My Opera is closing 3rd of March

Đại Phật

Dưới bóng đổ nghìn năm của Đại Phật…

Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng

Thấy bảo, từ Tây Tạng về Việt Nam, muốn bay con đường phổ biến, ngắn và đỡ đắt đỏ nhất, thì không thể không hạ và cất cánh ở Thành Đô (thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Tôi hỏi Vương, chàng hướng dẫn viên yêu chữ nghĩa như một học giả bạc đầu: “chỗ nào của đất Ba Thục (Tứ Xuyên) mà tớ không thể không đến?”; Vương khúc chiết: Nếu, Tây Tạng kỳ vĩ, núi, tuyết và lòng mộ đạo của người bản xứ khiến anh nghĩ đó miền đất của thánh thần. Việc anh lang thang ở đó, nó có cái gì như là chuyến đi của kiếp phận. Ra về, anh như Từ Thức ngoảnh bỏ Thiên Thai không dám hẹn ngày tái ngộ. Thì, Lạc Sơn Đại Phật quê tôi sẽ làm anh thấy thảng thốt, choáng ngợp, hoang mang không lý giải được, tại sao trí và sức con người, tại sao niềm tin tôn giáo lại có thể kỳ tạo nên các công trình diệu đến như vậy. Một bức tượng Phật ngồi 71m, cao nhất thế giới, được khắc vào vách núi đá vòi vọi chất ngất - ngài ngự ở ngã ba sông đó đã khoảng 1.300 năm...

Nghệ thuật kinh doanh huyền thoại



(xem ảnh tại đây:
http://laodong.com.vn/Tin-tuc/Trong-bong-do-nghin-nam-cua-Dai-Phat/44849

Nằm cách thủ phủ Thành Đô 2 giờ xe chạy, đất Lạc Sơn mơ màng với những đồng lúa mạch vàng ươm bát ngát. Người ta khai thác đến không thể triệt để hơn kỳ quan, di sản văn hóa thế giới (đã được UNESCO công nhận từ năm 1996) Nga My Sơn và Lạc Sơn Đại Phật để phục vụ du khách. Tranh ảnh, tượng phật nhỏ, quà lưu niệm… bày bán quy củ với những “nghệ thuật hút khách” rách giời rơi xuống. Thậm chí, nếu mua “tua”, bạn khó có thể từ chối được yêu cầu phải đi mua các loại danh trà, bánh, kẹo, thậm chí cả sinh tố chè mạn (!), với một khu quy hoạch mĩ miều, tấm biển kỳ vĩ lấp lánh niềm kiêu hãnh: thế kỷ 21 là thế kỷ mà thế giới vinh danh trà Trung Quốc. Phải nói rằng, nếu người Việt Nam và nhiều quốc gia mới chỉ biết đến chè tươi, chè mạn pha bằng ấm giót ra chén nhỏ mời nhau, thì người Tứ Xuyên cho khách ăn và uống xiết bao món lạ từ trà như vậy cũng tinh tế, xúc cảm và đáng đồng tiền bát gạo lắm. Chưa hết, trước khi “lòng lưu luyến bước chân xuống thuyền” để vượt bến lau lách đìu hiu của sơn trấn Lạc Sơn, bạn còn phải đi vòng vèo với những tấm biển chỉ đường cũng nhất tề vẽ ông tượng Phật ngồi cao to nhất thế giới để… đi mua ngọc. Ngọc hoặc đủ loại thạch anh, đá quý đó (nghe nói) được khai thác ở xung quanh khu ông Đại Phật về rồi chế thành trang sức, vật trưng bày, nó “thiêng và quý như một thứ bùa chú, như lời sấm truyền của Đại Phật” cho người sử dụng. Trời Thành Đô mùa này nóng nực y hệt Việt Nam khi học trò bắt đầu nghỉ hè. Nhưng, bước vào phòng lớn, lộng lẫy sắc màu đá quý và đèn chiếu giới thiệu về Đại Phật, bốn bề, máy lạnh chạy êm như ru ngủ, các em váy áo lộng lẫy liên miệng “xia xìa” (cảm ơn) nữa nhé. Ngọc hay đá, hay bột đá hay thủy tinh pha màu, chả biết được, nhưng khách được sống trong một không gian huyền hoặc và vi diệu nào đó do người giới thiệu sản phẩm họ dựng lên, thế là tôi thấy nhiều người bỏ một hai nghìn Mỹ kim ra mua một viên đá bé tẹo như chơi. Có người đi du lịch nhiều, kể: họ mua ngọc về nhà; khi lời giới thiệu lớp lang huyền thoại của cô bán hàng không còn văng vẳng bên tai nữa, họ quẳng ngọc quý vào góc nhà. Rồi lần sau mon men đến không gian trùm phủ khói sương cổ tích kia, họ lại xắm nắm để mua “bảo vật”.

