nhân dịp đọc lại vài dòng viết cũ
Friday, January 21, 2011 4:40:16 AM
Trên cánh đồng làng mình...
Tản mạn và chùm ảnh của:Lãng Quân
(Làm ơn, quý vị hãy ký đúng bút danh này của tác giả)
Lần này, xứ Đoài thương mến của tôi đã được nhập vào Thủ đô Hà Nội được cũng lâu lâu rồi. Dù Đoài phương khuất nẻo với những đám đốt nương của người Mán (Dao) hãi hùng trong những đêm thơ ấu của tôi dưới chân núi Ba Vì bịt bùng; dù thành Sơn Tây cổ kính bị đập bỏ phom cổng cổ, trang hoàng đèn điện xanh đỏ bởi cái dự án phi bảo tồn, tiêu tốn hàng chục tỷ đồng tiền thuế của dân của nước vào để “gọt bỏ rêu phong, trưng thêm vôi cát”; dù Đoài xứ đã chính thức “nhập làm một trên bản đồ” với Kinh đô Thăng Long - Hà Nội,... dù thế nào, thì trong tôi, xứ Đoài vẫn là quê hương, Đô thành vẫn là đất khách. Dù thế nào, tôi vẫn cứ đi và về giữa hai miền quê đó, bên là chốn gốc phần thanh bình tột độ “quê hương mỗi người chỉ một”, bên là cõi thi thố có cái gì đó dễ khiến người ta đều có cảm giác vật lộn và tủi phận. Nơi người ta nhoai ra bằng mọi giá, “bơi lội lặn ngụp” chán rồi lại muốn hồi hương bằng mọi giá.
Ngồi trên nóc đình làng, đám thợ ăn mắm tôm thịt chó
Khi đầu đã có nhiều sợi tóc bạc vì “xấu máu”, có một đêm, như rất nhiều đêm cuối tuần khác, tôi trở về và đi dạo trên đường làng với ông bố ngoại lục tuần của tôi. Những ngôi mộ vừa nhấp nhổm vừa im lìm đến hăm doạ trong vùng trũng của gò đồi. Bố tôi bảo: ông Giáo nằm đây, cụ Cai nằm đây, ông Ấm cả chỗ này. Trong kia là chút ánh điện le lói còn lại của đêm quê hương. Mấy trăm năm qua, từ bốn phương trời, từ bao khát vọng và tráng chí của bao nhiêu “triều đại” với đường công danh đôi khi “trái chiều” đến mức có người nằm dưới mộ đã bị “cái ông nhất đội nhì giời” xử tử trước cổng làng mà bố tôi đã chứng kiến... - tất cả các cụ nằm đây, có người cùng lứa, cùng họ, cùng đệm, cùng đi tán gái làng với tôi cũng đã sớm sủa nằm đây. Rồi bố tôi và tôi cũng sẽ phấn đấu để được ngậm cười nằm ở đây. Dù không muốn, dù rùng mình tủi phận đến hoang mang, chúng ta cũng phải chấp nhận cái lối về chẳng thể khác được đó. Cũng cần thấy, nếu được nằm trên cánh đồng làng mình khi hết việc trần gian, luôn là niềm kiêu hãnh của tất cả chúng ta.
Bất giác, tôi nhìn xuống cánh đồng làng, bằng một cái nhìn khác, cái nhìn của người đã có nhiều sợi tóc bạc trên đầu. Lời bố tôi như một thứ bùa chú vang lên bên những ngôi mộ đêm: “Đất trăm người ở/ ruộng trăm người cày”, mấy nghìn năm qua, ở cái làng đầu tiên và duy nhất được Quốc gia tôn vinh là làng tiêu biểu nhất cho nền văn minh nghìn năm Đại Việt này. Con đường này, cánh đồng này đã có bao nhiêu thế hệ người đi qua và cày cấy. Đã sống và nằm xuống.
