Vẫn đeo đẳng với số phận chẳng giống ai của các quan lang xứ Mường:
Friday, October 2, 2009 3:00:24 AM
Viết tiếp loạt bài “Chuyện ít biết về dòng dõi quan lang xứ Mường”:
Họ đã xứng đáng với niềm tin của Đảng và Bác Hồ...
Các bài đã đăng:
http://www.laodong.com.vn/Home/Chuyen-it-biet-ve-dong-doi-quan-lang-xu-Muong/20099/156145.laodong
http://www.laodong.com.vn/Home/Tieu-doan-mang-ten-nguoi-nha-lang/20099/156286.laodong
http://www.laodong.com.vn/Home/Nguoi-cua-nhung-huyen-thoai/20099/156451.laodong
http://my.opera.com/dodoanhoang/blog/show.dml/4367799
http://antg.cand.com.vn/vi-vn/phongsu/2009/4/69136.cand
http://antg.cand.com.vn/vi-vn/phongsu/2009/4/69162.cand
Sau khi báo Lao Động đăng tải liên tiếp 3 kỳ phóng sự “Chuyện ít biết về dòng dõi quan lang xứ Mường” (từ số báo 212 ra ngày 21/9/2009), toà soạn đã nhận được nhiều ý kiến, tư liệu, đánh giá của các chuyên gia và độc giả. Ban Quản lý di tích danh thắng tỉnh Thái Nguyên đã tiếp nhận các tài liệu mà PV đã dày công sưu tầm khi thực hiện các bài viết, đặc biệt nhấn mạnh đến các tư liệu, thư từ, giấy khen, quà tặng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trao cho những “người nhà lang” theo cách mạng. Lý do là: toàn bộ các văn bản và “chiến lược dùng người” của Bác mà Lao Động đề cập đều được “phát” đi từ ATK, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
Sau đây, PV Lao Động lược ghi ý kiến của nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Sử học Việt Nam; TS Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh; bà Nguyễn Thị Thi, Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Hoà Bình, cùng nhà cách mạng lão thành Hoàng Ba, người đồng đội năm xưa của ông Đinh Công Đốc..
Viết tiếp loạt bài “Chuyện ít biết về dòng dõi quan lang xứ Mường”:
Họ đã xứng đáng với niềm tin của Đảng và Bác Hồ...
Sau khi báo Lao Động đăng tải liên tiếp 3 kỳ phóng sự “Chuyện ít biết về dòng dõi quan lang xứ Mường” (từ số báo 212 ra ngày 21/9/2009), toà soạn đã nhận được nhiều ý kiến, tư liệu, đánh giá của các chuyên gia và độc giả. Ban Quản lý di tích danh thắng tỉnh Thái Nguyên đã tiếp nhận các tài liệu mà PV đã dày công sưu tầm khi thực hiện các bài viết, đặc biệt nhấn mạnh đến các tư liệu, thư từ, giấy khen, quà tặng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trao cho những “người nhà lang” theo cách mạng. Lý do là: toàn bộ các văn bản và “chiến lược dùng người” của Bác mà Lao Động đề cập đều được “phát” đi từ ATK, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay.
Sau đây, PV Lao Động lược ghi ý kiến của nhà sử học Dương Trung Quốc, Tổng Thư ký Hội Sử học Việt Nam; TS Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh; bà Nguyễn Thị Thi, Giám đốc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Hoà Bình, cùng nhà cách mạng lão thành Hoàng Ba, người đồng đội năm xưa của ông Đinh Công Đốc...
Chú thích ảnh: Vì có những đóng góp lớn trong Chiến dịch giải phóng Hoà Bình, năm 1952, dòng họ Đinh Công ở Mường Động (dòng họ của Đinh Công Huy và Đinh Công Niết...) đã được Uỷ ban Liên Việt tỉnh Hoà Bình tặng một bức ảnh chân dung Bác Hồ. Hiện gia đình đang treo ở nơi trang trọng nhất.
Trước tiên, xin được "rộng đường" nói thêm về các góc nhìn, các "chính sử" và biên niên sử diễn ca, thậm chí cả các tư liệu cá nhân của người nhà lang viết lại... xung quanh vấn đề đang "dở chuyện":
(Công bố “chay” thế này thấy tiếc lắm, vì đi sưu tầm khá vất vả đấy chứ, nhỉ

Vài dòng về số phận các quan lang xứ Mường trước Cách mạng Tháng Tám
(Trích di bút – một cách nhìn - của ông Đinh Công Niết, chuyên viên hưu trí, ủy ban dân tộc Trung ương, người Mường duy nhất mang tên một Tiểu đoàn và đồng thời là tiểu đoàn trưởng văn võ toàn tài chính cái tiểu đoàn Đinh Công Niết đó)
Ông Niết viết:
Ba dân tộc Mường, Thái, Thổ đứng đầu từng vùng đều có các lang đạo cai quản cha truyền con nối. Về đất đai cư trú đều phải lệ thuộc vào các nhà lang đạo, tổng lý từng nơi.
