My Opera is closing 3rd of March

Cực Bắc.

Những trang sử đá

Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng

Hành trình lên với miền địa đầu Hà Giang, cực Bắc tổ quốc bây giờ khá dễ dàng, thông tin về miền đất quyến rũ này thì lại càng tràn ngập sách, báo, các trang mạng. Bởi đất thiêng tột Bắc nước Việt Nam, ngay cả khu cột cờ Lũng Cú vốn hoe hoắt hiểm trở, bây giờ đường xá cứ veo veo. Có thể đi từ sáng đến tối, chỉ với cái xe máy Tàu hay chiếc Ma-tít yếu đuối ngỡ chỉ dành cho các bà nội trợ đi siêu thị thôi, bạn có thể hò hét giữa mây mù, ôm cột cờ Lũng Cú mà khoe bạn bè tràn cung mây (theo lối của các bạn trẻ thích dùng cái từ kỳ cục: “phượt”). Ô tô lên tận nơi, bản Lô Lô Chải giữa heo hút tận cùng dải biên cương phương Bắc này, giờ bà con cũng làm du lịch son phấn lẫy lừng, cũng hôm-sờ-tay cho khách ngủ tại nhà, cũng đoàn văn công í a í ới.



Bất giác thấy mình già sọm đi

Cột cờ Lũng Cú vốn là một cây sa mộc dài 13m, thẳng vút, kiêu hùng, rồi xây thành cột bê tông khổng lồ các mặt ốp hình trống đồng, trên nóc treo cờ đỏ sao vàng rộng 54m2, tượng trưng cho tình đoàn kết 54 dân tộc anh em trên nước Việt Nam; nay có điều kiện, ta “trùng tu” xây cái cột trị giá 25 tỷ đồng, to vĩ đại, cầu kỹ vĩ đại. Mừng lắm, nhưng nhiều người cũng nuối tiếc lắm, phàm những chỗ hành hương, những nén tâm nhang và tấm lòng yêu thiên nhiên, bản sắc xứ sở, cứ gì phải nhất nhất là to đẹp và mới toe. Tôi nhớ nôn nao những ngày chiếc xe u-oát của Bộ tư lệnh biên phòng chở chúng tôi phải nằm tắc ở tít ngoài xã Ma Lé, anh em đi bộ vào đồn Lũng Cú, ăn nhờ ngủ chực, rồi lếch thếch leo qua vách núi, qua cánh đồng Thèn Pả, buốt lòng với đám trẻ người Lô Lô nhếch nhác trong gió mùa Đông Bắc luồn lỏi như kim châm, rồi bở hơi tai leo lên khu vực cột cờ Lũng Cú. Cán bộ trạm cứ thở than, chao ôi là gió lớn, cờ lớn, gió to, gió xé cờ tơi tả, bọn em chỉ những lên thay cờ cũng đã mệt rồi. Nhưng mà đó là cái mệt nó làm mình tự hào, mình được đồn trú ở đất thiêng này. Nghe kể, bắt đầu từ năm 1978, lá cờ rộng 54m2 đã được treo ở vị trí thiêng này.