Con đường và hệ thống di tích xứ Đoài, cái văn hoá xứ Đoài như thế, làm sao người bé nhỏ và hữu hạn như tôi có thể hiểu nổi. Đất trăm người ở, ruộng trăm người cày. Trong một ngày nuối tiếc nhiều di sản Đoài phương đã tuột khỏi bàn tay đứa con bé bỏng mới chỉ chưa đầy bốn mươi năm tuổi trời là tôi, tôi thêm thấm thía về một xứ Đoài mong manh tuyệt độ. Mong manh ngần ấy, mà bàn tay người ta đang phũ phàng ngần ấy, thì thử hỏi làm gì có rêu phong kỳ ảo nào không bị các dự án “khách ba chúa nhà bảy” (ăn phần trăm, chấm mút kim tiền) biến cả thành bê tông cốt thép. Biến những cái lưng túi gió trăng của miền đất mỗi bước chân mỗi huyền thoại vi tế này vào guồng quay của thịt chó mắm tôm, thì “lòng nào lòng chẳng xót xa”.
Lại nhớ vụ thịt chó mắm tôm ở đình làng tôi. Nước Việt Nam mình, mỗi miền nổi tiếng với một “đặc sản” di tích mà không ai là không bị quyến rũ: “Cầu Nam/ Chùa Bắc/ Đình Đoài”. Xứ Đoài nâng niu trong mình những ngôi đình cổ nhất, đẹp nhất, quy mô nhất, huyền hoặc nhất nước Nam ta. Một trong những ngôi đình rất đẹp, được Nhà nước đầu tư hơn 10 tỷ đồng để trùng tu, rồi trùng tu “tai tiếng” xót xa nhất, bị báo chí chỉ trích nhiều nhất, Trung ương và Hà Tây (cũ) phải đau đầu nhất - đó là đình Mông Phụ. Hướng đình lệch, nền định lát sai quy cách, đầu đao con giống đẹp... buốt lòng, cổ kính nao lòng bị vặt như vặt râu tôm để rang muối, rồi cứ thế cho thợ vụng lên nặn bù vào đó, chỗ nào chưa chuẩn thì... đổ keo Con Voi vào. Một lối trùng tu kinh hoàng đã khiến Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phải về thanh tra rồi kết luận những sai phạm, đơn vị thi công phải “muốn sống đem vôi quét trả... đình” bằng cách thi công sửa lại. Nhớ cái hôm bô lão tử tế nọ đến tìm tôi để kêu cứu, cụ bảo: chúng nó mắng tôi, rằng chúng nó mang tiền đến sửa đình cho chúng tôi, làng các ông không phải bỏ đồng trinh sứt mẻ nào ra rồi, giờ lại còn kêu ca lắm mồm gì. Chúng nó trèo lên nóc đình, mặc quần cộc, thò chân đạp ngói mấy trăm năm tuổi của chúng tôi xuống rào rào, vỡ tan tành té bẹ. Rồi nó mang thịt chó mắm tôm vào gian giữa đình làng tôi bù khú với nhau”.
Gìn vàng giữ ngọc ở làng cổ Đường Lâm
Có cảm giác rằng, người ta trùng tu tôn tạo di tích không vì bản thân di tích mà chỉ vì dự án đã xin được tiền hay chưa. Lúc có “kinh phí” rồi thì buộc phải... “hạ giải” (tháo rỡ) di tích thôi! Có cảm giác rằng, trong cơn lốc của nền văn minh kỹ trị mà những thị dân non lấy bấy tập tọng “quý-sờ-tộc” của chúng ta đang bị cuốn theo kia, các thị dân chỉ cần một chốn giống như là cổ kính để diễn trò, những cái trò trọc phú của mình. Thế là xứ Đoài gần thủ đô bị cuốn theo, nó bị biến thành cái sân sau hơn tục tằn của đám thị dân non. Người Đường Lâm không có lỗi trong câu chuyện vĩ mô, dài tập và khôn lường này. Nói đúng ra, có cung ắt có cầu, cái gì có lý là có thật, xứ Đoài với các con dân thật thà và thiếu đề kháng trước cái tân kỳ (đồng tiền!) đã tự sửa mình để hào hứng cuốn theo “cơn lốc” kia. Xứ Đoài mong manh làm sao không mai một.
