My Opera is closing 3rd of March

Viết về người hàng xóm mê muội tuyệt vời của tôi

Tết, lại nhớ anh Năm
(Viết về người hàng xóm mê muội tuyệt vời của tôi)
Tản mạn của Đỗ Doãn Hoàng
1. Cánh đồng lại sặc sỡ sắc màu áo quần mùa đông của rất nhiều người làng Bần đang cày ải gieo cấy. Tôi nhìn thấy hương vị Tết qua cái màu sậm sùi rét mướt ấy. Tết về cả trong những khoảnh ao làng cạn trơ đáy loi thoi người bắt cá, mua bán cá và cả lũ trẻ quần cộc chầu chực để hôi cua cá hến ốc trai trai trùng trục ấy. Tôi đã có ngót chục mùa xuân xách giỏ đi hôi cá như thế để rồi chuyển khẩu về Hà Nội. Mỗi năm về quê một đôi lần, thường kỹ càng hơn cả là vào dịp Tết.

Thằng bé ngày xưa mình bế nó mãi, giờ đã học lớp 10. “Thằng Ngọc Anh, mày lớp bốn chưa?”. “Cháu lớp 10 rồi, có gái theo rồi chú ạ - mẹ nó thở dài – nhanh quá, thoáng cái chị đã nhàu”. “Nhà anh Năm sao vắng ngắt, cỏ mọc bít cả cổng thế này?”. “Ơ, chú ấy chết rồi. Đâm vào ôtô, nửa tháng sau làng mới biết chuyện. Lúc đâm, công an người ta đến, không có giấy tờ gì, cũng không biết người ở đâu. Người ta chôn xanh cỏ rồi nhà ông Minh mới biết, đến nhận, nó đền cho 28 triệu”.
Tôi giật mình, anh Năm làm gì biết đi xe máy, làm gì có việc gì ra khỏi làng mà mà đâm được vào ôtô cơ chứ? Anh suốt một đời trẻ con, hình như thế. Bởi đầu óc anh, dù rất láu lỉnh nhưng nó có một cái gì đó không bình thường. Anh cao lêu đêu, chân đi vòng kiềng, đầu to. Lúc tôi học lớp một thì anh đã bỏ học từ lâu, anh thiết kế những phi vụ ăn trộm táo, ăn trộm hành ở vườn các cụ (vườn cây ăn quả do các cụ trồng, xưa, có cả phong trào làm vườn các cụ, như kiểu trẻ em có phong trào làm kế hoạch nhỏ ấy) về rồi cùng đám trẻ chúng tôi nấu nướng, sì sụp ăn… rất giỏi. Có lần anh đã vô tình để tôi bị các cụ già tóm được. Nhà tôi đông anh em, bố cứ vin cái câu “giày thừa dép thiếu” của dân gian để mua cho tôi những đôi giày rất rộng. Thật ra là ông tiết kiệm, ông sợ tôi lớn, chân to ra mà đôi giày vẫn tốt thì phí của giời. Hôm ấy, đi đôi giày rộng thuênh, chúng tôi chui khe cửa gỗ vào vườn vặt táo. Lúc các cụ đuổi, tôi chạy thục mạng. Dẫm vào một bãi bùn nhão. Bên chân với chiếc giày to rộng bị mắc luôn trong bùn. Tôi chạy một đoạn, sợ mất giày, mới quay lại lấy. Và bị cụ Bạ Bi (trước cụ làm chức Trưởng bạ trong xã, giống như cán bộ địa chính bây giờ ấy) tóm được. Hôm ấy, bố tôi được dịp đài xã bêu trên loa là có con trai đi ăn trộm táo trong vườn các cụ. Anh Năm lên xin lỗi bố tôi, bố mắng anh “mày to đầu mà dại. Các cụ bảo chớ có sai: to đầu thì dại, to… thì khôn”. Nói tục xong một câu, bố tôi có vẻ hả hê và quên béng chuyện dại dột của đám trẻ ăn trộm táo. Giống táo Thiện Phiến bấy giờ đang là mốt “cây đặc sản” ở quê tôi, bố rất khoái ăn. Và quan điểm của bố, trẻ con đứa nào chả ăn trộm quả xanh, uống nước lã! Nhưng bố thì dù thoáng vậy, song vẫn không quên quân phiệt, thương cho roi vọt. Anh Nam ra vẻ người lớn, nằn nì xin tha đánh đòn cho tô. Tôi dũng cảm bảo, “Anh kệ bố em, anh xin thì em chỉ được tha lúc có anh ở đấy thôi. Lúc anh về, bố em vẫn đánh. Chẳng thà để em nằm ra làm mấy con chạch luôn...”.
Xong, tôi đau quắn đít. Anh cười khì khì rủ tôi đi đánh đáo.
2. Tôi luôn nghĩ rằng, anh có thể muôn đời không cần đi học, mà vẫn giàu. Anh sống bằng cách đánh đáo. Anh cầm đồng tiền một đồng tròn xoe sáng loáng. Anh nghiêng đầu, hiếng mắt nhòm theo đồng tiền xu, “đánh”một phát là trúng một đồng tiền khác nằm lạnh ngắt trong đất bột trung du ở tít đằng xa. Anh đánh đáo, bao giờ cũng vét hết tiền của thanh thiếu niên cả xóm.
Lúc tôi đi đại học rồi, nghe nói anh đột nhiên tự cho rằng mình có căn số thế là mở điện thờ (lên đồng) nhảy múa rất xôm trò. Cũng kiếm được tiền nuôi vợ, con. Anh gặp tôi, vẫn rủ rỉ trò chuyện. Điều kỳ lạ là thờ thánh đỏ đèn suốt đêm ngày, nhưng anh vẫn rất trẻ con. Anh bảo, độ này học thêm cả võ nữa. Anh múa võ, chân tay dài ngoằng, khệnh khạng đi quyền trông rất hài hước. Cái đầu anh to, di chuyển rất chậm, trông giống như một con rùa bị ốm đang lổm ngổm bò. Đột nhiên anh hét lớn, nhảy phốc lên đá song phi ào ào. Vèo! Chiếc dép tông Lào tuột khỏi bàn chân giao chỉ của anh bay vút lên ngọn tre. Rồi mất luôn trong đó. Tôi cười hinh hích, anh nghiêm giọng: “Mày ăn trộm táo được, chứ đếch học võ được. Người nhà võ nó phải bình tĩnh, nghiêm túc”. Bố tôi đi qua bảo, “thằng ấy nó bị hâm đấy”. Anh Năm cười ruồi: “Ông này ăn nói linh tinh. Chuyện thật lại cứ đem ra đùa”. Anh nói như người bình thường.