Âm mưu của Đế quốc Pháp với các vùng dân tộc rất thâm độc: sau khi bình định xong vùng xuôi, chúng đem quân lên miền núi đánh giết các lang đạo chống đối chúng. Năm 1886, chúng thành lập tỉnh Mường (Province Mường) ở Chợ Bờ, chúng đưa tên Đinh Văn Vinh ở vùng Ba Vì (Sơn Tây) lên làm Tuần phủ (như là Tỉnh trưởng) để trị một số lang đạo chống đối còn lẩn trốn trên núi. Quyền lợi của lang đạo địa phương bị lung lay, nhân thời gian này có ông Đốc Ngữ (Nguyễn Văn Ngữ) ở vùng xuôi lên tuyên truyền kêu gọi chống giặc Pháp cướp nước. Một số nhà lang như Lãnh Vang (Quách Cưu) ở xã Trung Hoàng (nay là xã Tân Lập, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình), Đinh Công Ước (lang Mường Tút, nay là làng Thịnh Lang, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình) nổi lên theo ông Đốc Ngữ, đánh phá tỉnh Bờ, giết tên Ru dơ ri (Raugeri) và Tuần phủ Đinh Văn Vinh. Sau đó, Quách Cưu chạy lên rừng núi ẩn náu, còn lang Mường Tút là Đinh Công Ước bị bắt, giặc Pháp đem hành hình ông ở bãi Cánh Chim bên cạnh Thác Bờ.
Sau vụ này, thực dân Pháp thay đổi sách lược, không lấy quan lang địa phương lên làm Chánh lang nữa. Chúng rời “tỉnh lỵ” xuống xã Hòa Bình, lấy luôn tên tỉnh là tỉnh Hòa Bình, còn ở các châu, chúng lấy những tên lang đạo nào có uy tín ở vùng đó lên làm chức tri châu và phó tri châu, chúng thả lỏng cho các lang này được hưởng một số quyền lợi: như chiếm ruộng đất mở rộng vùng cai quản, gây ra sự mâu thuẫn giữa các nhà lang với nhau vì sự chiếm đoạt này.
Vài chục năm sau, thực dân Pháp thấy chế độ lang đạo rất cản trở cho sự bóc lột thống trị của chúng, nên chúng đã thực hiện âm mưu rất thâm độc là làm trụy lạc các tay sai (lang đạo) bằng rượu chè, cờ bạc, trai gái, rồi đưa tất cả ra xử lý, sa thải…; đồng thời lợi dụng đạo Gia tô, bằng cách đưa các cố đạo vào tuyên truyền chống các nhà lang. Đưa dần các tên tay sai người Kinh lên thay thế dần các nhà lang ở tỉnh và huyện, đề cao vai trò tổng lý, tước dần quyền hạn của nhà lang. Quan lại hồi này chỉ là bù nhìn, làm bung xung cho tổng lý, không có quyền lực gì nhiều nữa.
Trước tháng 8 năm 1945, tỉnh Hòa Bình không phải xã nào cũng có lang đạo cai quản, và phương thức bóc lột của các nhà lang cũng không giống nhau ở các địa phương (xã). Ở các vùng tiếp giáp với vùng xuôi, chế độ lang đạo nhạt dần, chứ không giống như ở vùng trên. Lang đạo bóc lột theo kiểu phát canh thu tô, hoặc nuôi nhiều con ăn, người ở. Còn tục lệ trong thôn xã, không khác gì vùng xuôi, như: vào đinh, mua ngôi thứ, vào lão, khao vọng, quan viên tế lễ…, hạ thượng điền, mồng một, ngày rằm, tiệc chùa, đình đám… Lang đạo lúc này chỉ còn được hưởng một điểm là khi nào làng xóm có việc khao vọng, tế lễ thì được mời ngồi cỗ trên, hoặc trong các buổi đỏn rước thì đứng hàng đầu. Do vậy một số lang đạo muốn vớt vát chút ít quyền lực thì phải lo chạy vạy nhảy vào làm tổng lý. Thời kỳ chế độ lang đạo còn thịnh hành, nơi nào lang đạo tàn bạo, nông dân làm “cụ lão” phải bỏ lang này đi theo lang khác. Hoặc đi theo đạo Gia tô. Cũng có trường hợp người ta đứng dậy đoàn kết giết chết lang, như ở thôn Sì, Riệc, xã Văn Lãng, châu Lạc Sơn (dìm chết lang Quách Hồng, bắn chết lang Quách Thượng).
