạp chí" Văn nghệ" , số 3, tháng 6&7-1948, thì thời gian hạ tuần tháng 4-1948 dưới chân núi Tam Đảo ban ngày trời nắng, đêm có trăng sao, phù hợp với lời kể của KTS Nguyễn Ngọc Chân, KTS Nguyễn Cao Luyện và lời miêu tả của KTS Võ Đức Diên. Tuy nhiên trong bài" Nhớ ngày đầu thành lập" của KTS Nguyễn Ngọc Chân đăng trong Tạp chí" Kiến trúc" nhân kỷ niệm 40 năm thành lập- Nguyễn Ngọc Chân kể, Đoàn Đức Thành chấp bút- có tình tiết " Anh Khoa quyết định thời gian họp Hội nghị Kiến trúc sư vào trung tuần tháng 4 năm 1948", sau này tra lịch thế kỷ XX thì tôi thấy rằng thời gian này thuộc đầu tháng 3 âm lịch nên trăng non, trong khi lại miêu tả thời gian họp trăng sáng vằng vặc, có thể ông nhầm lẫn giưã âm lịch và dương lịch).
Chiều 23-4, Bộ trưởng Trần Đăng Khoa, Thứ trưởng Lê Dung, Vụ trưởng Hoàn và hoạ sĩ Tô Ngọc Vân đến nơi. Người cuối cùng là KTS Phạm Quang Bình, đang ốm dở, người nhà đưa đến.
Đêm hôm ấy, dưới ánh trăng rằm tháng ba năm Mậu Tý, chủ nhà trải mấy tấm chiếu ra chiếc sân rộng, trên có nồi nước chè xanh , rổ sắn luộc với mấy chiếc điếu cày, chủ và khách có dịp chuyện trò, hàn huyên tới khuya.
Sáng ngày 24-4-1948, khai mạc Hội nghị Kiến trúc sư toàn quốc. Đến dự với tám kiến trúc sư có lãnh đạo Bộ Giao thông Công chính, đại diện Ban Chấp hành lâm thời Hội Văn nghệ Việt Nam và chính quyền địa phương. Sau lễ chào cờ, Hội nghị đã dành một phút mặc niệm tưởng nhớ KTS Huỳnh Tấn Phát đã bị giặc bắt và ám hại ở Nam Bộ (5). Bộ trưởng Trần Đăng Khoa đọc diễn văn khai mạc và đọc thư của Hồ Chủ tịch gửi Hội nghị Kiến trúc sư. Trong mấy ngày làm việc, các kiến trúc sư đã thảo luận và nghiên cứu lời dạy của Bác trong thư gửi giới nghề. Coi đó là ngọn đuốc soi đường cho kiến trúc sư vươn lên phục vụ đất nước. Các kiến trúc sư thảo luận tài liệu: "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi" của đồng chí Trường Chinh và bàn kỹ về khẩu hiệu: "Khoa học hoá, Đại chúng hoá, Dân tộc hoá". Đồng thời thảo luận kế hoạch và chương trình làm việc của các phòng kiến trúc ở các liên khu vừa được Bộ thành lập. Các phòng kiến trúc phụ trách hai việc chính là:
-" Nghiên cứu và thiết lập kiến trúc để kiến thiết thôn quê và thành thị.
- Tìm phương hướng để thực hiện dần dần công cuộc cải thiện đời sống nhân dân, về phương diện kiến trúc trong khắp thôn quê
".
Sáng ngày 27-4-1948, Hội nghị chính thức thành lập Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam. Ra mắt Ban Chấp hành đầu tiên gồm ba kiến trúc sư, Tổng Thư ký: Hoàng Như Tiếp ( Liên khu I ), Phó Tổng Thư ký: Trần Hữu Tiềm ( Liên khu III ), Uỷ viên: Tạ Mỹ Duật ( Liên khu X).
Sau ngày hoà bình lập lại, ở miền Bắc, 16 kiến trúc sư từ chiến khu trở về tiếp quản Nha Kiến trúc của chế độ cũ ở Hà Nội. Trong Thành chỉ còn lại 4 kiến trúc sư: Nguyễn Xuân Phương, Đoàn Ngọ, Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Ngọc Diệm. Với 20 kiến trúc sư đã đoàn kết một lòng, thực hiện lời dạy của Bác Hồ, từng bước hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, xây dựng miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa.
Theo lời kể của KTS Nguyễn Cao Luyện với tôi năm 1984 thì đầu năm 1957 một số kiến trúc sư có bàn về tổ chức Hội nghị Kiến trúc sư lần thứ II, KTS Nguyễn Cao Luyện đề xuất họp vào ngày 26, 27-4-1957, đúng ngày sinh nhật tròn 9 năm sau Hội nghị Thản Sơn, đây là ý kiến hay, được đồng tình và thực hiện.
Một nguồn đáng tin cậy nữa là trong Thư viện Quốc gia còn lưu trữ Tạp chí "Văn nghệ", số 3, tháng 6&7 năm 1948, phần " Tin văn hoá" có một đoạn như sau:
" . Chính phủ đã đặt ở nhiều Liên khu những phòng Kiến trúc do sự cộng tác của Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam.
Bộ Giao thông Công chính cùng Hội nghị Kiến trúc sư toàn quốc họp những ngày 21, 27 tháng 4 năm1948, đã thảo luận kế hoạch và chương trình làm việc.
Các phòng kiến trúc ấy phụ trách những việc sau này:
1.Nghiên cứu và thiết lập những đề án kiến trúc để kiến thiết thôn quê và thành thị.
2.Tìm phương kế để thực hiện dần công cuộc cải thiện đời sống nhân dân,về phương diện kiến trúc trong khắp thôn quê".