3. Bây giờ thì anh đã chết, một cái chết thảm sầu. Cả làng cả nước, cả chị vợ nặng ba lăm cân của anh đều kể một câu chuyện giống nhau. Anh Năm đẻ được 3 đứa con, trong lúc làng xóm giàu lên trông thấy thì kinh tế nhà anh vẫn nghèo y như ba năm về trước. Con gái anh mắt tròn, nhanh như sóc, chỉ có điều bố hâm hâm, mẹ mi-ni một cách kỳ dị, nên nó rất mặc cảm. Cả ngày không ai cạy răng nó được một câu. Lần nào tôi về quê cũng thấy nó tha thẩn ở đống xỉ than mà bác ruột nó vẫn nghiền ra để đóng gạch kiếm ăn. Bác nó là một người câm bẩm sinh, ngoài năm mươi tuổi mà vẫn lơ ngơ như trẻ lên mười. Đẻ đến đứa thứ ba thì căn số trong con người anh Năm thông báo, cháu sẽ bị chết (?). Anh đi xem bói, bọn đồng cốt phán rằng, con anh sẽ ốm thập tử nhất sinh rồi sẽ chết, nếu như anh không lễ lạt xin xỏ tốt thì hoặc là nó chết, hoặc là đích thân anh phải chết thay cho cháu. Anh Năm rất lo lắng, anh phấn đấu mãi để có được một đứa con trai. Đến một hôm cháu ốm nặng phải đi viện. Bác sỹ bảo cháu phải uống thuốc và dùng nước âm ấm mới đảm bảo sức khoẻ. Vợ chồng anh không có tới cả cái phích đựng nước nóng đem xuống bệnh viện chăm con. Anh Năm bán lúa non, cắm đất lấy tiền chữa cho con, nhưng bệnh tình không thuyên giảm. Đến một hôm anh ngồi sửa chữa chiếc xe đạp cọc cạch rồi áo quần chỉnh tề chào hàng xóm láng giềng, an ủi vợ con rồi lên đường. Vợ khóc ngăn lại, anh lạnh tanh bảo, đi lấy thuốc cho thằng cu, khóc lóc cái chó gì.
Anh đi và từ bấy không một ai ở làng Bần nhìn thấy anh nữa. Năm hôm, rồi nửa tháng, thằng bé vẫn được điều trị cầm chừng trong sự túng quẫn của chị vợ anh Năm. Trời thương người cùng khốn, rồi đến lúc tự nhiên thằng bé khỏi bệnh.
4. Đó cũng là lúc có bà bán bánh mỳ rong đi qua ngõ kể câu chuyện bà trông thấy, có một người đàn ông lòng khòng bà trông rất quen nằm chết ở ven đường quốc lộ. Công an, bác sỹ người ta mổ khám, người ta bắt giữ lái xe nhưng không tài nào biết được tý gì về người đàn ông xấu số. Lái xe bảo, anh ta đâm đầu vào ôtô một cách quyết liệt, hình như đó là sự lựa chọn của anh – nhưng chẳng ai tin lời chú tài xế cả.
Sau này, vợ anh Năm xem ảnh chụp thi thể người chết rồi nhận 28 triệu tiền “bồi thường” của nhà xe. Hơn ai hết chị vợ anh Năm, và cả xóm tôi đều biết chuyện anh Năm đi chết để thế mạng cho thằng con trai tội nghiệp của anh. Anh đã lo lắng quá nhiều, đã nghĩ quá nhiều trước lời phán: cần phải thế mạng ông bố vào thì Quỷ nó mới tha mạng cho đứa con bệnh tật.
Có người bàn tán rằng, anh Năm đã tính trước được cả khoản tiền “đền” giúp chị nuôi con - tôi không tin điều đó. Tôi tin, anh đã rất yêu con, một tình yêu tuyệt vời, pha chút ma tà đồng cốt nhưng cũng không vì thế mà không đẹp. Anh đã mù quáng, đã quên mình vì con, đã cất lên một khúc ca buồn bã về tình phụ – tử như thế; thì không có cớ gì anh lại còn nghĩ đến món tiền đền mạng kia nữa. Nếu biết tính như thế, anh đã chẳng tìm đến cái chết. Làng tôi cứ cãi nhau, tranh luận mà bất biết đến cái đói khổ vẫn tiếp tục hành hoành cùng cuộc sống vốn đã tận khổ nay nay lại thành vợ góa con côi của anh Năm. Nhưng rồi cũng chẳng ai nhắc đến cái chết ấy nữa. Ngay cả việc vợ anh Năm bị nhà chồng thu lại nhà cửa, đành bỏ xứ lên quê ngoại tá túc qua ngày cũng chẳng làm ai để ý. Nếu tôi không vô tình mắc phải thảm cỏ bời bời lấp lối vào sân vào cổng nhà người đàn ông to lớn suốt đời thơ ngây ấy thì cũng chẳng ai hỏi đến anh Năm. Mà tôi hỏi đến rồi tôi cũng chỉ xót lòng được một chốc rồi Đời lại cuốn tôi theo guồng quay của nó nơi phố thị. Phố lạnh và bạc.
Tít nơi xa xôi quê ngoại nào đó, chị vợ anh Năm vẫn mi-ni một cách kỳ dị như thế, bé Hằng - con gái anh Năm vẫn câm lặng, xinh xẻo, lẫn vào trong bùn đất như thế. Không, tính tuổi ra, năm nay cháu qua tuổi dậy thì đã được 3 năm rồi. Nghe đồn, mẹ nuôi cháu như nuôi cỏ, nhưng lớn lên bé Hằng đã được trời đúc thành hoa - nó đẹp một vẻ đẹp rờ rỡ, thách thức. Bao giờ tôi mới dứt ra một ngày để tìm đến thăm họ, những người hàng xóm mến thương và tội nghiệp của tôi?