(Nhưng, cũng có những nhà lang, con cháu nhà lang thật oai dũng, chí khí, không chấp nhận sống nhàn nhạt vô nghĩa – như những gì mà loạt bài này đang đề cập).
Trích trong tác phẩm “Hòa Bình quan lang lược sử” của học giả Quách Điêu:
“Đời Hùng Vương: Quang lang khởi tổ, từ cuối đời Văn Lang, là những con thứ, cháu thứ nhà vua, được chia phong cho các họ là: Đinh, Quách, Bạch, Hà, Sa, Cao. Sáu họ làm quan Lang, đều đem những người nhà trai gái vào mở mang ruộng vườn, chiêu dân lập ấp, rồi sau con cháu sinh sản nhiều, giàu mãi ra, mới lập nên châu, tổng, xã, thôn. Lúc bấy giờ, họ nhà Lang, cha truyền con nối, đều xưng là Quan Lang, con gái gọi là Mãng Nàng, trên đối với vua, là tình cha với con, dưới đối với dân mường, là nghĩa ông chủ thầy tớ, tình nghĩa yêu mến nhau rất là thân thiết. Lúc ấy, vua ban dạy cho (các quan lang) phép làm tên nỏ độc để bắn những loài ác thú, và dạy chô thuốc đánh bả cá ở suối, và dạy làm chài lưới, cùng làm máy xe quay nước để cấy ruộng (về sau đời Lý, đời Trần, đời Lê đến nay, vẫn còn theo tục ấy mãi mà làm ăn).
(…) Đến Thời kỳ thuộc Pháp, năm Đồng Khánh, các thổ mục quan Lang đều về bái yết, Chính phủ Bảo hộ nhờ ơn hiểu dụ cho được thổ quan trị thổ dân, và nghị định trích lấy những dân Mường, hạt nào đều có quan lang trong các tỉnh, như là: Ninh Bình, Sơn Tây, Hà Nội, Hưng Hóa mà lập ra một tỉnh, trước thì đóng tại phố Phương Lâm, rồi đem rời lên Chợ Bờ (2 địa danh trên đều thuộc tỉnh Hòa Bình ngày nay), đều gọi tên là tỉnh Phương Lâm. Đến năm Thành Thái, lại dời tỉnh lỵ về đóng tại đầu làng Hòa Bình, mới đổi gọi là tỉnh Hòa Bình, gồm thuộc cả 5 châu (là châu Lạc Sơn, Kỳ Sơn, Lương Sơn, Mai Châu, Đà Bắc), 14 tổng, 84 xã dân, đầu tỉnh cai trị có quan (Tuần Phủ) Chánh Quan Lang, dưới có Án sát sư, các châu đều có Chánh, Phó, Tri châu, đẻ mà cai trị việc công, với các Lang dân trong hàng tỉnh.
Chức thổ mục được khai xưng là Thổ Lang và Thổ đạo. Đến năm Duy Tân ở tỉnh lỵ có việc xảy ra (năm 1909, ở làng Mông Hóa, châu Lương Sơn, có người tên là Bùi Văn Kiêm (tức Tổng Kiêm) tự ý mình không chịu thuộc quyền bảo hộ, dụ những nười dân lên đánh lấy tỉnh Hòa Bình, giết hại quan binh, sau Toàn quyền lên kinh lý và hiểu dụ các quan lang nên xuất tài xuất lực, đem dân binh đi đánh, thì bắt được Tổng Kiêm nộp lên Chính phủ trừng trị), quan Toàn quyền, ngài lên kinh lý ở bản tỉnh, lúc ấy các thổ lang đều phải về bái chào hầu việc được hơn 70 ông, đội ơn hiểu dụ cho rằng: những ông Lang nào có tiếng thì đều cho xưng làm chức quan Lang, để hợp lệ cổ, và trong sự thể nữa, lúc này thực là Nhà nước dạy dỗ, khai hóa, ưu đãi cho các Lang dân xứ Mường cũng gần bằng như triều nhà Lê vậy”.
Trước Cách Mạng Tháng Tám, xứ Mường Hòa Bình, cùng với 4 mường: Bi, Vang, Thàng, Động là các dòng họ lớn: Đinh, Quách, Bạch, Hà… nối đời làm Lang cai quản. Đối với từng dòng họ thì con trai trưởng làm Lang Cả, con trai thứ làm Lang em chia nhau đi Ăn Lang (cai quản) từng vùng. Toàn tỉnh có một hội đồng Quan Lang gồm 12 thành viên. Trong đó đứng đầu là Chánh Quan Lang mà quyền thế như ông vua một vùng.