Những tư liệu trên đây theo tôi là đáng tin cậy để khẳng định ngày 27-4-1948 là ngày thành lập Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam tức Hội Kiến trúc sư Việt Nam ngày nay, nên lấy ngày này là ngày truyền thống của Hội Kiến trúc sư Việt Nam nhân dịp sắp kỷ niệm 60 năm thành lập Hội (1948-2008)./.

Hà Nội ngày 27 tháng 3-2007
KTS ĐOÀN ĐƯC THÀNH
(Tạp chí Kiến Trúc, Số 144, 4-2007)

---------------------------
(1)Báo cáo 10 năm hoạt động tại Hội nghị Kiến trúc sư toàn quốc lần thứ II.
(2)Bút danh của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng.

Nhìn xuống chân Tháp Rùa

Hồ Gươm được ví như lẵng hoa tươi giữa lòng Hà Nội, trong lẵng hoa ấy nổi bật một đoá sắc màu đẹp nhất, gây ấn tượng nhất – Tháp Rùa.
Vẻ đẹp của Tháp Rùa được tăng lên bởi gắn với không gian, thời gian, mặt nước, cỏ cây và môi trường chung quanh. Cảnh sắc nơi đây biến đổi liên tục qua nhiều chiều, nhiều góc cạnh theo tiết trời Xuân - Hạ - Thu - Đông; mỗi tháng, mỗi ngày có sắc thái riêng; trong ngày, sáng - trưa - chiều - tối biến đổi từng phút, giây. Chút nắng, chút mưa, sương giăng, gió thổi, mây bay qua mặt hồ – nơi Tháp Rùa soi bóng, đều tạo nên những hình ảnh đặc sắc, không gian cảm thụ sinh động, đặc trưng cho Hà Nội, biểu tượng của giá trị tinh thần và thẩm mỹ.
Ban ngày là thời điểm Tháp Rùa đẹp nhất, có nhiều người ngắm nhìn ngưỡng mộ nhất. Vừa mới lạ vừa thân quen, giây phút nào cũng thu hút người đến chiêm ngưỡng, tây có, ta có, người xa, người gần hễ đã đến Hà Nội đều ghé qua ghi hình, chụp ảnh kỷ niệm.
Gò Rùa như cái đế, cái nền của Tháp Rùa, đế có đẹp có đằm khoẻ mới tôn vẻ đẹp thanh tao của tháp.
Một thời người ta trồng liễu trên Gò Rùa, cây và tháp tranh chấp nhau, liễu mọc càng cao càng lấn át vẻ đẹp của Tháp Rùa, dư luận không đồng tình, may thay đã sớm chặt cây đi, trả lại cho gò thảm cỏ dày xanh rờn như xưa.
Để làm cho Tháp Rùa đẹp thêm về đêm, người ta lắp hệ thống đèn pha ở ngay trên Gò Rùa. Đèn chỉ bật sáng vào những dịp lễ tết hoặc thứ bảy, chủ nhật, còn ngày thường thì vẫn tối om.
Tuy vậy, chỉ vì ham làm đẹp Tháp Rùa trong một vài giờ ban đêm mà lại làm xấu đi cả một chuỗi thời gian dài ban ngày. Những chiếc đèn pha đen chũi nhô lên một cách thô thiển trên Gò Rùa, là hình ảnh gây phản cảm, làm mất đi vẻ đẹp thơ mộng vốn có, làm khó chịu biết bao người mỗi khi phải ngắm nhìn Tháp Rùa trên cái nền nham nhở ấy. Cũng may cỏ mọc cao dần che khuất đi những hộp đèn kệch cỡm ấy, nhưng cũng chỉ được một hai tháng, người ta lại xén cỏ đến tận gốc, lại trơ ra những chiếc đèn pha đen chũi. Tình trạng này đã lặp đi lặp lại, kéo dài nhiều năm rồi, không ai chăm lo để ý.
Có lẽ, đã đến lúc cần phải có bàn tay khéo léo của người nghệ nhân làm vườn, một đôi mắt nghệ thuật tinh tường để chăm sóc cho vạt cỏ Gò Rùa luôn mọc đều, xanh tươi, cao dày để che khuất đi những chiếc đèn pha đen chũi mà vẫn có được ánh sáng đẹp về đêm./.

KTS ĐOÀN ĐỨC THÀNH
(THỂ THAO&VĂN HOÁ Cuối tuần,số 17, ngày 23-11-2007)

Mái nhà hay tầng nhà?

