My Opera is closing 3rd of March

Búi Thông thơ dại (phần 7)



Anh Tú ngắt đôi con ong, tưởng nó đã chết, anh xé bầu mật nhỏ như giọt sương vàng óng sắp rơi ấy ra ngắm nghía. Anh từ từ đặt cái đuôi ong với túi mật bé chỉ một giọt ấy vào đầu lưỡi. Bất thần, con ong co vòi đốt cho anh một nhát đúng đầu lưỡi. Không thể hình dung được lòng căm thù của chú ong thế nào, mà khi đã bị đứt đôi, đã bị ngắm nghía nửa tiếng đồng hồ, chú ta vẫn tiêm cho anh tôi một cái chí tử. Đốt một cái để rồi chết, cũng được. Đúng làmột chiến binh cảm tử. Nửa đường về anh đã kêu ngòng ngọng:
-Lưỡi của tớ đầy ụ cả trong mồm rồi Hoàng ơi!
Về đến nhà thì anh không nói được nữa. Mẹ bảo:
-Thế là cấm khẩu!
Suýt nữa mẹ đưa anh đi bệnh viện tít tít ngoài huyện. May có chú Tỵ chạy sang vẫn cười hệch hệch bảo:
-Ong đốt vào lưỡi! Đề kháng lưỡi thằng này rồi cao lắm. Rồi nó chén thì phải biết đây!


Lên với rừng rưng rưng nước mắt


Lại kể chuyện anh Tú tôi đứng lơ ngơ trước sân nhà, cũng lạ anh cứ như đứa trẻ bị lạc giữa căn nhà của chính bà, chính mẹ và chính ba đứa em ruột thịt của mình. Hai ngày sau, khi bố đã trở về Sơn Tây, sau khi được mẹ dặn dò đủ kiểu, anh Tú háo hức theo tôi với thằng Quý, thằng Phương, thằng Tâm đi lấy củi (bọn tôi và người Búi Thông gọi ngắn gọn là "đi củi"). Qua đồi Công an (vì chỗ này có nhiều công an đóng quân) vào đến rừng Cấm (vì chỗ này cán bộ lâm sinh cấm không cho chặt củi), chúng tôi đi gần đến bờ sông Đà. Những con dao được rút ra khỏi bao tre. Rừng cây rùng rùng chuyển động, nói đúng hơn là những lùm cây dại bằng cổ tay, bằng ngón chân cái đang bị lũ trẻ tấn công rồi chặt ngã xếp thành đon, thành bó, nằm thuồi luồi trên cỏ dại. Anh Tú chặt được vài cây bông bét thì đứng thở kêu mệt quá, anh bảo:
-Mồ hôi ra cay cả mắt. Mày làm thế nào mà mồ hôi không chảy vào mắt?
Tôi suy nghĩ mãi, rồi đành nói thật:
-Em cũng không biết nữa. Chắc nó chảy mãi thành rãnh thành hàng rồi nên nó chả vào mắt em bao giờ. Hay là bồ hôi em không cay như bồ hôi anh?...
Anh Tú cười:
-Thế mày bảo mặt tớ bí rì rì, không có rãnh có đường để thoát mồ hôi chứ gì. Hay mày bảo tớ béo quá... Mày nói gì mà như là nói đểu người ta thế.
Tôi lúng túng không biết thanh minh thế nào, đành giơ dao phang bừa vào gốc cây thành ngạnh, cây xạ hương. Những cây này cháy rất nỏ, lại đượm lửa, lúc chặt cây có mùi thơm lựng, lúc đun lại càng nồng hơn, tôi thích nhất. Bà bảo, một bó thành ngạnh đun sướng bằng mười bó bưởi bung, sim sim hay mua mua. Tôi sợ anh Tú buồn mới tranh thủ chặt thêm vài cây bông bét bảo anh ngồi ở gốc cây thông, cố mà tước lấy vỏ cây để làm lạt bó củi lúc gánh về, công việc này có khi còn quan trọng và cần nhiều sự khéo léo hơn là xông vào bụi rậm chặt cây. Bỗng đâu từ trong rừng vọt ra những con chó to lừng lững như chú bê con. Anh Tú kêu ú ớ rồi chạy trốn sau gốc thông già. Anh kêu thống thiết như lời chia tay cõi thế, như cảnh báo cho những kẻ cùng hội cùng thuyền thấy một đại hoạ:
-Hoàng ơi, chúng bay ơi, chó sói! Chó ăn thịt người!
Mới tối hôm qua, nằm trong cái nong quánh nhựa chè ngoài sân anh kể với tôi về những con chó kéo xe chạy trên tuyết trắng. Những con sói hoang luôn nhe nanh trắng ởn sẵn sàng xé thịt những kẻ tội nghiệp lạc vào xứ sở của nó. Anh bảo chuyện ấy ông Jaclơndơn ở bên Tây kể cho anh nghe, tôi hãi lắm. Bây giờ anh Tú đang hãi thì tôi lại phải nín cười, tôi lao về phía đàn chó to lớn ở bìa "đồi Công an". Tôi hoan hỉ. Tôi khoái nhất đi củi mà gặp các chú huấn luyện cho nghiệp vụ. Chú nào cũng vui tính, con chó nào cũng khôn và được rọ mõm cẩn thận. Có lần một chú gặp tôi đang rụt cổ gánh hai đon củi trên cái đòn tròn hai đầu nhọn hoắt, chú đọc thơ trêu: Non cao núi thẳm đã từng/So vai cố sức gánh hai hạt vừng, về đâu?. Tôi khoái lắm. Tôi thì đúng là non cao núi thẳm đã từng, tôi luôn là trưởng nhóm trong các buổi chiều lội rừng đi củi. Còn việc so vai cố sức gánh hai hạt vừng thì chưa chắc, mà họ nói kệ họ, có thể sau này tôi lớn lên tôi sẽ thấy hai bó củi vĩ đại chắc nịch toàn thành ngạnh, săng lẻ mốc thếch này chỉ là hai hạt vừng. Nhưng cái quan trọng là bây giờ, ở xóm Búi Thông này, bằng tuổi tôi, không đứa nào có nhiều sẹo trên người bằng tôi, không đứa nào gánh được gánh củi nặng như tôi đang gánh. Lần nào gặp các chú, cũng thấy các chú cười, xoa đầu và gánh hộ tôi hai bó củi đi suốt một thôi đường dài. Có lúc hứng lên tôi còn được điều khiển con chó Bẹc-giê khổng lồ ấy. Lần nào chia tay cũng lưu luyến và hứa hẹn, có chú còn cho tôi xem súng, cho ngắm lên ngọn cây thông như thể một hiệp sỹ của rừng xanh vậy.
Tôi gọi anh Tú từ trong gốc thông ra, tôi say sưa nói cho anh biết những niềm vui của đám trẻ kiếm củi đồng rừng. Nói rồi, tôi chợt nghĩ, cũng không biết là mình kiếm củi để làm gì nữa. Củi nhà tôi chất đống khắp trong bếp ngoài sân, thậm chí cả ngoài gốc ổi, gốc mận. Củi quây thành toà ngang dãy dọc cho chuột, dán, mối và rắn, rết, thằn lằn nó làm tổ. Bà đi đồi về, mẹ đi nương về ai cũng vác theo vác củi. Tôi thì hầu như ngày nào cũng “đi củi”. Củi không đun đến, mối xông mục ruỗng tanh bành. Có hôm lật ba bó củi lên, tôi thấy sộp soạp ba tổ mối vàng rười rượi. Thế mà vẫn đi củi. Chắc cũng như tôi đi bắt cua ấy. Từ ngày tôi bị chết trôi ngoài Cống, mẹ không cho tôi đi bắt cua, bởi theo mẹ tôi đã bị Hà Bá quyết tâm bắt. Buổi trưa mẹ ngủ trên tảng đất trộn muối nhẵn bóng giữa nhà, mẹ nằm chặn đường ra của anh em tôi cho dễ bề quản lý. Mẹ vừa chợp mắt, tôi cắp cái quần đùi, phốc qua người mẹ và ra chằm Trâm bắt cua, cá, trạch, lươn. Trời nắng như rang, chỉ có hang cua là nước mát, thế là bao nhiêu họ hàng thuỷ tộc nhà ông thánh Thủy Tinh chui cả vào đó. Cứ thò tay vào hang gạt nước, gạt cua, cá ra mà vốc vào xô. Bắt được hàng giỏ cua, hàng xô cá, nhưng tôi không dám mang cua cá về vì sợ mẹ đánh. Thế là cứ bêu nắng xuyên trưa, rắt theo cái quần đùi khô, tắm giặt thay quần xong oai phong tay không bước về nhà. Mẹ hỏi đi đâu, “con sang nhà bà Thục”, thế là thoát. Hoá ra với đám trẻ, dù đi củi hay đi bắt cua, vấn đề không phải là vì hai bó củi bé như hai hạt vừng hay mấy con tép mại, con cua bấy ngoài ruộng thụt. Vấn đề là được lên với rừng, ra với ruộng. Tôi tung ra kết luận rất người lớn như thế khiến anh Tú lác mắt vì bái phục. Anh Tú ngắt lời:
-Thế cái hôm bị chết đuối ngoài suối thì mày có biết gì không?