Đồn rằng, đi du ngoạn thế giới, hễ cứ mua cái gì là coi như được cái đó. Cái gì mua được bằng tiền thì đều rẻ cả. Người Trung Hoa cực giỏi kinh doanh huyền thoại, cái gì cũng cơ huyền mênh mông kiểu thế cả. Nhưng, tôi đang nóng lòng bước xuống ngã ba sông lừng danh sử sách của đất Ba Thục (nơi ba anh em Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi từng kết nghĩa vườn đào) để được đứng dưới bóng đổ của nghìn năm Đại Phật. Cổng vào cổ kính, thâm nghiêm, biển chỉ đường nào cũng phải vẽ Đại Phật Di Lặc đặt tay lên gối, chiếc đèn đường nào cũng làm bằng đồng hoặc mạ đồng, nó được treo dọc lối đi như những chiếc chuông chùa đúc từ thuở Thịnh Đường (niên đại của Lạc Sơn Đại Phật). Cây đều tăm tắp, giống nhau như “nhân bản vô tính”, chúng xanh mỡn, uốn khum ôm lấy nhiều cây số các con đường dẫn vào ngã ba sông có Đại Phật. Đường mát đến mức giữa trưa vói mắt chả trông thấy mặt giời. Từng lá cây, ngọn cỏ, từng cô lao công hay anh bảo vệ bắt khách du hãy xếp hàng một lần khân bước xuống bến, bắt ai ai đeo phao bơi rồi xếp hàng nghe… dạy cách xem tượng - tất cả họ đều khiến bạn có cảm giác bỏ tiền hưởng dịch vụ ở nơi này, nó không bị tiếc xót tí nào. Lạc Sơn Đại Phật nằm trong “khuôn viên” (cách một con sông) của khu vực Nga My Sơn nổi tiếng, thuộc hàng Tứ Đại Danh Sơn, bốn ngọn núi lớn và danh tiếng nhất đất nước Trung Hoa rộng lớn, cũng là một di sản thế giới đã được UNESCO vinh danh từ tháng 12 năm 1996.


Tôi rất ngạc nhiên, rằng tự nhiên mấy cô nhân viên lái tàu đưa khách du sơn du thủy ở Lạc Sơn Đại Phật cầm loa yêu cầu khách im lặng, rồi cô nói bằng tiếng Anh, rằng: ở vị trí tàu đang dừng đỗ này, chư vị có thể nhìn thấy núi như một cơ thể người, như một bức tượng Phật Nằm. Đủ đầu, tóc, thân, chân tay; đủ mắt, mũi, miệng, đặc biệt tàu đang di chuyển, bức tượng lớn nhất thế giới của đất nước chúng tôi sẽ hiện ra. Tượng nằm đúng ở trái tim của các ngọn núi hình Phật Nằm, ý rằng “tâm trung hữu Phật”, Phật ở trong tim. Chao ôi, thay vì thu vé cắt cổ, thả khách vào trong “di tích”, thu từ vé đi vệ sinh đổ lên đủ thứ lệ phí theo kiểu “chín tháng mài dao ba tháng chém” như ở nhiều nơi tôi đã đến, thì cô lái tàu còn bày cho khách cách thưởng ngọn sơn kỳ rồi dòng thủy tú. Hình như sự giàu có của tâm hồn du khách, mới là thứ mà cô lái tàu bậm bạch kia muốn hướng tới. Bởi thế, tôi không ngạc nhiên, khi ngồi trên nóc tàu, nàng Tây “ba lô” mới quen của tôi vừa cố giữ mớ tóc bạch kim lộng lẫy khỏi bay vào mặt bạn, vừa thủ thỉ: đơn giản, cô ấy dạy cách ngắm núi; và tôi thấy xúc động quá.