Chúng tôi lái ô tô thẳng vào khu vực chân cột cờ Lũng Cú, đồng hành có nhiều bạn trẻ đủ Bắc, Nam, du học sinh và mấy cậu học sinh người Mông ở Đồng Văn. Tôi hỏi chuyện gì liên quan đến Lũng Cú họ cũng ậm ừ. Cái họ muốn là leo lên thẻo đất Cực Bắc tổ quốc, chụp ảnh và khoe ai đó, hoặc ai đó hỏi thì tớ cũng lên đấy rồi đấy nhé. Bất giác, tôi thấy mình già sọm đi, dường như, lần nào lên Hà Giang, trôi dốc trèo đèo Đồng Văn, Mèo Vạc, tôi cũng miên man như một ông già hay kể chuyện cho con cháu bằng cái giọng kẻ cả “chúng tao ngày xưa”, “chúng mày bây giờ”. Tôi không muốn thế, cũng không nghĩ mình đã già, nhưng cái miên man buồn vì phong trào du lịch mà chẳng chạm đến được cho xứng tầm với cái tuyệt vời của miền địa đầu nồng say Hà Giang thì rất thật. Rất là da diết. Trước khi được làm mới cho đàng hoàng, to đẹp hơn - đầu tư khoảng 25 tỷ đồng (năm 2010) - cột cờ Lũng Cú cũng đã to lắm, nó mới được xây vào cuối năm 2002: ở độ cao 1.700m so với mực nước biển, cột cao 20m, theo vóc dáng của cột cờ Hà Nội, phần đế có 6 mặt mô phỏng hình trống đồng Đông Sơn. Cột cờ mới cao 33,15m; đi trong lòng cột cờ, vượt qua 135 bậc thang mới tới đỉnh. Đặc biệt, chân cột có hình bát giác, với mỗi cạnh là đá xanh, mô phỏng các giai đoạn của lịch sử dân tộc. Quý hóa quá. Song, dù chỉ là cây cột pơ-mu, hay trước kia chỉ là đỉnh đồi có hai hồ nước bốn mùa xanh thắm không vơi cạn giữa đỉnh trời (tương truyền là hai cái mắt của con rồng thiêng), thì Lũng Cú vẫn là tột Bắc Việt Nam, vẫn thiêng liêng trong tâm thức mỗi người. Tôi đến và thấy người ta áp ngực vào đỉnh đồi, muốn nghe hơi thở của miền đất thiêng. Địa thế đẹp kỳ lạ, không gian biên thùy xa ngái mơ màng, Lũng Cú, có thuyết dịch là Long Cư, nơi rồng thiêng đang ngự, thế nên hai hồ nước lạ ở vùng cao nguyên muôn đời khô khát mới gọi là mắt rồng. Thuyết khác nói, Long Cổ, nghĩa là cái trống của vua. Rằng, sau đại thắng quân xâm lược nhà Thanh, vua Quang Trung đã cho đặt một chiếc trống đồng ở trạm gác biên ải này, mỗi ngày, ba hồi trống vang rền bốn cõi, khẳng định chủ quyền quốc gia. Bấy giờ, trống đồng là phương tiện vang xa nhất, đồng bào mỗi ngày nghe tiếng trống, là hiểu biên thùy vẫn bình yên, lời thiêng của vua nước mình vẫn còn đó. Nghe nói, trạm biên phòng Lũng Cú bây giờ, chính là chỗ Hoàng đế Quang Trung đặt Long Cổ ngày trước.