Tôi giật mình, hoá ra anh biết rõ chuyện tôi bị chết trôi. Hơi ngượng, nhưng không sao, đó vẫn có thể coi là một chiến tích. Bởi tôi bơi thì thần tình lắm, có điều hôm đó nước chảy to mà tôi thì bé quá. Tôi trả lời:
-Em không biết gì nữa. Lúc đầu thấy trôi, lúc sau thì chóng mặt. Lúc tỉnh dậy thấy mình nằm giữa đống nôn mửa, cứ tưởng ngủ mê, sờ lên đầu toàn băng bó. Nhìn ra ai cũng đứng lộn ngược, chú Tỵ thì hềnh hệch cười. Bà với mẹ cứ khóc một chập lại cười một chập. Hay ra phết...
Hôm ấy, tôi đi học về, ba thằng, vứt cặp trên bờ rồi lao xuống suối tắm. Suối chỗ ấy bị ngăn dòng đắp đập, nước dâng lên thành hồ, còn lại người ta để một cái cống thoát. Cống chảy qua lòng đường, dưới chân người và xe bò, xe đạp.. Tôi đang bơi thì thấy người xoay xoay xoay, rồi đánh phụt một cái không còn nhớ gì nữa. Nghe nói, Thằng Trung và thằng Quý chạy về xóm gọi người. Cả làng kéo ra chờ ở đầu bên kia cống nước. Cái cống không đủ lớn để tôi trôi ra đầu bên kia, nước cũng không đủ êm để tôi có thể rạch ngược dòng thoát thân. Người ta đang tính phá cái cống toàn đá hộc ra để tìm tôi. Mẹ với bà phận đàn bà con gái chả biết làm gì, đành thắp nhang khấn khứa ở dưới chân nguồn nước chờ Hà Bá cho tôi chui ra. Được một lúc thì thấy dòng máu loang trong nước đậm dần. Thân hình tôi dúm dó sứt sẹo tuồn ra như cái nút rác bị tắc lâu ngày trong cống đập. Không thuốc thang vậy mà tôi từ từ tỉnh dậy. Mẹ lặng thinh thất thần.
Tôi lại thao thao kể rằng, lên rừng hay ra đồng là những bước khám phá thế giới tuyệt vời của tuổi thơ. Tôi không thể ngờ được có ngày tôi lại học được phép bắt lươn, bắt trạch ngoài ruộng bùn thụt đến đầu gối một cách tài tình như thế. Không cần dụng cụ gì, chỉ cần con mắt tinh. Cứ trông thấy bong bóng nổi tăm lên từ những cái lỗ tròn trên mặt bùn là y rằng có chú lươn đang hí hóp thở để chống lại cái nắng kinh người. Tôi ngồi trong bóng râm, chỗ ấy ruộng trũng, bùn nhiều, nước mát. Nên khi trời nắng, nước ruộng bỏng như nước sôi, bao nhiêu cá, trạch, lươn rúc hết cả vào đám bùn râm mát. Những chú lươn vàng ruộm, da nhớt, trơn một cách ma quỷ. Chúng sống đến độ thành tinh ở những chằm ruộng thụt mênh mông của chằm Trâm. Song chúng lại không biết lộn ngược đầu chạy trốn. Lươn càng béo, càng to thì càng ngốc. Cứ thấy “tăm”, tôi từ từ thò tay xuống. Một ngón tay trỏ dí dần, chầm chậm theo hang lươn mãi xuống bùn, có khi tôi áp mặt xuống ruộng nước, bùn ngập đến bắp bả vai mà đường bùn vẫn kéo dài mãi. Đầu ngón tay phải rất nhạy cảm để dò ra con đường như có như không giữa thế giới lật lọng của bùn nhão. Cuối con đường bao giờ cũng là một cái đầu lươn hoặc trạch. Chúng không biết chạy lùi. Và cái đầu trơn truội, nhọn hoắt ấy cũng cứ nằm thin thít giả vờ như đã chết, như ta đây chỉ là một cái núm quả sim già rụng chưa kịp mủn trong đất. Bấy giờ mới là lúc ra tay. Ngón tay trỏ của tôi để im canh chừng cái đầu nhọn đánh đường tháo thân trong thế giới bùn của riêng nó. Ngón tay cái từ từ dò tìm ngón tay trỏ. Hai ngón tay biết thở, ngón tay có mắt mở trong bùn ấy sờ qua cái đầu nhọn như đầu cào cào đực ấy, sờ tiếp xuống cái vảy mang rất nhỏ bên dưới. Và. Bấm mạnh! Đó là điểm duy nhất có thể nắm được con lươn vàng lôi lên bờ bỏ vào tay nải.
Một buổi trưa thõng chân bên bờ cỏ hóng mát gốc cây si, tôi có thể bắt đủ nồi trạch kho, lươn kho cho bà và bốn mẹ con tôi ăn trong một tuần. Người xóm Búi Thông phục lăn, gọi tôi là thằng "Hoàng lươn" để ghi tạc cái tài bắt lươn trạch của tôi. Sau này lớn, tôi ghét cái biệt danh này, vì nó dễ khiến người không ở xóm Búi Thông nghĩ tôi là thằng lươn lẹo, lừa đảo. Thực ra thì tài bắt lươn là do chú Sáu nhà bà Thẽm dạy cho tôi, tôi nổi tiếng ở chằm Trâm thì cũng là lúc chú Sáu thoát ly về Hà Đông với vợ. Nghiễm nghiên tôi trở thành... không có đối thủ, thành nhà phát minh. Sau lươn lại đến rắn. Rắn sợ nước nóng chạy vào hang. Rắn trong hang nước không bao giờ cắn. Da rắn trông thế mà sờ vào xù xì rợn rợn như giấy ráp. Nắm cái đầu bẹt, ném tọt vào giỏ có hom thật chặt. Rắn mở mắt ra thì đã là thế giới của nan giỏ. Nhiều con rắn chửa kềnh kếnh cang, bị ném vào giỏ, bị chen lấn với mấy chục con rắn khác thuộc đủ các dòng giống khác nhau khiến chị tả đẻ non ra một đàn rắn con đèn trùi trũi. Con nào cũng bò cung quăng trong khe giỏ, có khi đàn rắn con lọt qua nan giỏ chạy đen nhóng nhánh cả sân giếng. Chúng truồi đi như những con nòng nọc dài. Mẹ tôi sợ hãi bảo không khéo nó lớn nó biết trả thù như chuyện con rắn có mào nằm trên quá giang nghe vợ chồng nhà kia thì thầm để báo oán mà một đem nào đó, nằm cái nong ngoài sân bố đã kể. Tôi cười khì, sợ gì cái giống rắn nước. Nồi cám đang sôi ọc ọc, tôi mở vung nhúng cả giỏ rắn vào đó. Mở hom, dốc ngược, lũ rắn nằm cứng quèo, con nào cũng bị lột da thịt nhẽo nhèo trắng bợt bạt. Bắt rắn cho lợn ăn, có lẽ cái thời thiên nhiên giàu có và đám trẻ sống vâm váp như núi đồi ấy đã quá xa xôi rồi...