Vì Đại Phật, nhà sư ấy đã tự móc con mắt mình, đặt lên đĩa

Truyền rằng, Lạc Sơn Đại Phật được các nghệ nhân tài hoa nhất vùng Tứ Xuyên “gọi” ra từ một ngọn núi đá nguyên bản. Họ đã làm việc này suốt 90 năm, bắt đầu từ năm 713, đời nhà Đường của Trung Quốc. Ý tưởng kỳ vĩ này, có lẽ nó còn làm choáng ngợp nhân loại tiến bộ mãi mãi về sau nữa. Vách đá mà ông Di Lặc lớn nhất thế giới đang ngồi kia có tên là Thê Loan, nó nằm trên núi Lăng Vân (nên tượng còn được gọi là Lăng Vân Đại Phật). Núi nằm ở nơi hợp lưu của ba con sông lớn: Mân Giang, Đại Lộ và Thanh Y. Đứng trên đỉnh núi Lăng Vân, ngắm hơn chục ngôi chùa và còn nhiều hang động thờ Phật khác nữa, bây giờ, bạn có thể phóng tầm mắt trùm khắp ngã ba sông huyền thoại, thấy đối diện với Đại Phật là nhấp nhô nhà chọc trời, cầu lớn, sông dài miên man. Sử sách chép lại, người mộ Phật đề xuất và thực hiện ý tưởng gọt cả một ngọn núi danh tiếng tạc hình ông Phật khổng lồ này, là nhà sư danh tiếng Hải Thông, người sống cách chúng ta khoảng 13 thế kỷ. Bấy giờ, dĩ nhiên, ông Hải Thông không ngờ thế giới lại có ngày xuất hiện tổ chức UNESCO để ghi nhận tác phẩm của nhà sư siêu mộ đạo, kiêm kiến trúc sư vĩ đại vào bậc nhất loài người này là… di sản thế giới, là bức tượng Phật đá lớn nhất địa cầu.

Tôi cứ hình dung, một ngày buông chuông mõ, rời ngôi chùa lưng chừng vách núi Thê Loan của mình, nhà sư bảo các học trò: bến sông này thơ mộng, núi liên hoàn thành hình tượng Phật Nằm. Các ngọn núi còn giống pho tượng nằm hơn cả một pho tượng thật. Ta và các con sẽ dùng phần đời còn lại của mình để tạc, để quyên tiền thuê thợ cùng tạc một pho tượng Phật ngồi, ngài sẽ ngồi tại chân núi Lăng Vân, sát mép nước; đỉnh đầu của ngài sẽ chính là… đỉnh núi giấu mình trong mây cao kia. Phật ngự giữa trái tim của các ngọn núi Phật Nằm. Vùng đất này dữ dội, ba con sông góp nước ầm ào, mưa lũ về, bao đời nay, “thủy quái” đã cướp đi sinh mạng không biết bao nhiêu người. Đáy sông nhấp nhô toàn thuyền bè xấu số. Ta tạc tượng, bao nhiêu đất từ núi sẽ được gạt xuống lấp hết các hang hốc của ngã ba sông, kết thúc cuộc đời hung dữ của các xoáy nước ăn thịt người. Lòng cứu nhân độ thế của Đức Phật, sẽ đem lại sự bình an cho thuyền bè qua lại. Cứu một người bằng xây chín ngôi chùa, các con à.

Các sách đời Tống (như “Phật Tổ thống kỷ”), đời Minh Thanh (như “Tứ Xuyên thông chí”, “Lạc Sơn huyện chí”) của Trung Quốc đều có chép về Đại Phật. Theo đó (và các tài liệu khác), nhà sư Hải Thông phải mất 20 năm vận động, mới có được nguồn tài chính ban đầu để bắt tay vào tạc bức tượng khổng lồ. Hơn một nghìn năm qua, bất cứ ai đứng dưới bóng đổ sừng sững của bức tượng cao 71m, choán hết từ chân lên đỉnh ngọn núi Lăng Vân mênh mông đó, cũng phải có cảm giác choáng ngợp. Và, nhiều người đặt câu hỏi, tổng công trình sư Hải Thông làm sao có thể nghĩ ra và chạm khắc, chỉ huy đẽo gọt nổi bức tượng? Ai có thể hình dung rằng, bóc đất đá đổ xuống lấp vực soáy của 3 con sông, thì tượng sẽ “hiện ra”, sinh động, có hồn cốt đến nhường ấy? Từng móng tay, từng mí mắt, từng lọn tóc của Đại Phật đều sinh động như là trong chớp mắt, ngài có thể cử động và mỉm cười với chúng sinh ngay được. (Đó, có lẽ cũng là lý do để niềm tin về câu chuyện về Đại Phật đã từng nhắm mắt, rồi mở mắt khi thế sự có nhiều bi thương xuất hiện - điều này được thể hiện chính trong các bức ảnh cũ mà người ta bán cho du khách tại bến thuyền Lạc Sơn - chuyện sẽ nói ở phần sau). Hệ thống thoát nước, thoát khí, chống ẩm cho toàn bộ cơ thể Ngài đều được nhà sư tính kỹ, để rồi 13 thể kỷ qua, Tượng Phật Ngồi vẫn tuyệt đối bền vững.