Miền đất của những “kỷ lục” dữ dằn

Ít ai hình dung được, bây giờ, ở chung quanh cột cờ Lũng Cú, bà con người Lô Lô vẫn sử dụng trống đồng trong hội hè, tang ma, như người dưới xuôi sử dụng trống da trâu! Trống đực, trống cái, trống đánh xong phải chôn xuống đất kẻo sợ con rồng dữ đến cướp mất. Lại nữa, cao nguyên Đồng Văn (gồm 4 huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Yên Minh) là miền cao nguyên đá duy nhất của Việt Nam. Tóm lại, cái vẻ đẹp của “văn hóa” đá tai mèo, “văn hóa” đèo dốc và các cộng đồng người “sống trên đá chết vùi trong đá” là bản sắc xuyên suốt nơi này. Thiên nhiên đã ban tặng cho Việt Nam một miền đá miên man khốc liệt, đói nghèo lầm lạc từ đó, mà di sản kỹ vĩ đắm say cũng từ đó. Núi Cô Tiên với hai bầu ngực mơn mởn ở Quản Bạ, dốc Bắc Sum xoắn như cái ruột gà, đèo Mã Pí Lèng là đệ nhất hùng quan của trời Nam với những vách đá vôi cao nhất thế giới tạo ra những hẻm vực rợn người. Các cổng trời như Quản Bạ, đặc biệt là cổng trời Cán Tỷ, thì đúng là ở Việt Nam không có hiểm địa nào kiểu kiểu Tam Quốc chí - “một người địch muôn người” - như thế. Núi cao chất ngất án ngữ con đường thiên lý, các khe hẹp, các đỉnh đèo hiểm trở hiện ra, chỉ một người đứng trên cao, nghìn quân không vượt qua được. Thiên nhiên dữ dằn, khốc liệt đã khiến mạng lưới công viên địa chất toàn cầu, tháng 10 năm 2010 họp tại Hy Lạp, đã chính thức công nhận cao nguyên đá Đồng Văn là thành viên. Đây là công viên địa chất đầu tiên của Việt Nam, công viên thứ hai của Đông Nam Á.
Nhưng cũng chính thiên nhiên dữ dằn đó đã sinh ra những câu chuyện lịch sử chẳng giống ai. Khoảng đầu những năm 1960, nạn đóng cổng trời, nổi phỉ, mổ bụng cán bộ treo lên cây làm bia… tập bắn. Nạn xưng vương lập quốc, đánh lại quân lính Cụ Hồ, chính ông Vương Chí Sình (“vua Mèo”), nếu không có tài dùng người của Hồ Chí Minh, thì chẳng bao giờ lại “quy hàng” về làm Đại biểu Quốc hội rồi an vị ở thủ đô đến cuối đời. Cũng vì đèo dốc, sương mù, chênh vênh biên tái, nên vùng Đồng Văn từng được mệnh danh là “Hồng Công/ Ma Cao của Việt Nam” bởi nạn nghiện hút, trồng thuốc phiện bán ra nước ngoài thành từng đường dây khổng lồ, nhiều thế lực cùng ra tay muốn biến “vàng đen” ma túy này thành sức mạnh cho các mưu đồ chính trị đen tối. Cũng vì thế, nên cao nguyên đá bây giờ mới có “chứng tích” không thể bỏ qua về các thủ lĩnh vùng cao như Vương Chí Sình, Dương Trung Nhân… Bên di tích quốc gia Nhà Vương, bên mộ “vua Mèo” bằng đá, còn có khắc hình song kiếm, với tám chữ vàng do Bác Hồ tặng khi kết nghĩa anh em với “cụ Vươn”: “Tận trung báo quốc/ bất thụ nô lệ”.

Nếu ai đó muốn thử tay lái của mình, xin hãy một lần đi vòng quanh các cung đường chóng mặt, vặn xoáy của địa đầu mê tơi phía Bắc Việt Nam. Đã xuyên qua cao nguyên đá, bạn hãy tin, bạn có thể xuyên bất kỳ vùng nào của Việt Nam, cốt sao có đường và có… xe. Càng đi mới lại càng thêm một lần miên man ngẫm ngợi. “Vua Mèo” từ trần năm 1962 tại Hà Nội, bấy giờ là đã 4 năm trời Trung ương huy động hàng vạn thanh niên của 6 tỉnh Khu tự trị Việt Bắc liên tục phá đá mở đường, thế mà thi hài “cụ Vương” vẫn phải khênh mấy ngày chông chênh trên vai các đô tùy trèo núi, mới vào đến “khu thái ấp xưa”. Trước, đường lên thị xã Hà Giang hiểm trở vô cùng, ô tô đi được từ hồi thuộc Pháp, nhưng nhiều đoạn hoang vu đến mức, chỉ có hai bánh xe là có đường thôi, còn dưới gầm xe đang bon, cây cỏ mọc lúp xúp, kín bưng. Năm 1959, khi Chính phủ quyết định mở đường vào Đồng Văn, Mèo Vạc, lãnh đạo tỉnh Hà Giang lúc bấy giờ, có nhiều người quyết liệt phản đối, lý do đơn giản là không thể làm đường xuyên qua đá được đâu. Nói như bà con người Mông, bao giờ con dê đực biết đẻ thì đường ô tô mới vào được đến Mã Pí Lèng. Con đường mà khi mở nó tốn nhiều ngày công nhất, làm liên tục nhiều năm nhất, hy sinh nhiều người nhất… của cả lịch sử mấy nghìn năm nước Việt Nam, chắc chắn là đường Hạnh Phúc dài gần 200km từ thị xã Hà Giang đi Mèo Vạc. Bây giờ, trước cửa huyện ủy Mèo Vạc thời mới vẫn còn một tấm bia, nó được dựng năm 1963, kể về 8 năm ròng rã, hơn 2 triệu ngày công (!!!) của thanh niên của 16 dân tộc, thuộc 8 tỉnh đã bỏ ra để làm đường. Họ làm một cách thủ công, hiện đại nhất là chế ra cái xe gòng để giải phóng đôi vai. Sau đó, Trung ương có huy hiệu riêng của thanh niên làm đường Hạnh Phúc, có nghĩa trang riêng để tưởng nhớ những người ngã xuống cho con đường được khai sinh (đặt tại Yên Minh). Đặc biệt, ở đỉnh đèo Mã Pí Lèng hiện nay, cũng còn khắc tấm bia, phải mất 11 tháng trời, thanh niên của 8 tỉnh phải treo mình trên vách đá thì mới mở được đường qua nơi này. Tôi từng bấm máy tính, chia 2,2 triệu ngày công cho con số 365 (số ngày trong một năm) để thử tính xem, một người liên tục làm, thì bao nhiêu năm mới đạt con số 2,2 triệu ngày công. Xin thưa, mất 6.027 năm (sáu nghìn không trăm hai mươi bảy năm!). Như thế để thấy sức người, chỉ tay trần, xà beng, mũi dùi bằng sắt, họ khảm tuổi xuân, sức trẻ của mình vào đá để mở đường. Con đường ra đời, hơn 8 vạn đồng bào của hơn 10 dân tộc của 4 huyện vùng cao nguyên đá tỉnh Hà Giang được lần đầu tiên nhìn thấy đường ô tô.