Tôi lại kể với anh Tú chuyện kinh hoàng về những ngày thằng Minh con ông Lược bị ngã từ ngọn cây trâm xuống. Nó rơi vào bụi cây sặt rậm rì, lúc người ta tìm được thì thấy Minh bị một gốc sặt đã thu hoạch, ai đó dùng sao sắc chặt một nhát vạt ống dầu để lại một cái gốc ngọn sắc đến lạnh người. Tôi chạy ra thì thằng Minh nằm bất tỉnh bên đám lá rừng vũng vĩnh máu. Người ta bảo, rút gốc sặt ra là chết ngay theo kiểu chiến tướng thời Tam Quốc bị trúng tên ấy. Cả xóm hì hục đào đất đánh bung cả cái gốc sặt, với rễ và đất lên cáng cùng với thằng Minh ra bệnh viện huyện. Minh không chết, chỉ có điều khi nó về làng rồi, miệng nó vẫn thủng, lúc ăn uống, nước chảy ồng ộc ra lỗ ở má. Trên bàn thờ nhà ông Lược thờ cả một gốc cây sặt sùm xoà với bầu đất như thể người ta bứng cây về trồng vậy. Khách đến, ai cũng sờ vào lưỡi vầu già vạt ống dầu sậm máu trẻ con ấy để suýt xoa, sắc quá, gớm quá, phúc bảy mươi đời nhà ông quá. Và, gốc sặt ấy thấm máu thằng Minh, tôi thấy gốc cây nó cũng đắc chí như thể mỗi lần chúng tôi bắn được một con chim, lại dùng máu chim chấm vào cắng cao su bằng gỗ của mình để tôn vinh tài thiện xạ. Dẫu sao thì mỗi lần nhìn gốc sặt ấy, tôi cũng thấy may là mình chưa mất thêm một thằng bạn trèo cây, tắm suối.
Chứ như thằng Hạ là tôi mất hẳn. Tôi học cùng lớp với nó, lại có anh em đằng ngoại thế nào ấy. Nhà nó ngoài bờ suối, căn nhà bé tẹo lọt thỏm giữa rừng tre pheo cao vút. Cây tai chua nhà nó cao nhất làng, thằng Quý kể có lần nó nhìn thấy máy bay chuồn chuồn (trực thăng) bay qua bị mắc khúc thuôn thuôn giữa thân máy bay vào chẽ đôi cây tai chua ấy không làm sao thoát ra được. Cánh quạt cứ quay đều, quay đến mức mấy con gà ở bên dưới đứng như trời trồng, đứng dán vào mặt vườn, không nhúc nhích nổi. Lông cánh, lông đuôi cùng toẽ ra như có bàn tay vô hình nào đó đang bới lông bắt chấy, bắt mò mò cho nó vậy. Cánh quạt quay bứt hết là tai chua, nhàu cả lá vườn chè bà Bàn bên dưới, thế mà không tài nào thoát ra được. Cuối cùng ông Bàn phải bắc thang leo lên chặt bỏ một chạc cây tai chua để cứu chiếc máy bay tiền tỉ tiền triệu của nhà nước (?). Cảnh này tôi không được chứng kiến, nhưng cái chết của thằng Hạ và cái quan tài đỏ lòm lòm kê ở đầu giường ông Bàn thì tôi biết rất rõ. Những ngày cuối của tuổi lên 10, tự dưng Hạ kêu đau đầu, đầu nó cứ mềm mùm mụp, sờ vào như quả thị bị trẻ con nặn chơi đồ hàng đã mấy ngày. Dí tay nhẹ, bỏ tay ra, thấy da thị không phồng trở lại được. Dân làng đồn Hạ bị con đỉa chui vào lỗ tai, ăn hết cả xương xọ, cả óc với mớ dây thần kinh rồi. Vì nhà nó ở gần Cống, nước chảy suốt ngày, nó lại hay bơi lội. Mẹ tôi thường lấy cái gương con đỉa chui tai mềm mụp cả đầu của thằng Hạ ra để cấm tôi bơi lội, cua cáy, lươn trạch. Nhẹ hơn là chuyện thằng Tâm trèo bờ rào nhà bà Tài câu cồ cộ trên cây bạch đàn. Ngã một cái sượt qua cành tre già đóng cọc làm bờ rào, người nó mắc trên búi chè mới đốn êm hơn thảm đệm, không việc gì. Nhưng lúc nó kêu đau ở chim thì bố nó hốt hoảng tế ngựa từ nông trường về kêu la rầm rĩ. Bởi của quý của nó bị rách toạc, một hòn cà hiếu động thòi ra ngoài ngoắc trên cành tre lủng lểu. Vậy mà, nhờ đủ thứ thuốc đông tây chữa trị, sau này lớn, tôi để ý nó vẫn lấy vợ trẻ, đẻ con giai như thường.
Anh Tú nghe chuyện mắt xanh lên. Anh bảo, sợ như trong rừng Amazon ấy. Tôi chả biết rừng Amazôn ở đâu, chả biết nó rộng hơn rừng bà Bằng không, thế là hai anh em kéo lũ trẻ xóm Búi Thông vào rừng để cho anh Tú làm phép so sánh. Đến bìa rừng, tôi lội ruộng bảo đãi anh món thịt rắn nước nướng. Tôi trẻ con không dám đào tổ rắn trên cạn, rồi mắm môi mắm mỏ lôi đuôi nó ra như chú Tỵ. Tôi xuống ruộng nước trong trời nắng gắt, thọc tay vào hang cua sờ, con nào da trơn truội là lươn hoặc trạch; con nào dài tròn và da ráp ráp thì là rắn. Rắn nước hiếm có con nào cắn chết người. Rắn vào trong hang, chìm trong nước rồi thì không bao giờ dám há miệng, và thế là, khi đó, rắn không bao giờ cắn được ai. Tôi đoán rắn sợ há thì nước sẽ ộc vào mồm. Nhưng rắn trong hang không cắn, việc ấy tôi đã kiểm nghiệm nhiều lần. Tôi thọc vào hang bìa rừng, cái đầu manh manh, tôi bấm mạnh lôi ra. Một con rắn nhệch đỏ lòm, to tướng, nhân thể làm món dán cho bõ công. Tôi đút vào giỏ, anh Tú vỗ tay:
-Đúng là dũng sỹ rừng Amazon!