Theo như cuốn “Địa chí tỉnh Hòa Bình” mới xuất bản, thì: “Từ năm 1910 đến năm 1933, Hòa Bình đã trải qua 14 đời Công sứ. Tương đương với 14 Công sứ Pháp là 5 Chánh quan lang (hay tuần phủ) gồm: Đinh Công Xiển, Quách Vỵ, Đinh Công Thịnh, Đinh Công Nhung, Đinh Công Xuân. …”. “Đứng đầu cai trị là một công sứ Pháp, Công sứ có toàn quyền quyết định mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội trong địa bàn tỉnh. Dưới công sứ có phó công sứ và một văn phòng giúp việc. Bên cạnh bộ máy cai trị, chỉ huy của người Pháp thì có bộ máy thừa hành của người bản địa. Đứng đầu bộ máy thừa hành là một Chánh quan lang, có phó quan lang và một số thư lại giúp việc” (trang 240 sdd).
Những chiến công của “quan lang” Đinh Công Đốc qua tài liệu của Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Hòa Bình hiện nay:
(Trích nguyên văn hồ sơ Khu căn cứ cách mạng Mường Diêm. Nguồn: Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Hòa Bình)
Đầu tháng 2 năm 1945 chiến khu Hoà - Ninh - Thanh chính thức được thành lập (sau đổi tên là chiến khu Quang Trung). Lúc này phong trào cách mạng ở Hoà Bình đã phát triển mạnh và Xứ uỷ Bắc kỳ cử thêm một số cán bộ của tỉnh Ninh Bình lên tăng cường cho Hoà Bình để xây dựng phong trào gồm các đồng chí: Hoàng Ba, Hà Bình, Nguyễn Hoà và đồng chí Phán… Tình hình ngày càng chuyển biến có lợi cho ta, Nhật Pháp sẽ cắn xé lẫn nhau, ta cần phải xây dựng lực lượng vũ trang, thành lập các khu căn cứ, để đón chờ thời cơ đánh đuổi đế quốc, giành chính quyền… Sau cuộc họp đã quán triệt đường lối và nhiệm vụ, các đồng chí Hà Bình, Nguyễn Hoà, Hoàng Ba và đồng chí Phán thành lập một tiểu đội du kích để làm nòng cốt đầu tiên toả đi các vùng rừng núi để xây dựng khu căn cứ cách mạng.
Vùng Mường Diềm gồm 2 xã: Quy Đức và Đức Nhàn thuộc Châu Mai Đà (cũ) là một vùng rừng núi hiểm trở bên sông Đà, cách thị xã Hoà Bình không xa nhưng lại là nơi có nhiều dân tộc nghèo đói nhất trong tỉnh lúc bấy giờ. Cai quản vùng này là Đinh Công Phủ một nhà lang có thế lực và con trai là Đinh Công Đốc có tinh thần yêu nước muốn đành Pháp đuổi Nhật. Thế lực nhà lang ở đây gần như tuyệt đối, người dân chịu mọi sự cai quản của chế độ lang đạo hà khắc, bảo thủ, trì trệ.
Được sự giúp đỡ của Đinh Công Sắc (là con em một nhà lang có uy tín ở vùng Mai Đà có tinh thần yêu nước đã được giác ngộ cách mạng), đồng chí Phan lang đã gặp được ông Đinh Công Phủ, là một lang cun rất có thế lực ở vùng thượng lưu sông Đà. Lúc đầu Đinh Công phủ chưa tin tưởng vào cán bộ cách mạng, dùng nhiều thủ đoạn để thăm dò. Sau thời gian kiên trì truyết thyuyết phục khéo léo, Đinh Công Phủ đã đồng ý tổ chức một cuộc họp toòn thể giới lang đạo dướí quyền, đứng đầu các chòm xóm trong vùng để bàn hợp tác với Mặt trận Việt Minh đánh đuổi Phát xít Nhận và đồng ý ủng hộ cách mạng 30 khẩu súng mà Đinh Công Phủ đã lấy được của Pháp chạy Nhật bỏ lại trong ngày Nhật đảo chính Pháp.
Đinh Công Phủ tán thành theo Việt Minh làm cách mạng nh¬ng lại lo sợ Việt minh nắm hết lực lượng và quyền hành. Nhưng do sự tuyên truyền, thuyết phục khéo léo của đồng chí Phan Lang về chính sách của Mặt trận Việt Minh, Đinh Công Phủ hiểu ra vấn đề và chấp nhận cho đồng chí Phan Lang tổ chức quân lính cảu Đinh Công Phủ thành một đơn vị tự vệ do con trai Đinh Công Phủ là Đinh Công Đốc trực tiếp chỉ huy.