Giữa lúc ấy, những gì “gìn vàng giữ ngọc cho hay/ cho bằng lòng kẻ chân mây cuối trời” ở làng Việt cổ Đường Lâm thật đáng trân trọng và nâng niu. Dù tiếc nuối những cái đã mai một, nhưng vẫn phải nói rằng, cái gì còn lại ở Đường Lâm hôm nay vẫn là đáng sửng sốt. Làng tôi vẫn thật đẹp, vẫn quyến mời nườm nượp du khách trong và ngoài nước, vẫn tự phát biến thành một phim trường khổng lồ cho các vị đạo diễn trong cơn khát một trường quay nông thôn Việt cổ kính và thanh bình đích thực. Vẫn là một “điểm đến” tuyệt vời nhất để đông đảo học viên các khóa “đến hẹn lại lên” của hai trường Đại học Mỹ thuật “Yết Kiêu” và ĐH Mỹ thuật công nghiệp trở về ngồi rù rì, củ mỉ khắp các ngõ gạch bờ kênh mà vẽ. Họ cứ miệt mài ve, vẽ và vẽ quanh năm ngày tháng. Một con đường đất đỏ ròng ròng chảy dọc các triền lúa xanh, xa xa là những mái nhà, mái chùa cổ uốn cong, cảnh trí ấy đã bao đời này nó khiến lòng người ta chùng xuống vì thương nhớ. Một ngôi đình thanh bình, hai gốc gạo tẻ và nếp, bốn bề không rào giậu, những thớt đá xanh nền đình mọc lên giữa gò đồi xanh ngọc ngà. U tịch đình thờ anh hùng dân tộc Phùng Hưng, mênh mang cổ thụ lăng thờ vua Ngô Quyền. Rặng ruối buộc voi của binh tướng cụ Ngô Quyền vẫn xanh um, trùm xòa, nghìn năm tuổi đứng đó. Tứ thời khí thiêng bay là là khắp các mỏm đồi tán lá, đêm đêm, người Đường Lâm vẫn tin rằng có tiếng voi gầm ngựa, hí tung vó đòi xung trận ở Đồi Gầm, Hủm Thí. Những con ngõ gạch xếp nghiêng dẫn vào các khu giếng làng đá ong, các gờ rãnh dây gàu, dăm trăm năm qua đã kéo còng lưng bao người chị, người mẹ? Nhoai lòng theo các sợi dây neo ta về nghìn năm cha anh kia, nhưng cũng cần cảnh tỉnh thêm nhiều nữa một cái điều đã cũ. Là: cái góc tâm điểm của xứ Đoài kia, sao cổ kính và mong manh đến vậy! Sự mong manh ấy, cần được hiểu và đối xử tinh tế xứng tầm chứ. Sao nỡ đem những câu thơ đầy hương sắc của muôn đời tao nhân mặc khách vào phòng thí nghiệm để phân chất các mùi hương rồi sản xuất công nghiệp. Đừng mang thịt chó mắm tôm vào đình làng nữa nhé.
Có câu chuyện thế này: ông Hải, nghệ nhân làng khéo tay, mấy mươi năm kỳ khu sửa nghê, nắn phượng của hệ thống di tích làng tôi vừa chết. Đám tang của ông khiến nhiều người chợt nhớ ra một điều: ông là người tình nguyện bảo vệ di tích giản dị và tâm huyết nhất. Ông coi việc coi sóc, sửa sang cửa nhà Thánh, nhà Phật là việc của tâm linh! Chỗ nào hỏng là ông sửa, chữ nào của tiền nhân bị mờ là ông tô lại, cả đời ông đã ngắm, đã nghiên cứu đình chùa miếu mạo linh thiêng quê mình, ông làm thuần thục, tình nguyện, mải mốt, chỉ với một dao xây, một thước thợ, xi măng mảnh sành thì cứ dùng đâu ngào đập đến đấy. Chiểu theo luật Di sản thời mới, thì ông Hải là ông phạm trọng tội “phá hoại di tích”, bởi ông không có chuyên môn, không được cấp phép, không được giải ngân tiền tỷ mà dám tự ý thay đổi hiện trạng di tích! Nhưng, ai cũng hiểu, ông Hải mới là người nghệ sỹ, người thợ trùng tu đích thực, một con dân lương thiện và tài hoa, ông đã bảo vệ di sản bằng cả tâm linh nữa. Ông đã góp phần giúp xứ Đoài giữ được cái hồn của mong manh ấy. “Người nhà nước không biết sửa đình chùa đâu, làm đẹp mà lại không cần chục tỷ trăm tỷ, chỉ có ông Hải”, các cụ làng tôi lắm chữ, biết nhiều “Nho nhe”, hào hứng đưa ra cái nhận xét rất “sốc” này, trong đám tang ông Hải.
Thật thế, nếu ai không tin, cứ đi hỏi cả làng tôi thì khắc biết...
L.Q