Tôi thọc tiếp, nghe đánh poóc. Tôi hốt hoảng rút tay thật mạnh. Vút! Con rắn dài loằng ngoằng bị văng ra xa tít đằng ruộng thụt. Ngón tay trỏ bàn tay phải của tôi vẫn in hằn hai vết răng sâu hoắm, máu sủi ra như mạch đùn. Thôi chết, con rắn tàn nhẫn thò đầu ra khỏi mặt nước cắn trộm thế này tôi chưa từng gặp. Nó là con rắn gì? Nó có cắn tôi ở trong hang nước đâu. Nếu là rắn cạn, rắn cạp nong cạp nia thì tôi lìa đời chứ còn gì. Ông Trư bảo, đụng vào con rắn máu nóng thì nọc nó ngấm đến đâu, thịt thối đến đấy, đau nhức như có ai nướng thịt mình trên than lửa. Còn rắn máu lạnh thì ngược lại, không đau đớn, không rên la, người bị cắn cứ lẳng lặng rửa chân tay lên giường hai tay chắp bụng không chào hỏi ai mà hồn lìa khỏi xác. Tôi băng qua ruộng lúa, qua mương. Tôi vạch cỏ tìm con rắn vừa bay khỏi tay mình. Càng tìm càng thấy mất hút. Có lẽ sau cú đớp trộm ấy chú rắn độc đắc chí quá và lặn mất tăm rồi. Nghe nói, tuôn cái nọc độc xong, tối nay nó sẽ chết. Nhưng không lẽ tôi cũng sẽ chết theo nó. Tôi bắt đầu thấy bàn tay mình giật giật, nóng ran. Có lẽ nọc nó đã ngấm dần lên cánh tay phải của tôi, nó mà lên đến ngực thì có giời cứu. Tôi chồm lên cỏ như một con chó hoang đuổi chuột đồng, tôi vạch cỏ tìm con rắn lạ mà đường đi của nó trên cỏ không bao giờ để lại một dấu tích gì. Tôi cứ bò chồm chồm một cách tuyệt vọng, mặc anh Tú chạy đôn đáo phía sau, lo lắng, hỏi lia chia đủ thứ chuyện. Trời đã cứu tôi rồi. Một lúc thì nó hiện ra, miệng nó bành, thò thụt cái lưỡi kêu phè phè như là hổ mang thật vậy. Trong ấy đỏ lòm lòm toàn máu của tôi. Cái lưỡi bé tẹo thau tháu thò thụt của nó trông mới ranh ma, nham hiểm làm sao. Tôi phát hiện ra đó chỉ là một con hổ lửa nước, cũng là hổ lửa nhưng không đáng sợ. Tôi vểnh râu ra chỗ anh Tú khoe là đã trừng trị con rắn hỗn láo. Tôi cầm cái đầu bẹp gí be bét máu (máu của nó và máu của tôi) lên nhây vào mặt anh Tú, tôi muốn khoe với anh rằng, tôi đã chế ngự được những huyền bí của cả xóm Búi Thông, cả rừng bà Bằng. Nhưng thực lòng, tôi hoàn hồn sau cuộc bới cỏ tìm thấy mạng sống cho mình. Nếu một con hổ mang, một con đen vàng đen trắng (rắn cạp nong hay cạp nia) đợp phải tôi hôm nay, thì có nghĩa là tôi phải được khiêng trong cáng mang sang xóm Trám để ông già Nhậm bó thuốc lá cho. Kể cả ông có nhà, ông bó thuốc rồi, mười phần thì cũng chỉ 3 phần là được cứu sống. Chứ chưa kể là ông đi lên ruộng lên rẫy ngày mai với tìm thấy điệu được ông về, thế thì chắc... ngỏm! Tôi kể với anh Tú mà như khấn niệm cho mình rằng: hôm trước ông Thẽm đi cùng với tôi vào rừng, tôi tận mắt thấy con rắn màu xanh lục ngắn tũn như con run nó ngóc đầu tợp nhẹ cái vào bắp vai trần của ông. Tôi kêu ầm lên đòi đưa ông về nhờ bác Nhậm đắp thuốc lá. Ông bảo:
-Mày dát như cáy. Lại thần hồn nát thần tính rồi. Con ong muỗi vừa châm ông, chứ có rắn nào cắn đâu mà mày nhảy đỏng lên thế. Tôi về đi, cháu say nắng rồi!
Ông xoa đầu tôi sờ thử, rồi bảo rõ ràng đầu tôi nóng như da gà. Về đến nhà, tôi tận mắt thấy ông đi nằm. Tôi cũng ra hiên oánh một giấc.Và, tiếng bà Thẽm đã đánh thức tôi dậy, bà bảo ông đã “đi”, đi êm lành, không trăng trối oán trách ai.
-Đấy là rắn Búi Thông, anh hiểu không? – tôi lên mặt anh hùng với anh Tú. Anh sợ quá bảo:
-Mày có phải về đắp lá ông Nhậm không? Nhỡ mày ngủ rồi không dậy nữa như ông Thẽm, bố lại lấy roi mây đánh tao đấy...

* *

Anh Tú chưa hết kinh hãi thì sáng hôm sau, tôi với thằng Quý mở một cuộc "tuần rừng" trang trọng, với sự tham gia của cả thằng Chung, chị Hạnh, chị Hảo (hai chị gái thằng Quý) - tất nhiên không thể thiếu là sự yểm trợ của con chó Ều. Nhân vật chủ chốt chứng kiến sự kiện trọng đại này với tư cách khách mời là anh Tú tôi. Thực tế thì đó vẫn là chuyến đi củi như mọi ngày, phần biểu diễn là do tôi và thằng Quý thêm vào. Đồng phục là nón mê, đòn tròn (đòn sóc), dao phay pha, dây lạt tre bánh tẻ cuộn tròn như chôn rế (dùng để bó củi). Trời vừa hừng nắng, sau khi múc cho chú Tiến "nhù" đầy tất tật các xô các chậu và một bể xi măng toàn nước giếng, chúng tôi lên đường, nhằm hướng đồi Lốc thẳng tiến. Chú Tiến gọi là Tiến "nhù", bởi vì cái miệng chú chù chù, xâu xấu mỗi lúc phân bua hỏi han ai cái gì nó cứ dẩu ra tồi tội. Người lớn bảo chú hơi lẩn thẩn, nhưng chú vẫn có vợ và bốn đứa con đàng hoàng, tôi nghĩ chú chỉ quá nghèo, quá hiền lành và chậm hiểu thôi. Chú cũng là dân khai hoang từ dưới Ba Xuân - Cựu Lục lên, nhưng nhà chú nghèo nhất xóm Búi Thông. Chú có sức khoẻ, và suốt đời chú chuyên nghề phun thuốc sâu thuê cho cả vùng chè Búi Thông. Tôi nói là suốt đời là bởi vì tôi chứng kiến cả cái chết của chú. Hôm ấy, trời nắng như buổi sáng tuần rừng này của chúng tôi. Bà Thái nhìn trời, đoán vài ba ngày nữa trời chưa mưa được, thế là quyết định phun thuốc sâu cho vườn chè cũng kéo từ bản người Mường sang bản người Dao của bà. Người xóm Búi Thông sợ nhất là vừa phun thuốc cho chè xong mà trời mưa thì thuốc chưa ngấm đã bị trôi mất. Thì mất béng tiền của cho ông giời, tiền đổ cho giời thì bao nhiêu cho đủ mà lại còn bị làng xóm bảo là ngu si. Bà Thái tính phun thuốc liền tù tì cả hai khoảnh vườn để cho được nắng. Bà muốn nhờ thêm chú Tập phun đổi công kẻo một mình chú Tiến thì phun không tài nào xuể. Chú Tiến nổi tiếng có sức khoẻ tốt, nhưng phun một bình vôvatôc đi dọc vườn chè vất vả lắm. Chú Pháo đi bộ đội về còn ví phun thuốc ngược đồi chè nặng như là vác B40 nã vào xe tăng địch ấy. Mỗi người chỉ bắn liền tù tì được hai ba quả là cùng, bắn thêm, sức ép hay tiếng nổ gì đó có thể làm người ta bị điếc tai thậm chí ngất xỉu. Tôi không hiểu đoạn này lắm, nhưng làng tôi quả là có mấy chú bị điếc vì xe tăng đại bác từ hồi đi chiến trường thật. Chính tôi kể lại chuyện này cho chú Tiến nghe. Chú chả tin, chỉ hề hề cười co co cánh tay phải của chú lại, chú vuốt dọc bắp tay cuồn cuộn của mình, chú nhìn tôi rồi lại nhìn cục thịt chạy chạy ở gần bả vai, chú háy mắt:
-Thấy chưa, khiếp chưa?.
Chú khò khử giật cần bơm phun liền một lúc ba mươi mấy bình thuốc sâu, giữa trưa thì chú dính cảm lăn đành đạch ra sân giếng. Sáng hôm sau chú sùi bọt mép đi luôn. Mộ chú đặt ở vườn sắn cạnh đồi thông, xung quanh mộ được rào bốn cái cọc tre có gióng ngang quây thành một hình vuông hiền lành. Cô Ngọ vợ chú tiếp tục đi hái chè thuê nuôi bốn đứa con rách rưới. Hình như cả xóm Búi Thông thấy ân hận vì đã thuê chú Tiến làm quần quật với công xá rẻ mạt, hình như cả xóm thấy mình có lỗi trong cái chết thảm, trong cô vợ dại và đàn con thơ của chú Tiến, từ bấy ai cũng có ý đùm bọc những người còn lại của gia đình chú. Thằng Thắng con lớn của chú Tiến nó đã biết đi làm cỏ chè, cỏ sắn thuê theo mẹ. Ba đứa còn lại suốt ngày quẩn quanh ở nhà tôi với ba anh em chúng tôi.