Trong khi công nghệ biến ngọn núi thành ông tượng khiến nhân loại phải nghiêng mình ngưỡng mộ kia còn là một bí ẩn; thì lòng mộ đạo của nhà sư Hải Thông đã sáng rõ đến mức, nghìn năm qua, nó đã là điển tích, điển cố về lòng quyết tâm, sự ngay thẳng của của các tín đồ chân chính trước những kẻ ngoại đạo, thiếu niềm tin, chỉ quen với những thứ phàm phu vẩn đục. Chuyện rằng, khi đang thi công thì thiếu kinh phí trầm trọng, bởi bức tượng quá lớn, số đất đá lấp vực sông quá nhiều, việc thi công kéo dài nhiều thập niên, bức tượng đứng trước các nguy cơ đáng sợ. Nhà sư Hải Thông tiếp tục đi vận động sự ủng hộ của các tín đồ Phật giáo, cũng như của giới sắc dịch địa phương. Chợt có viên quan tham bảo: ông Hải Thông làm bức tượng quá tốn kém, vì lòng mộ Phật hay vì ông muốn danh tiếng của mình lưu truyền, hay ông dùng tiền quyên góp được để… bỏ túi? Có tên còn dùng quyền bính của mình để đòi nhà sư phải hối lộ hắn, nếu không, hắn sẽ dừng việc thi công, cấm người dân góp tiền xây tượng. Và chỉ dăm năm, bức tượng đẽo dở dang kia sẽ đổ sụp. Ông Hải Thông bảo, nếu ngài thích ăn con mắt của kẻ tu hành này, thì tôi móc ra biếu ngài, chứ muốn tơ hào tiền công đức dựng tượng của chúng tôi, thì không thể được đâu. Có tên quan tham còn bảo, nếu thật sự ông Hải Thông dựng tượng vì lòng yêu kính Phật, vì sự bình an của thuyền bè qua lại ngã ba sông dữ này, thì ông hãy làm thế nào đó để chứng minh là mình quên thân vì Đức Phật đi. Nhìn bức tượng bắt đầu hiện ra từ đỉnh núi, già nửa thân hình Ngài vẫn bị trói buộc, vẫn bị chìm khuất trong đá lớn và cây rừng (chưa tạc xong), nhà sư đau lòng lắm. Ông lên chùa lễ Phật, rồi tự móc một con mắt của mình, đặt lên cái đĩa đầm đìa máu, mang lên cho các tên quan tham. Tên này kinh ngạc ngất xỉu. Nghe đồn, từ bấy, hắn từ quan, ẩn tu trong chùa, trở thành một tín đồ của Phật. Chuyện nhà sư Hải Thông tự móc mắt mình vì Đại Phật đã kinh động đến cả triều đình, người dân kéo đến ủng hộ việc dựng tượng rất đông. Không chỉ một mình Đại Phật, nhiều bức tượng khổng lồ khác cũng được tạc vào vách núi, nhiều ngôi chùa, tháp khác cũng được dựng trong cả một vùng rộng lớn.

Phật là núi, núi cũng là Phật, Phật ở trong tim

Trở lại câu chuyện, vì công việc tạc tượng quá vất vả, đá lớn và cứng của ngọn núi hùng vĩ cheo leo ngã ba sông quá nguy hiểm, tiến độ dựng Đại Phật không thể ‘đẩy” thêm được nữa. Nhân sinh ba vạn sáu nghìn ngày (đời người bất quá cũng chỉ 100 năm), trong khi việc tạc tượng kéo dài những 90 năm ròng, giữa đường tìm Phật trong lòng núi, nhà sư Hải Thông qua đời.