Mươi năm gần đây Hà Nội bỗng rộ lên cái mái mansarde, một loại mái lợp cho những công trình công cộng du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu người Pháp mới sang khai phá nước ta. Có điều người Pháp làm mái này để cách nhiệt, lợp bằng đá phiến (ardoise) màu đen mang từ nước họ sang, độ cao vừa phải, tỷ lệ với toàn bộ công trình, ở đó có những lỗ thông hơi theo kiểu “mắt bò” trông đẹp, thể hiện theo phong cách kiến trúc thời đó.
Ngày nay, ở những địa điểm nhạy cảm, Nhà nước ta khống chế chiều cao nhà. Có điều sơ hở là không khống chế đỉnh mái, mà chỉ quy định chiều cao không vượt quá đuôi mái, sênô (máng nước). Nhiều chủ đầu tư muốn có thêm tầng, tăng thêm diện tích sử dụng, thế là phối hợp với KTS thiết kế tung ra một chiêu lừa… Nhà nước rất “ngoạn mục”. Cả “thượng đế”, cả KTS cùng hài lòng: vừa có “kiến trúc Pháp” theo yêu cầu, vừa có nhiều diện tích sử dụng như ý, KTS thì đầy hầu bao mà chẳng phạm quy chút nào. Đấy là cái mái mansarde trong những công trình công cộng, không những làm tăng thêm diện tích như một tầng nhà, thậm chí như 2-3 tầng nhà. Tầng mái này đúc tường và sàn bằng bê tông vững chãi, chỉ khác là tường hơi xiên một chút. Cũng cửa sổ đàng hoàng, song nhỏ và khác đi một chút cho khỏi lộ, Không có đá phiến thì thay bằng tôn xanh đỏ hoặc sơn đen để cho thật giống cái mái thời xưa. Ở Hà Nội, thời nhà kiến trúc N làm “nhạc trưởng”, ông cho xây dựng đại trà kiểu mái này, nhiều đến mức người dân Thủ đô nhìn mãi quen cả mắt.
Mãi rồi cũng thành mốt, mốt thời thượng hẳn hoi. Chẳng thế mà ở tỉnh Y miền núi phía Bắc không hề có quy định khống chế chiều cao nhà, song các công sở lớn nhỏ bắt chước Thủ đô đồng loạt làm mái mansarde ốp tôn xanh đỏ loè loẹt. Thậm chí còn làm mái giả, chỉ là một bức tường nghiêng gắn tôn, cũng cửa sổ đàng hoàng, đứng dưới nhìn qua thấu tận trời xanh.
Không biết “kiến trúc Pháp” với cái mái mansarde rởm rồi đây sẽ lan toả đến đâu, một khi đã thành mốt và được nhiều “quan trí” Việt Nam thích nó. Những người tâm huyết với nền nghệ thuật kiến trúc nước nhà thì cảm thấy đau lòng, vì biết rằng ở thế kỷ 21 trên thế giới này vẫn còn một nơi duy nhất níu kéo một phong cách kiến trúc lỗi thời hàng thế kỷ./.