Đang dở câu chuyện về buổi sáng kéo quân đưa anh Tú tôi đi ngược rừng của tôi hôm ấy. Chú Tiến cõng bình thuốc sâu sau lưng, tay trái khọt khẹt kéo cần bơm, tay phải dò dẫm soi cái doa nước đầu cần vào các hốc chè như những chú công binh đi dò mìn trên đồi Công an vậy. Mùi thuốc sâu sực lên. Mẹ gióng riết đuổi chúng tôi lên rừng, mẹ đuổi rát nhất là với anh Tú, bởi anh ấy chưa quen với cái mùi chết người này. Nhất là, cách đấy mấy hôm, cái Hoà con bác Hồng mới mấy tuổi đầu đã uống thuốc sâu tự tử. Mẹ bắt tôi múc nước sẵn cho chú Tiến vì sợ tay đầy thuốc sâu của chú ấy sờ vào dây gáo thì thuốc vôvatốc rơi xuống giếng, "chết cả nhà". Con đường lên núi Ba Vì phải đi qua xóm Mường. Người Mường đặt tên con theo số thứ tự, anh Ba là con thứ ba, anh Năm là con thứ năm. Nhưng thằng Một bạn tôi lại không phải là con cả của ông Thao, ông này trước Chủ nhiệm Hợp tác xã suốt ngày cắp cái túi vải bạc phếch, dày cộp như ba lô bộ đội có vai đeo chéo từ vai phải chạy xuống hông bên trái. Bởi ông Thao năm nay hơn 70 tuổi rồi, mà nó mới lên 10, thằng Một là con thứ Mười Một của ông. Bác Thao con cả ông Thao lại mang tên bố, bác Thao cả hơn bố tôi 9 tuổi! Đơn giản có thế, mà phải 10 tuổi đầu tôi mới hiểu ra. Nhà thằng Một ở sát bìa rừng, trên bờ suối. Cổng nhà nó có cây vỏ rụt bố bảo làm thuốc tốt lắm. Bố dặn mẹ, hôm nào lão Thao đẵn bỏ, mẹ nhớ ra bờ suối nhặt vỏ cây về kẻo phí. Cây này to, vỏ dày đến hết nửa thân cây, vỏ nó cứ sun lại, rụt lại từng khoanh gồ như khúc khấu đuôi lợn. Thế nên gọi là vỏ rụt. Hoa cây bông bét cũng lại tròn thành sâu như thể khúc dồi lợn màu xanh bạc. Thơm ngọt dịu và thoang thoảng, khó tìm nhất là hương cây hoa dẻ đứng lẻ một mình trong vách núi. Những loài hoa không độc đáo, mà thân thuộc, quê mùa lạ. Bà bảo, những cánh hoa không sặc sỡ này luôn được Thần Rừng canh giữ cẩn thận, người nào máu nóng, đôn đáo đi tìm hoa để hà hít thì không bao giờ tìm thấy được. Còn những kẻ tha thẩn trong rừng, cứ đẵn củi, cứ cắt tranh hay đào sắn, cứ làm và cứ nghĩ về hoa dẻ dại thì tự khắc hoa biết thò ra từ trong hốc đá, từ những tán rừng hoang. Tôi cũng thấy như thế thật.
Ban đầu là những dải đồi thấp. Bên bờ suối, có tiếng vo ve và những con ong, cánh nó múa xoay tròn như cánh quạt máy bay chuồn chuồn. Đàn ong bay u u, hứng chí lên chúng biểu diễn nghệ thuật múa cánh đứng chết lặng như một chấm đen mơ hồ trong không gian. Chúng nó đang biểu diễn xiếc với tôi. Có lẽ với lũ ong bay như mũi tên này biểu diễn tài đứng yên trong không trung khó hơn là tấn công người tới tấp như một viên sỏi buột ra khỏi cắng súng cao su? Tôi đoán có tổ ong đâu đó. Cái đòn tròn khua vào bụi mua, đàn ong nhỏ bay ra vàng ruộm cả những chòm lá mua mốc tơi toàn lông xốp. Ong tay áo rồi, cuốn tổ cong vẹt như một ống tay áo cụt vắt hờ trên cành mua. Tôi sợ những tổ ong tay áo như thế, bởi lũ ong vàng rực quái đản bậu bên mảng tay áo bằng sáp đẹp trong ngần kia thật trớ trêu. Nó nhắc tôi nhớ đến những giấc mơ có đứa trẻ con khóc ngằn ngặt trên tay người đàn bà áo trắng đứng xoã tóc khóc nức nở ở trên cỗ giường tre ọp ẹp nhà tôi. Đứa bé ấy áo tã tơi tả, khoang sườn tím ngắt lộ ra với cơ man nào là kiến vàng. Những con kiến chổng mông lên đốt, đốt như là chúng bị vặn vít vào thịt da đứa trẻ. Đúng hơn, đó là một nỗi ám ảnh kinh hoàng. Tổ ong mà chúng tôi vừa phát hiện bên suối ấy không lớn, ít mật, nhưng cũng đủ trong veo và nhễ nhại dòng mật vàng. Trông giống như một miếng bóng bì ngày Tết mẹ được nông trường Đội Tám chia cho.
Quan sát địa thế, và mất một phút hoảng sợ, một chút thích thú, chút hiếu thắng, tôi quay lại bảo anh Tú:
-Tổ ong này đẹp, nhưng chả ăn thấm vào đâu đâu. Đừng sợ. Lũ ong này hèn lắm, nhát lắm. Tý khói, tý lửa là bỏ tổ bay tứ tán ấy mà. Anh Tú lên cổng nhà ông Thao tìm hoa dẻ đi. Lúc nào em gọi thì ra ăn nhộng ong tay áo!
Tôi lấy nắm cỏ khô buộc vào cây đòn tròn, sụp nón xuống và lùi lũi tấn công. Tôi tởm lợm cái màu vàng chi chít ấy. Lũ ong bỏ chạy tiếng vo ve như đàn nhặng trên đầu. Con ong già lưng eo thắt như một nàng công chúa xiêm y vàng rực cứ thế kéo đám đàn em đanh đá của mình bám theo cây đòn tròn mà tìm thủ phạm để tấn công. Tôi buông cây đòn tròn, lủi sang một bên, đôi mắt hấp háy sau vành nón mê canh chừng. Ngọn lửa bốc thêm cao, chiếc nón ăn mày của tôi đã lủi vào sát bụi hoa mua. Tôi thò tay giật cả chùm tay áo trong veo bằng sáp ong và chạy biến về phía cổng nhà ông Thao. Anh Tú ngồi thu lu hò hét sẵn ở đó. Họ hàng hang hốc nhà giống ong dễ quên tổ ấy đuổi theo tôi được hơn chục mét thì quay lại bụi lá mua. Hình như chúng quên là có một mê nón rách vừa đánh cắp mất thành quả nhiều ngày làm lụng và chung sống của mình rồi hay sao ấy. Anh Tú thích sưu tầm chuyện lạ nên mới giải thích rằng, để có được cái tổ tay áo dày và béo như thế này, đàn ong phải bay đi tìm hoa hút mật trên đoạn đường tổng cộng dài hơn nhiều vòng chu vi quanh qủa đất! Anh Tú bảo, quả đất to hơn cả đất nước, đất nước dĩ nhiên là lớn hơn xóm Búi Thông. Tôi không tin mấy nhưng cũng ừ ào cho xong, anh Tú vui là tôi thấy hả hê lắm rồi.