Chết cho con đường được khai sinh

Nhiều lần trong số rất nhiều lần lang thang tìm kiếm tư liệu về lịch sử vùng cao nguyên đá, khi đã thấy ảnh mình chụp người ta tự động phóng to treo trên đỉnh Mã Pí Lèng cổ động du lịch, khi đã kết nối được nhiều cựu thanh niên xung phong mở đường hạnh phúc (sống khuất nẻo ở các tỉnh thành suốt 50 năm qua ước mơ một lần được trở lại con đường xưa, nơi một phần quan trọng trong tuổi trẻ của mình đã gửi ở đó, nơi nhiều bạn mình vĩnh viễn nằm lại…), chúng tôi bèn đề nghị mở một cuộc triển lãm về “50 năm mở đường Hạnh Phúc”, đề nghị cho các vị “anh hùng” kia trở lại chiến trường xưa. Tư liệu của chúng tôi được tham gia trưng bày, đã là kim chỉ nam cho cán bộ bảo tàng Hà Giang đi sưu tầm hiện vật. Đặc biệt, trong những ngày hầu cận những người gần đất xa trời trở lại đỉnh Mã Pí Lèng – nơi họ đã tạo nên kỳ tích anh hùng, dùng cơ bắp mình phá đá mở con đường khủng khiếp nhất Việt Nam - có một câu chuyện “rợn người” đã được kể lại, với nhiều nhân chứng, vật chứng không thể sinh động hơn. Rằng trong 11 tháng buộc dây vào người, đu trên vách đá, mở từng milimet đường qua Mã Pí Lèng, mỗi ngày, đội Cơ dũng (cảm tử) đều chào lá cờ tổ quốc, chào bạn bè trước khi đu mình xuống vực sâu, với tâm trạng, mình hoàn toàn có thể chết trong ngày hôm đó. Chết cho con đường được khai sinh. Trên đỉnh núi cao, có 11 cỗ quan tài đóng sẵn cho 11 người. Con đường đã ra đời từ dòng máu anh hùng, xả thân vì đất mẹ như thế. Ông Đào Ngọc Phẩm đã rơi xuống đáy vực, thi thể nát nhừ, ông Minh, ông Thùy (đang sống ở thị xã Hà Giang) đã đi nhặt xác bạn, thả vào một cỗ quan tài, chôn ở gốc đa Pả Vi gần đó.

Sau này, khi đã đến hầu khắp các điểm “cực” xa xôi, tận cùng, hiểm trở nhất của Việt Nam, tôi cũng không gặp một địa đầu nào mà lại mỗi vòng xe lăn mỗi huyền thoại như điểm khởi đầu Cực Bắc - những trang sử đá đẹp sững sờ, có cái gì thật khốc liệt và mênh mông chi xứ này.
Đ.D.H
Kèm theo chùm ảnh

Cực TâyĐã đi hết các điểm cực của Việt Nam !

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28