Tản mạn về kèn đám maNhững giấc mơ nhắc nhớ...

Comments

Unregistered user Tuesday, August 21, 2007 7:20:30 AM

Anonymous writes: ông này có chất văn gần giống Hồ Dzếnh

Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang Friday, August 24, 2007 4:01:59 PM

Tôi nghĩ là tôi giống như một người già, rất già. Râu tóc trắng như cước, nhìn đời có có không không, như AQ, như Chí Phèo, lại như Đônkihote; đi guốc mộc về làng, và “đào hoa y cực tiếu đông phong” (hoa đào năm ngoái còn cười gió đông). Thật ra thì hiện tại, quá khứ, quá cũ và quá mới ở làng tôi luôn cho tôi cảm giác hoài cổ, u hoài đó – dù tôi chưa già, vừa chưa bao giờ tôi lại dám nghĩ mình có thể già. Tôi biết anh Năm đã sai, nhưng dẫu sao tôi cũng ghi nhận sự mê của anh có cái gì đó giống như sự tuyệt đích của tình phụ tử. Rất buồn phải không Ngọc?

Đỗ Doãn Hoàngdodoanhoang Friday, August 24, 2007 4:02:32 PM

Tôi thích ông Hồ Zếnh ở cái đoạn “Chân trời cũ” rồi lại cái câu, ý là (tôi không nhớ rõ): “Tôi là người lữ khách/ Màu chiều khó làm khuây/ Nhớ nhà châm điếu thuốc/ Khói huyền bay lên cây/ Khói huyền bay lên mây” (tôi nghĩ tôi đã trích sai ở nhiều chữ). Nó có cái gì đó giống với: “Chiều nay – thương nhớ nhất chiều nay/ thoáng thấy bóng em trong cốc rượu đầy/ anh uống cả em và uống cả/ một trời quan tái mấy cho say . Uống rượu lắm chỉ tổ hỏng gan. Nhưng đàn ông trên thế gian này vẫn chưa bao giờ họ nghĩ rằng họ thiếu được rượu. Có rượu họ đã khổ vậy, nhà nước cấm rượu thì biết sống làm răng (sao)?
February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28