Sau này tôi mới biết, hôm đó, anh Tú thích hơn cả vẫn là màn trình diễn bắt tổ ong muỗi của tôi trong buổi sáng có ánh nắng và bóng râm đuổi nhau trên những triền đồi ấy. Thoắt nắng, lại thoắt râm mát, rồi lại nắng chói chang. Anh Tú bảo, đấy là do mây chạy trên trời gây ra. Chén xong khay mật, nhộng ong ngọt lịm và mềm nhũn ấy, tôi dẫn đoàn quân đi dọc bờ suối để vào sâu trong chân núi Ba Vì. Vừa đi, chị Hảo, chị Hạnh vừa hát vu vơ. Chị Hảo thích đi tìm cỏ mật, bỏ trong túi áo, cả tuần sau quần áo vẫn còn thơm, cái hương cỏ rối, cái hương ấy luôn khiến người ta rỏ rãi và muốn nuốt chửng tất cả. Dẫu vẫn biết rằng đó chỉ là mùi của một nắm cỏ rối khô ron, không ăn được mà cũng chẳng dùng được vào việc gì. Bà Thục cứ chửi chị Hảo là cái cỏ ấy nó đĩ mùi lắm, cứ dấm dúi cất giấu mãi có ngày nó vận vào thân cho thì bỏ bố. Còn chị Hạnh thích hoa dẻ vàng và mảnh như mấy sợi sơ mít dai chín tới trong tay người có duyên bổ quả, chị hà hơi vào những cánh hoa cho nó nhàu đi, mềm oặt ra, rồi chị đặt nó vào trong bó tóc ở sau gáy, chị dùng kẹp cõng nhau bé như lá lúa ấy kẹp lại. Hương hoa dẻ bị nhốt ở trong đó cho đến khi chị nướng bồ kết bỏ vào cái gáo dừa ra suối gội đầu. Gần lên đến đỉnh Rừng Hồ thì bỗng gặp một tổ ong muỗi. Thằng Quý phát hiện ra. Ong này to hơn con muỗi một tý, nhưng chúng bám theo kẻ phá tổ rất dai. Và, cứ chốc chốc một con lại lao tới đốt cho thủ phạm một cái. Không xưng to, không quá nhức buốt, nhưng vẫn cứ là đau đớn và... thất trận. Ai đã từng làm mục đồng, từng đi chăn trâu cắt cỏ, từng tắm chung một dòng sông với đàn trâu thì rất dễ hình dung. Trâu tắm, đầu và gù lưng của nó nổi lên mặt nước, trên mỗi con trâu thường có một đàn ruồi muỗi bâu theo. Lũ ruồi bay với tốc độ khủng khiếp, chúng lần hồi trên mặt nước, trâu lặn thì ruồi bay ra vo ve chờ trên mặt sông, dẫu trâu có bơi qua sông Hồng được thì trâu vừa ngửng lên, lũ rồi này lập tức có mặt làm nhiệm vụ đeo bám và hút hít trên thịt da trâu. Nếu đàn ruồi này đã hứng chí chuyển đầu trâu thành đầu của một đứa trẻ đang tắm táp mà bay theo đậu tứ tung thì đừng có dại gì mà cậu bé phải bỏ chạy. Có chạy cũng không được, từ khi cậu ta biến thành cá, tôm, cua ở lỳ tít dưới lòng nước, dưới bùn không bao giờ ngoi lên mặt nước nữa. Cách duy nhất để cắt đuôi lũ ruồi trâu này là... đến gần con trâu. Ruồi trâu thích trâu hơn, và gặp được con trâu nó sẽ rời khỏi cậu bé bằng mọi giá! Người ta đồn rằng, con ong muỗi đôi khi cũng có sức theo chân người phá tổ của nó tương tự như vậy. Thế nên, ai cũng sợ. Mọi người đứng trên sườn đồi giục đi tiếp, cái tổ ong muỗi có hun rác bắt được thì cũng chẳng lấy nhộng mà ăn được, càng chả có mật, mà tự dưng lại đi đốt mất cái mái ấm của hàng trăm con ong! Tôi toan đi, bỗng dưng anh Tú lại thở dài đầy cam chịu:
-Tớ chưa nhìn thấy tổ ong muỗi bao giờ. Chắc nó phải bé lắm, bé như mắt muỗi mà lỵ! Hoàng thử vẽ xem hình nó ra sao?
Tôi cáu tiết đột nghiên nghĩ ra một mẹo bắt ong mà từ bấy đến nay tôi chưa làm lại lần thứ hai, cũng chưa thấy ai nói là họ đã phát minh ra công nghệ ấy trước hay là sau tôi. Chính xác là bấy giờ tôi đang bốc đồng, tôi đang muốn đả phá sự tưởng tượng của người lớn về sức mạnh gớm ghiếc của loài rắn, loài ong nhằm doạ dẫm rồi cấm không cho đám trẻ vào với rừng. Tôi nghĩ, tôi không ngây thơ như thế. Và tôi quyết định tấn công... ong muỗi. Tôi bảo mọi người cứ dùng đòn tròn cắm vào đất đỏ và gốc cỏ tranh để làm gậy mà tiếp tục tiến lên đỉnh Rừng Hồ. Tôi quay lại, mắm môi, lấy đà lao qua bụi cây thành ngạnh, nhanh như cắt, thò tay nắm cuống cái tổ ong muỗi bé và xám mốc như tổ chim sâu ấy; rồi nhân đà, tôi tiếp tục băng xuống phía chân đồi. Tuyệt nhiên không một con ong muỗi nào kịp hiểu là chuyện gì đã xảy ra với xứ sở bất khả xâm phạm và ngôi nhà chung đồ sộ của mình. Để an toàn tính mạng, chúng buông mình khỏi tổ và biến mất trong khoảng không phía sau tốc độ băng rừng của tôi. Chắc chúng không có mũi để đánh hơi tìm tôi, bởi từ độ ấy đến giờ không thấy con ong muỗi nào đốt tôi cả. Anh Tú tỏ vẻ xúc động thật sự, không nói nhưng tôi biết hình như anh đang so sánh xem tôi với người hùng của rừng Amazon nào đó mà anh hay kể, ai tài hơn ai, ai thú vị và hiếu khách hơn ai?!
Lên đến gần đỉnh Rừng Hồ, chúng tôi chia thành nhóm tiến theo các hướng mà chặt củi, hẹn gặp nhau ở đỉnh núi. Trên đỉnh Rừng Hồ có một hồ nước trong, xung quanh rêu mọc xanh rì, xung quanh nữa là cơ man nào thông. Thông lớn, bé, thông nào cũng reo vi vút. Không ai dám tắm ở đó, bởi người ta bảo, dưới đáy sâu tận cùng vùng hàm ếch của con hồ tựa lưng vào núi ấy có đường thông ra tận sông Đà. Chưa ai lặn vào đó để xem, nhưng cứ nước sông Đà đục thì nước hồ cũng đục, nước sông Đà trong thì nó cũng trong. Thỉnh thoảng ở phía thượng nguồn, từ trong lòng núi lại đùn ra những đụn nước ấm mà trong, lúc đã đục thì đỏ lòm lòm như loang máu tôi khi bị chết trôi mắc ở ngoài Cống độ nọ. Bà bảo, nước Rừng Hồ còn thông với cả một bản người Mường hẻo lánh ở tỉnh Hoà Bình. Bà đã sang đến bờ bên kia của ngách núi, chỗ ấy, tự dưng dòng sông bị ngấm dần vào đống cỏ rác lều bều trên mặt khe núi. Dòng sông biến mất trong lòng núi, và chỗ nó nhò lên chính là hồ nước trên đỉnh Rừng Hồ. Lúc đầu tôi nghĩ, bà đang kể chuyện thần thoại cho dễ ngủ. Nhưng rồi, trong một lần di củi, tôi đã tận mắt chứng kiến cảnh một cái bu gà vương vãi toàn lông lá nhò lên từ mạch nước dưới lòng hồ tuôn ra, như là nó chảy từ trong đáy vực duyềnh lên, chứng bỏ ở bên kia ngưồn nước kiểu gì cũng có người sinh sống, nhất là những người đó biết cả nuôi gà nhốt trong bu như xóm Búi Thông nhà tôi. Dẫu có thể chính họ cũng không hề biết dòng nước của họ biến mất đi đâu và đang chảy đến vùng đất nào. Người xóm Búi Thông ai cũng biết là trong vùng hồ minh mang ấy còn một con dải (giống như con ba ba) to như cái nong, màu trắng, nó có thể rút chân người xuống dưới nước rồi cứ thế nuốt chửng. Nuốt như con ếch nuốt con cua. Năm ngoái có người bị con dải dăn deo già ấy nuốt, hai cái chân trắng bệnh cứ thò ra vãy vãy tuyệt vọng. Ngay lập tức, người ta ta tổ chức tấn công và bắt được một con dải to, trắng, tinh quái thật. Cả xóm Búi Thông đi xem cảnh người ta làm thịt con dải chia cho bà con khắp khu vực. Thấy bảo trong bụng nó còn có cả vòng bạc, nanh lợn rừng, nanh hổ (chắc là đeo trong đồ trang sức) của những người bị nó nuốt?!