KTS ĐOÀN ĐỨC THÀNH

Hồ Gươm còn một chút này

Thật là xót xa cho cảnh quan gần, cảnh quan xa bao quanh Hồ Gươm. Giờ đây, đứng từ ven hồ phiá Tây nhìn sang phía Đông Hồ Gươm ta thấy quá nhiều công trình kiến trúc mới xây dựng có khối và diện quá cao lớn rộng dài, lấn át không gian, làm mất đi vẻ đẹp thơ mộng và cái hồn thiêng vốn có của Hồ Gươm - một di sản quý báu của ông cha ta để lại từ ngàn xưa.
Kề sát bên đường Đinh Tiên Hoàng ở ven hồ có toà nhà Bưu điện 5 tầng, tiếp đến toà Trụ sở UBND thành phố Hà Nội, nhà “Hàm cá mập” án ngữ góc đầu phố cổ, những công trình này đã phá vỡ cận cảnh ven hồ. Xa hơn một chút là hai toà nhà cao ngất ngưởng (Vietcombank và Tungshing Square) cũng đã tàn phá viễn cảnh Hồ Gươm một cách không thương tiếc, trông nó đơn phương, lạc lõng như những cái cọc khổng lồ đóng thẳng vào lòng khu phố cổ Hà Nội.
Thiết tưởng, do trình độ con người còn ấu trĩ nên những năm qua Hồ Gươm bị phá nát cảnh quan đến như hôm nay là đã quá nhiều rồi. Hồ Gươm còn một chút này. Lúc này cần xem xét lại những gì được thì phát huy, đầu tư bổ sung thêm những tác phẩm có giá trị thẩm mỹ, phục vụ dân sinh và du khách đến với Hà Nội nghìn năm. Cái chưa được thì chỉnh sửa sao cho đẹp, hơp với lẽ đời. Nhưng nhiều người nắm quyền vẫn coi những mất mát của cảnh quan Hồ Gươm lâu nay chưa bõ bèn gì, nên đã và đang tiếp tục làm cho tổn thương thêm.
Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội chỉ còn hai năm nữa bước vào 1000 năm tuổi, Hà Nội đang xây dựng gấp gáp hàng loạt công trình kỷ niêm sự kiện này. Toàn cảnh chưa rõ ra sao, song hãy thử nhìn vào dự án “có một ý nghĩa rất quan trọng trong sự kiện kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội của đất nước và dân tộc”(*) ở phía Đông Hồ Gươm đã được UBND thành phố Hà Nội và Bộ Xây dựng bật đèn xanh cho xây dựng thì không ít người ngỡ ngàng, bàng hoàng về một tư duy khó hiểu khi cho xây công trình này.
Dự án Trung tâm Tài chính và Thương mại EVN (EVN Financial and Commercial Center) ở 69 Đinh Tiên Hoàng sắp được xây dựng nay mai – một dự án mới phát sinh, không hề có trong quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt chắc sẽ còn làm cho những ai nặng lòng với Hồ Gươm sẽ đau lòng hơn. Dự án này do KTS người Hàn Quốc thiết kế, được Hội đồng Giám khảo chấm giải A trong một cuộc thi tuyển chọn mới đây (theo kiểu chọn bó đũa lấy cột cờ).