Cảm kích trước tấm lòng nhà sư, Tiết độ sứ Kiến Nam Xương Tây là Vĩ Cao tiếp tục thay ông Hải Thông, huy động thợ đá hoàn thành bức tượng. Triều đình nghe thấu tấm lòng vị sư nổi tiếng, cũng cho “cơ chế” dùng thuế muối của dân, góp sức xây tượng. Và, sau 90 năm, bức tượng ra đời trong sự kinh ngạc của… thế hệ con cháu nhà sư Hải Thông! Lạc Sơn Đại Phật cao 71m (có tài liệu nói khác con số này, vì khi đo đạc mỗi người một quan niệm đâu là chân đế của tượng). Đầu tượng dài 14,7m; rộng 10m. Mắt ngài dài 3,3m. Tai dài 7m, trong lỗ tai có thể chứa được 2 người trưởng thành ở trạng thái đứng thẳng. Mu bàn chân của tượng dài 8,5m - cả trăm người có thể ngồi rộng rãi “ăn cỗ” trên đó được. Chúng tôi chụp những bức ảnh, đoàn người đông đúc đứng trước các ngón chân của ngài, đầu người lớn chưa cao tới… móng chân ngài. Dòng người tấp nập leo ngược vách đá song song với bức tượng Phật ngồi để lên đỉnh núi, trông xa như đàn kiến đi dích dắc chữ chi. Và, một góc chup trực diện, ở cùng cự ly, một nhóm người trưởng thành còn bé hơn một đầu ngón tay Đại Phật đặt trên đầu gối ngài rất nhiều. Xin hãy hình dung: đầu Đại Phật có 1.021 búi tóc, móng tay nhỏ nhất của ngài, cũng đủ rộng để một vài người trưởng thành có thể ngồi vào đó. Kỷ lục nhất thế giới này luôn khiến người ta giật mình, ta nhớ đến bàn tay khổng lồ bất tận của Phật tổ Như Lai, khi Tôn Ngộ Không “bay” mãi (mỗi “cân đẩu vân” là một vạn tám nghìn dặm) cũng chưa ra khỏi lòng bàn tay Người. Và, dưới bóng đổ của Đại Phật, cảm giác của người ta, nó có cái gì đó như hoang mang về trí lực của con người, một khi trí lực đó được thắp sáng hơn bởi niềm tin tôn giáo. Cảnh ông Hải Thông tự móc mắt mình đặt vào đĩa dâng lên quan tham kia, có lẽ cũng cần ghi nó vào một kỷ lục về lòng mộ đạo, có cái gì giống như ‘tử vì đạo” hay vị nghĩa lớn mà vong thân.

Lang thang vùng ngã ba sông diễm lệ đó, đằm mình với hệ thống chùa chiền, bia đá, các pho tượng hộ pháp khổng lồ tạc vào vách núi xung quanh Đại Phật đó, lại ngẫm về sự ra đời như cổ tích của pho tượng đá lớn nhất thế giới kia, có lẽ không ai là không thêm một lần thấm thía cái triết lý mà người quản lý, kinh doanh du lịch ở Lạc Sơn luôn nói với du khách: Phật là núi, núi cũng là Phật. Cả mấy dãy núi, ngọn núi tạo thành tượng Phật Nằm không thể giống và gợi hơn về linh ảnh của một ông tượng. Cả pho tượng Lạc Sơn Đại Phật đã choán hết vách đá Thê Loan, choán hết cả ngọn núi rợn lên màu đỏ đắn rêu phong vùng ngã ba sông ven kỳ quan Nga My Sơn. Người Trung Hoa, hơn một thiên niên kỷ qua, đã có câu ca ngợi bức tượng khổng lồ, rất thực mà rất thâm sâu: “Sơn thị nhất tọa phật/ Phật thị nhất tọa sơn” (núi cũng là Phật, Phật cũng là núi). Còn việc dựng Đại Phật ở giữa phần trái tim của Tượng Nằm gồm nhiều quả núi ghép lại, bà con tâm đắc với quan điểm, “tâm trung hữu Phật”, Phật nằm ở vị trí trái tim của núi, Phật ở trong tim mỗi người.