Song đó mới chỉ là một con dải đã sa lưới người. Vấn đề là con còn lại to hơn, tinh quái hơn.
... Tôi chưa chặt củi vội, bởi tôi thích nhìn cảnh cả cánh rừng rùng rùng chuyển động, những tán cây thấp bị ngả rạp xuống. Không thấy những đứa trẻ đâu, chỉ thấy những tán cây không gió mà ngả nghiêng rúng rúng. Tiếng chị Hảo thằng Quý hét lên, chị Hạnh ở bụi cây bên cạnh cũng vọt đi lao xuống dộc đắp nón mê lên gáy, ôm đầu nằm im. Không cựa quạy, chị Hảo thét lớn:
-Ong vò vẽ, chúng bay ơi!
Tôi cũng sững sờ đứng như trời trồng, chỉ đôi mắt dám gương gáo nhìn sau vành nón mê. Kinh nghiệm đi rừng cho thấy, vô phúc trêu phải ong vò vẽ thì đừng có dại mà cụ cựa. Lũ ong đen trũi ôm đầy thù hận ấy sẵn sàng xả thân tiêm nọc độc vào bất cứ kẻ nào huơ chân múa tay ở cạnh cái tổ vừa bị tấn công của chúng. Chúng lao như những củ tam thất có lõi bọc đồng. Bà Tình ở xóm Búi Thông chết vì ong vò vẽ đốt. Đàn ong bay túa ra như có một cơn lốc nào đó vừa bứt những chiếc lá màu đen của rừng tung hỏa mù vào mắt chúng tôi. Tôi dí miệng vào đáy nón gào lên:
-Anh Tú, ngồi yên. Nó đậu vào tai cũng phải ngồi yên. Nó đốt cũng đừng kêu, đừng có chạy!
Chắc là chiếc nón của tôi rung rinh hay là tiếng thét của tôi gây xáo động lạ gì đó trong không khí, lập tức, đàn ong bu lại. Tôi nhắm mắt nghe âm âm trong trời đất cơ man nào là tiếng gào thét của ong. Tôi đã từng dại dột mở mắt trong những tình huống như thế này, nên bây giờ nhắm mắt tôi cũng hình dung ra được. Một con ong tinh quái bất ngờ đậu vào sau gáy tôi. Bàn chân lông lá cứng quèo và ướt nhoẹt của nó quào vào mớ đuôi dế sau ót gáy tôi như bàn tay nẻ nứt toác với những cái móng cụt sứt mẻ hình răng cưa của bà đang đuổi bắt con chấy kềnh cho tôi vậy. (Bây giờ, khi đã gần 30 tuổi, đôi lúc những lúc sốt nóng tôi vẫn lạc vào những cơn ác mộng, trong đó có con rắn há mồm đỏ loét toàn máu nóng của ngón tay trỏ tôi; đặc biệt có những con ong bò vẽ với bàn tay bàn chân to như tay chân gấu, lông lá cứng ráp lởm chởm, nó sờ buồn nhây nhẩy dọc gáy dọc cổ tôi. Hầu hết tôi tỉnh dậy kịp khi mà bàn tay gấu ong với cái miệng rắn toàn máu người ấy chưa kịp "tiêu diệt" mình, thế nhưng mồ hôi hột với nỗi hốt hoảng vẫn ú ớ gào lên trong tuyệt vọng). Đang kể chuyện con ong bò vẽ, bò trên cổ tôi rồi, nó lại còn gọi thêm mấy con nữa, chúng nó kêu o o quanh vành nón của tôi. Một con bấu vào vành nón, như một kẻ thắng trận, nó tự tin và hống hách đu người, bò vào bên trong vành nón, nó bấu vào cái quai nón bằng vải màu hồng sờn rách mà mẹ vừa thải cho tôi. Nó đu đưa, rồi hình như nhận ra con mắt chảo chớp của tôi. Nó tiu ngay một quả vào má tôi. Tôi kêu inh ỏi tát một cái chí tử vào mặt mình. Con ong cứng như bằng nhựa đen xì ấy rơi bộp trên đầu gối tôi, lòng bàn tay tôi hằn lên một vệt đỏ hình tròn. Tôi điên loạn vung tay đập nốt hai con ong đang khám khám xét xét ở gáy mình. Tôi biết thế chẳng đặng đừng mới ù té chạy, tay cầm bó cây tươi đập loạn xạ. Tôi cứ chạy, nếu không phải Rừng Hồ có con dải kéo chân trẻ con xuống rồi nuốt chửng dưới đầm nước ấy thì tôi đã nhảy xuống, đã lặn một hơi cho những vết bỏng rát nhức buốt bớt hành hạ, và cũng là để cắt đuôi những viên đạn đen chứa nọc độc mà không bao giờ dám xuống nước tắm ấy. Đàn ong chia nhau đuổi theo tôi xuống đến chân đồi thì chúng chán nản quay lại canh gác mấy cái mê nón nâu màu đất kia, chúng bay lượn tìm hiểu đến cùng xem dưới vành nón là những kẻ phá sự yên tĩnh của tổ ong hay đó là đám đất, đám lá mục mà chúng đã quá đa nghi? Tôi bắt đầu ước ao, giá có tí vôi trắng ăn trầu của bà ở đâu thì tôi sẽ bôi một tý vào má mình cho đỡ xưng tấy. Chứ cái nọc ong nằm gọn ở trong lưỡng quyền thế này mà nó xưng lên thì chắc chắn mắt híp lại không còn nhìn thấy gì nữa. Mà không khéo lại méo mồm như năm ngoái. Nhưng lo hơn là anh Tú, là thằng Quý và chị Hạnh, chị Hảo. Đau bằng nào tôi cũng chịu được, nhưng họ thì sao? Mà đàn ong cứ cảnh giới vù vù trên đầu thế thì họ chết ngất vì sợ mất, mà không về được thì cũng chết ngất vì đói thôi. Phải phá tổ ong, cứu mọi người. Mẹ căm thù giống ong vò vẽ cay độc, nên không bao giờ tôi tính đến chuyện ăn nhộng loài ong tàn nhẫn và bạo liệt này cả. Tôi hiếu thắng trẻ con, chỉ nghĩ đến cuộc tiêu diệt kẻ thù mà thôi. Phải đốt băng bụi cây ấy, ngọn lửa bốc cao, khói mù mịt thì chúng nó mới nản chí bỏ đi. Tôi rắt bao diêm Thống Nhất với những que cuối cùng vào nách. Rồi nhìn cảnh những anh, chị, bạn của mình nằm la liệt như chiến trường sau một trận thảm sát, tôi từ từ nhích lên, mắt tôi vằn lên căm phẫn. Lúc nào lũ ong mải tuần tra những bụi cây khác thì tôi dùng cùi tay nhích lên một tý. Mồi cỏ giáng và cây sào dài nhích dần cùng bó củi khô. Cây sào tiến vào, khu vực tổ ong, những con ong già đời trận mạc bắt đầu bay theo tay sào tấn công. Tôi buông sào cách tay mình vài gang tay. Rồi lại im thin thít chờ thời cơ. Tiếng anh Tú ní nót như chơi trận giả. Có lẽ cơn hoảng sợ của anh chưa dứt. Chị Hảo, chị Hạnh hình như đã ngủ giữa bãi cỏ từ bao giờ, bởi không thấy dấu hiệu còn nhận thức của