… Sau khi giành song chính quyền ở Châu Mai Đà lực l¬ượng vữ trang của khu căn cứ Diềm kết hợp với một bộ phận của khu căn cứ Hiền Lương - Tu Lý tiến lên giành chính quyền ở Suối Rút, ngày 26/8/1945. Ngày hôm sau theo đường 15 lên phố Vãng (huyện Mai Châu) Sau đó lực lượng khởi nghĩa do Đinh Công Đốc chỉ huy theo lệnh của Xứ uỷ tiến lên Sơn La phối hợp cùng nhân dân địa phương giành chính quyền ở Mộc Châu thắng lợi.
Nhìn lại khu căn cứ Mường Diềm từ tháng 5/1945 đến thánh 8/1945, trong thời gian 3 tháng phong trào cách mạn ở đây phát triển vững chắc cả bề rộng và bề sâu. Việc xây dựng thành công lực lượng vũ trang tập trung và bán vũ trang cùng với xây dựng căn cứ cách mạng ở đây đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cách mạng tháng 8 ở Hoà Bình.
Khu căn cứ cách mạng Mường Diềm sau cách mạng tháng Tám:
Sau khi chính quyền cách mạng đ¬ược thành lập. Bọn phản động của Đại Việt duy dân âm m¬ưu lật đổ chính quyền còn non trẻ. Năm 1946 bọn chúng hoạt động mạnh ở vùng Mường Diềm. Biết đ¬ược âm mưu của chúng, lực lượng vũ trang của ta ở Hoà Bình, kết hợp với đội quân của Đinh Công Đốc làm nội ứng đã tấn công vào sào huyệt, tiêu diệt đại bộ phận đầu sỏ và lực lượng vũ trang của Đại Việt duy dân ở bến Chương, Chợ Bờ, Suối Rút. Trong trận đánh này tên đảng trưng Lý Đông A đã bị Đinh Công Đốc bắn chết. Sau trận tấn công này, âm mư¬u phản động của bọn Đại Việt duy dân bị dập tắt.
Vào cuối năm 1946 đầu năm 1947, thực dân pháp cho quân nhảy dù xuống Chợ Bờ (huyện lỵ châu Mai Đà), au đó chúng tiến quân lên Phố Chò (Ruồi Rút) bằng hai đưường:
- Đưường thuỷ: chúng dùng ca nô đi theo đường sông Đà ngược lên Mường Diềm, khi đến núi Bò (thôn Bãi Cả) bị đội quân của Đinh Công Đốc phục kích đã bắn chìm hai ca nô, bọn chúng đã phải tháo chạy xuôi về suối Rút.
- Đưường bộ: chúng có khoảng hai trung đội theo đường từ chợ Bờ qua Hào Tráng vào Oi Luông, Oi Nọi, tại đây chúng bị đội quân của Đinh Công Đốc chặn đánh ở khu vực Gốc Sung buộc chúng phải rút quân về Chợ Bờ.
Vào cuối năm 1947 đầu năm 1948 thực dân Pháp lại đưa khoảng một đại đội theo đường sông Đà vào bến Hạt lên bản Kìa và bản Men. Sau khi đốt phá bản hạt và bản Men, bản Kìa chúng tiến quân vào Mường Làu, Mường Xàm. Biết được âm mưu của thực dân Pháp, đội quân du kích Mường Diềm có Đinh Công Đốc phối hợp với chỉ huy bộ dội chủ lực địa phương đã mai phục tại đỉnh dốc suối Nàng Nòn (nay thuộc xóm Khem xã Đoàn Kết). Khi thực dân Pháp tiến quân tới đội quân của ta đã giật bẫy đá và dùng súng, nỏ tấn công. Trận tấn công bất ngờ của quân ta đã làm cho quân Pháp không kịp chống đỡ nên đã bị tiêu diệt nhiều tên và thu được một số vũ khí, số thực dân Pháp sống sót chạy quay lại bến hạt theo thuyền về suối Rút.
Trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược, nhân dân Hoà Bình nói chung và căn cứ Mường Diềm nói riêng đã đóng góp rất nhiều sức người, sức của góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của cả nước.
(Còn nữa)
Đỗ Lãng Quân
(Mỗi bài có kèm 4 ảnh, hiện nay ảnh đã được sưu tầm, chụp lại và chụp mới, đã gửi kèm các bài viết)