Lạc Sơn Đại Phật là pho tượng đá ngồi lớn nhất thế giới đã đành. Sự trường tồn của công trình tôn giáo khổng lồ này, cũng không kém phần bí ẩn. Tại sao hơn 1.200 năm đã trôi qua, trơ gan cùng tuế nguyệt như vậy, tượng không bị hư hỏng? Có phải ông Hải Thông và những người thi công thuở ấy đã có một cơ chế tự “bảo dưỡng” cho Đại Phật? Gần đây, các nhà khoa học đã nghiên cứu và khám phá ra: tượng Phật Lạc Sơn có một hệ thống thoát nước, thoát khí, tự hút ẩm kỳ diệu, ẩn chứa bên trong cơ thể tưởng như mộc mạc kiểu gạt đất đá đi để tìm thấy hình dong của ngài. Trong số 18 tầng búi tóc hơn một nghìn lọn của ngài, tầng thứ 4, tầng thứ 9 và tầng thứ 18 đều có các rãnh thoát nước được thiết kế vô cùng tài hoa. Rãnh thoát nước này “xây” bằng đá vôi hẳn hoi, nhưng đứng bên ngoài, khách chiêm bái không thể nhìn thấy. Cổ áo và các nếp gấp áo; rồi hai bên sườn, trước ngực của ngài đều có rãnh thoát nước, rãnh này thông với hai cánh tay, khiến cho nước mưa không làm ngài ẩm thấp, không phá hoại được tượng Phật. Đặc biệt, đôi tai khổng lồ của ngài dựa vào hai vách núi đá, mỗi vách đều có lỗ để tai trái, tai phải của ngài thông nhau (có phải ông Hải Thông cũng muốn diễn tả: tai Đại Phật cũng như đôi tai thính nhạy của con người?). Hai bên ngực trái và phải của tượng có hai cái hang, nước có thể chảy thoát ra ngoài dễ dàng. Phần ngực tượng Phật có một cái hang nội tạng đóng kín, hòn đá bịt ngoài cửa hang chính là tấm bia “Thiên Ninh Các” đời Tống. Dựa vào tư liệu và các dấu tích chân cột xung quanh và trên cơ thể Đại Phật, các nhà khoa học đã chứng minh, sau khi hoàn thành, bức tượng Phật khổng lồ có được thiết kế một cái “Đại Phật Các” (hệ thống mái gỗ che, bảo vệ tượng). Sau này, các kiến trúc gỗ đó bị hư hại, đến đời Tống, người ta trùng tu lại, gọi các phụ kiện che chắn này là “Thiên Ninh Các”. Đến đời Nguyên, “Thiên Ninh Các” bị phá hủy, tấm bia của “di tích” này đã được đưa vào hang Hải Sư để bảo vệ. Chỉ tiếc, sau này, bia đá cũng bị phá hủy vì những biến động chính trị cũng như những lầm lạc của một thời “thay đổi quan điểm” mà không ai muốn nhắc lại nữa (hoặc do các thảm họa thiên nhiên). Cũng nhân sự tàn sát các di tích văn hóa thời kỳ kể trên, mới có chuyện được loan truyền về Đại Phật quá đau lòng trước thị phi kiếp chúng sinh mà phải… nhắm tịt đôi mắt mình lại cho đỡ phải… nhìn. Chuyện này, chàng hướng dẫn viên nói với đông đảo du khách tại chân tượng Phật. Thậm chí trong hệ thống post-card (ảnh in sẵn để bán) của Lạc Sơn Đại Phật, bán tại chân tượng, được in ấn chính quy, lời chú thích bằng tiếng Anh hẳn hoi, cũng cho thấy: bức tượng Phật khổng lồ mà chúng tôi đang tham quan từng… nhắm tịt mắt (cụ thể, bức ảnh chụp năm 1962 - xem ảnh, ghi lại hình ảnh bức tượng nhắm mắt hẳn hoi, kèm lời chú thích: “… he closed eyes slightly at this moment, people saw this phenomenon as his can not bear to see our nation suffering the nature disaster, tạm dịch: Lạc Sơn Đại Phật nhắm mắt lại, người ta quan sát chụp ảnh thấy hiện tượng này và tự hiểu rằng, dường như ông không thể chịu được nếu mở mắt nhìn đất nước chúng ta bị các thảm họa thiên nhiên…). Bức ảnh khác với hình ảnh Đại Phật tang thương, người ta bắc giàn dáo và thang tre để trùng tu vào năm 1914, đó cũng là hình ảnh đầu tiên về Phật Ngồi này được đưa ra công chúng (The photo of Leshan Buddha in 1914, which was shot before its 1914' s maintaining is the fist one of Leshan Buddha acknowledged by the public so far) . Cảnh bức tượng nhắm mắt buồn bã đã khiến đám đông du khách bàng hoàng rồi hoang mang tự hỏi: không lẽ điều đó là sự thật? Hay người ta “kỹ sảo” chi tiết này như một cách kinh doanh huyền thoại và… huyền hoặc? Chuyện đó ta bàn sau.