Toà nhà xây dựng trên khu đất 14.772 mét vuông, án ngữ toàn bộ một đầu 3 phố lớn là Đinh Tiên Hoàng, Trần Nguyên Hãn và Lý Thái Tổ. Mặt đứng nhìn ra mặt Hồ Gươm là một khối kiến trúc dày đặc, nặng nề, dài gấp mấy lần nhà Bưu điện Bờ Hồ (105m), mặt ngoài cao 5 tầng (21m), mặt trong giáp phố Lý Thái Tổ chồng cao thêm 8 tầng, tính từ mặt đất cao tới 54m (dưới đất còn có 5 tầng ngầm). Mặt phố Trần Nguyên Hãn cũng là một khối kiến trúc dày đặc, có chiều dài và cao tương tự.
Với những thông số nêu trên đây cho thấy sau khi toà nhà này xây dựng thì phía Đông Hồ Gươm sẽ tạo thành một bức tường thành dài bưng kín không gian, ngăn cản tầm nhìn vốn thoáng rộng. Không còn đâu nữa khung cảnh Hồ Gươm với sắc màu huyền ảo xa xăm, không còn nữa cảnh mặt trời nhú mọc từ răng cây đằng Đông trên Tháp Rùa.
Ai khẳng định được đây là công trình cao rộng cuối cùng bao quanh Hồ Gươm? Với cơ chế này sẽ còn bao nhiêu nhà đầu tư trong và ngoài nước trường vốn hơn, chỉ thích xây nhà thật cao quanh Hồ Gươm, không lẽ những người cầm “công tắc” cứ chỉ biết bật đèn xanh? cho nhà xây cao cao mãi?
GS Hà Đình Đức vừa phon cho tôi, ông lo cho Cụ Rùa lắm! Cứ cái đà này khéo chừng Hồ Gươm sẽ bị nhà che mất nắng, Cụ Rùa sống thiếu nắng liệu có sống được không?
Xây dựng dự án này thiết nghĩ cũng cần cân nhắc nhiều đến mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, quan trọng là bảo tồn nhà máy điện Bờ Hồ – cái mốc của Hà Nôi có điện và những cây cổ thụ chung quanh thế nào. Đặc biêt là phá huỷ hàng loạt công trình có tỷ lệ vừa phải hợp với không gian Hồ Gươm là một sự lãng phí không cần thiết…

KTS ĐOÀN ĐỨC THÀNH
(Bản thảo lần đầu)
_____________________
(*) Trích công văn của EVN gửi Cty Điện lực Hà Nội ngày 24-8-2007

Xin mời click vào đường link dưới đây xem tổng mục lục blog doanducthanh:
http://blog.xalo.vn/ketqua.blog?Q=15_username%3Adoanducthanh_1a_my.opera.com%2Fdoanducthanh%2Fe__1____6__
December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31