họ nữa. Có lẽ họ đã quá hoảng sợ. Mà thật thế, má tôi nóng rần rần. Nhức tê dại, cả ở gáy nữa. Cái mảng đầu ấy sờ lên thấy toàn xương với tóc thế mà con ong nó cũng chổng đít lên để tiêm được. Chỗ ấy chỉ thấy xương cứng điếng với lại da đầu dày không tài nào nhúp lên được, thế mà cũng sưng như quả hồng xiêm. Mặt tôi nặng dần, có lẽ cái mặt "nặng như đá đeo" của một người đang oán giận cuộc đời mà bà hay rủa nó như thế này đây. Nặng quá, mặt chùng xuống, mắt híp lại. Đàn ong quây dần về phía tổ, mắt tôi sáng lên, tôi nhỏm dậy lao bừa vào nằm sấp cạnh gốc chó đẻ hoa tím hắc xì. Tôi đã anh hùng, đã tiến công y như bài tập của các chú bộ đội hay tập ở đồi Lốc độ trước. Cây sào thừa đủ để vươn tới tổ ong. Tôi thận trọng châm lửa vào bó cỏ giáng, đợi lửa bốc to, tôi ném thẳng vào bụi cây. Đàn ong còn hậm hực quan sát thì một bó củi nữa bay theo. Tôi nằm bẹp ghí dưới cỏ. Đàn ong bay vòng vèo rồi bu đầy nón mê của tôi. Người ta bảo, con trước đã đốt rồi thì con sau nó ngửi mùi nọc con trước nó đốt tiếp. Nhưng chả phải. Nó đậu chán rồi lại bay đi. Ngọn lửa bốc to, khói mù mịt. Đàn ong như phát điên lên. Bà bảo con ong đốt người ta rồi, nó mất nọc và chết toi. Bà suýt soa cho sự anh hùng của con ong. Nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy một con vò vẽ tự nhiên lăn đùng ra chết cả. Chỉ có những con ong thiêu thân chết chảy thơm lừng trong lửa. Lát sau, trong ngọn khói hăng hăng mùi cây mua, mùi cỏ giáng tươi, không còn thấy một bóng ong đen nào nữa. Tôi tè một bãi vào đống lửa. Rồi hú gọi mọi người tỉnh dậy. Những tưởng mình tôi thương tích cho tất cả mọi người bình yên, ai ngờ chị Hảo cũng bị đốt. Một nắm sưng vều bằng quả táo mọc lên trên vừng trán có mớ tóc cong cong và nhành cặp tóc óng ánh của chị. Chị vẫn anh dũng cười khì:
-Nếu không đốt được chúng nó. Phải nằm đây đến tối, thì còn sợ ma bằng năm bằng mười ấy chứ.
Anh Tú tôi lành lặn trở về, tay vẫn nắm chặt bó dây vỏ bông bét nhớt choẹt. Anh nghe lệnh nằm im, là cứ nằm im co quắp thế, không ý kiến gì. Kiến vống bò qua cổ anh cũng kệ. Đến nỗi, khi tôi ra kéo đầu anh ra khỏi vành nón mê, thì cũng là lúc cỏ dưới bụng anh đã bị hơi nóng từ da thịt anh ấp cho nhàu nẫu, như là có ai đó vừa hơ lửa qua vậy. Hìnhnhư những ngọn cỏ bị ông béo đè hàng tiếng đồng hồ ấy cũng vươn dậy thở phào sau cơn đại hoạ? Trong cái may có cái rủi, thật chả biết thế nào. Tiếp tục chặt thêm củi cho tròn gánh, tôi vớ được một hốc tre và mấy khoang ong mật. Con ong mẹ đục ống tre một lỗ tròn xoe xoe rồi nằm trong yên chí trong đó tưởng đã bất khả xâm phạm. Tôi nút lỗ tre tròn như lỗ ống sáo ấy lại, chẻ đôi ra và túm được một chú ong mật chân tay chú râu ria nhồm nhoàm, trên lớp lông tơ ở đầu và chân chú ta còn vàng khè toàn bột phấn nhị hoa. Ống tre chết khô ấy thơm lựng, những cục mật nâu xám như mật mía cô đọng từng khúc tròn, ngửi mùi đã thấy ngọt lừ. Tôi và anh Tú chia nhau ăn mật. Chẳng biết anh Tú đọc sách nào người ta bảo rằng, hút được túi mật trong bụng con ong mới là tuyệt vời. Tôi bảo để tôi rình ngắt bỏ đầu nọc đen xì thò thụt lia chia như lưỡi rắn của nó đã rồi anh muốn làm gì thì làm. Nhưng anh Tú nhất quyết để anh tự làm, vì anh đã là người của đỉnh Rừng Hồ rồi. Tôi mặc kệ, vì nghĩ cho cùng con ong mật thì quá hiền lành, nó làm tổ ở khắp các dui mè, quá giang trong căn nhà, căn bếp, căn chuồng lợn toàn tre với vầu của bà tôi. Anh Tú ngắt đôi con ong, tưởng nó đã chết, anh xé bầu mật nhỏ như giọt sương vàng óng sắp rơi ấy ra ngắm nghía. Anh từ từ đặt cái đuôi ong với túi mật bé chỉ một giọt ấy vào đầu lưỡi. Bất thần, con ong co vòi đốt cho anh một nhát đúng đầu lưỡi. Không thể hình dung được lòng căm thù của chú ong thế nào, mà khi đã bị đứt đôi, đã bị ngắm nghía nửa tiếng đồng hồ, chú ta vẫn tiêm cho anh tôi một cái chí tử. Đốt một cái để rồi chết, cũng được. Đúng làmột chiến binh cảm tử. Nửa đường về anh đã kêu ngòng ngọng:
-Lưỡi của tớ đầy ụ cả trong mồm rồi Hoàng ơi!
Về đến nhà thì anh không nói được nữa. Mẹ bảo:
-Thế là cấm khẩu!
Suýt nữa mẹ đưa anh đi bệnh viện tít tít ngoài huyện. May có chú Tỵ chạy sang vẫn cười hệch hệch bảo:
-Ong đốt vào lưỡi! Đề kháng lưỡi thằng này rồi cao lắm. Rồi nó chén thì phải biết đây!
Tôi bảo:
-Lũ ong buồn cười thật. "Ong muỗi" (thực ra là rắn lục) tiu, ông Thẽm về đến nhà thì chết ngỏm. Ong mật đốt, anh Tú về đến nhà thì cấm khẩu! Thằng Hoàng này thì mặt nặng như đá đeo.
Chú Tỵ lại thò hai ngón trỏ và tay giữa của bàn tay phải lên trước trán vẫy vẫy như làm hiệu. Rồi hóm hỉnh chêm vào:
-Con Hảo đã bị ong châm lại còn bị cắm sừng!
Tôi không biết chú định nói gì. Mẹ tôi chửi:
-Cái chú này! Chúng nó trẻ con. Chú đừng có nhảm.
Mẹ lấy bình vôi gác ngoài gốc mận của bà vào bôi đầy mặt và đầu tôi. Chị Hảo cũng bị một dấu vôi trên trán. Chú Tỵ lại đùa:
-Bị cắm sừng vẫn bị gọt gáy bôi vôi!
Chị Hảo 14 tuổi, mặt đỏ dừ.

(còn nữa)

Búi Thông thơ dại (phần 6)... Thơ dại (Phần 8): "Cổ tích" của bà và cuộc chia tay khó khăn với những đồi chè

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28