Ngã ba sông mịt mờ sương khói, chiều về, trong bóng đổ của Đại Phật Di Lặc ngồi bình thản hai tay để lên đầu gối, tôi bỗng len lén ngộ ra một sự kỳ diệu khác của bức tượng. Tôi chưa từng đọc kỹ vài trang kinh Phật, cũng hoài nghi chuyện ông Hải Thông tự móc mắt mình đưa cho quan tham, cũng không dám tin bức ảnh Đại Phật nhắm mắt vì thế sự đau thương được bày bán trên thuyền thăm chính pho tượng kia là… sự thật. Chỉ dám chắc, bức “Tượng là núi, núi là Tượng Phật” vĩ đại kia là sự thật. Sự thật đến mức, tượng cũng ít nhiều được gia cố, tu tạo rồi; đến mức, hai ông hộ pháp cao 16m, rộng 6m, mặc áo chiến bào, tay cầm pháp khí trấn giữ hai bên vách núi có Đại Phật kia đã lở lói đến mờ mịt hình hài, cỏ bời bời mọc lấp một phần thân thể. Nhưng, trong rất nhiều sự thật và thật nhiều sự hoài nghi của kẻ ngoại đạo đó, tôi cũng đã được giác ngộ. Rằng trí tuệ và sức lực của con người ta là cái gì đó thật nhiệm màu. Sức mạnh đó, cộng thêm niềm tin tôn giáo, nó có gì đó giống như sự siêu nhiên. Tất cả các công trình choáng ngợp nhất của nhân loại, dường như đều là sản phẩm của tôn giáo. Chợt nhớ lời của vị “đạo sỹ” nhiều năm sống ở Tây Tạng, đã viết cuốn “Con đường mây trắng” được coi là hay tuyệt đích trong các cuốn viết về Tây Tạng, ông bảo: con người văn minh, bây giờ cứ thích leo lên đỉnh núi, muốn chứng tỏ tri thức và sức mạnh của mình bằng cách đặt chân lên đỉnh núi đó trước ai đó, nhanh chân hơn ai đó. Đây là một suy nghĩ sai lầm. Hãy coi ngọn núi là một chủ thể, có năng lượng và sức mạnh tâm linh, hãy để núi thấm vào ta, ta hãy hiểu núi. Điều đó mới là khó. Mới thấy hết giá trị đích thực của ngọn núi. Như buổi nắng tà và bức tượng đổ bóng xuống thân tôi giữa ngã ba sông vùng Lạc Sơn này đây, núi là Phật, Phật cũng là núi theo đúng nghĩa đen. Tôi không dám leo lên đỉnh núi đó, dù người ta có làm sạn đạo để nườm nượp du khách hành hương. Núi chính là Đức Phật Di Lặc.

Dĩ nhiên, để núi biến thành Đại Phật, nhà sư đời Đường kia đã phải tự móc mắt mình đặt vào cái đĩa chống lại sự hoài nghi của người đời. Và, xiết bao thợ đá, xiết bao công đức đã nhọc nhằn gọi Phật ra từ Núi, suốt 90 năm ròng. Càng ngẫm lại càng hoang mang.

Hà Nội, 30/5/2011

Đỗ Doãn Hoàng

ý kiến phản hồi vụ Đơn xin được chết:
http://laodong.com.vn/Tin-tuc/Don-xin-duoc-chet/43621


em bé xinh xinh... tớ là thủ lợn, treo trong nhà sàn

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28