Cầm đồ thuốc độc, bài 2:
Sunday, August 14, 2011 3:14:20 AM
Bài 2: Hễ nghi ngờ là “máu chảy, đầu rơi” !
Thật ra thì án hình sự chỗ nào cũng có, cũng nhiều chuyện ngớ ngẩn và phi lý lắm. Thí dụ chỉ vì tự thấy là người khác đang “nhìn đểu” mình, có thể ai đó cũng đã cầm dao chọc tiết lợn giết chết người khác như chơi. Thế nhưng, ấy chỉ là chuyện giận quá mất khôn, hoặc là chuyện dớ dẩn của những nhân cách lệch lạc, hy hữu lắm mới có chuyện kỳ khôi như vậy. Có chuyện như vậy, người đời đều coi là kỳ khôi. Đằng này, khi tìm hiểu các vụ máu chảy đầu rơi do hủ tục cầm đồ thuốc độc (CĐTĐ) gây ra, chúng tôi liên tục bị sốc bởi sự khó hiểu của những kẻ hành hạ, tra tấn, hỏa thiêu, chôn sống, chặt đầu người, ném đá đến chết, hành quyết dưới sông. Họ tỉnh táo, lý trí, họ phát huy sức mạnh kinh thiên của đám đông “tử vì đạo”, họ coi việc giết người bị nghi CĐTĐ lúc đó là một “bản trường ca” xả thân vì cộng đồng. Cứ “nghi” ai là người đó “lãnh đủ”. Tuyên truyền, cảm hóa, giáo dục thế nào đi nữa, thì “rãnh mòn” suy nghĩ và hành động kia vẫn không thay đổi được bao nhiêu. Các vụ đó, người ngoài cuộc, đều phải lắc đầu không thể hiểu vì sao người ta lại mê muội đến thế.
Thật ra thì án hình sự chỗ nào cũng có, cũng nhiều chuyện ngớ ngẩn và phi lý lắm. Thí dụ chỉ vì tự thấy là người khác đang “nhìn đểu” mình, có thể ai đó cũng đã cầm dao chọc tiết lợn giết chết người khác như chơi. Thế nhưng, ấy chỉ là chuyện giận quá mất khôn, hoặc là chuyện dớ dẩn của những nhân cách lệch lạc, hy hữu lắm mới có chuyện kỳ khôi như vậy. Có chuyện như vậy, người đời đều coi là kỳ khôi. Đằng này, khi tìm hiểu các vụ máu chảy đầu rơi do hủ tục cầm đồ thuốc độc (CĐTĐ) gây ra, chúng tôi liên tục bị sốc bởi sự khó hiểu của những kẻ hành hạ, tra tấn, hỏa thiêu, chôn sống, chặt đầu người, ném đá đến chết, hành quyết dưới sông. Họ tỉnh táo, lý trí, họ phát huy sức mạnh kinh thiên của đám đông “tử vì đạo”, họ coi việc giết người bị nghi CĐTĐ lúc đó là một “bản trường ca” xả thân vì cộng đồng. Cứ “nghi” ai là người đó “lãnh đủ”. Tuyên truyền, cảm hóa, giáo dục thế nào đi nữa, thì “rãnh mòn” suy nghĩ và hành động kia vẫn không thay đổi được bao nhiêu. Các vụ đó, người ngoài cuộc, đều phải lắc đầu không thể hiểu vì sao người ta lại mê muội đến thế.
Khám phá một hủ tục man rợ - cầm đồ thuốc độc:
Sự thật choáng váng về loài “thú đội lốt người” !
Phóng sự dài kỳ của Diệu Thanh và Anh Đức
Phân tích kỹ chuyện “xử tử” người vì nghi cầm đồ thuốc độc kia, nó cũng không giống chuyện cả làng gọt gáy bôi vôi, đóng bè thả trôi sông cô gái đĩ thõa, hay chửa hoang hay “bán buôn chồng người” thời phong kiến. Bởi đó là phạm trù đạo đức theo quan niệm quá khắt khe của hồi ấy (dù giờ chúng ta không cho phép sự xâm hại người khác như thế). Và, những người xông lên trừ khử kẻ bị nghi CĐTĐ bây giờ kia, nó cũng không giống việc người xưa trong vùng Quảng Ngãi, Bình Định, Gia Lai xua đuổi những người hủi vào rừng sâu để tránh gây thảm họa cho xóm làng. Bởi bấy giờ họ nghĩ rằng bệnh hủi không chữa được. Bởi phong cùi (hủi), theo “y văn” đương thời, nó thuộc vào tứ chứng nan y, đã mắc coi như chết, và họ tin rằng hủi có thể lây dễ dàng kiểu “đi qua đã mắc, nhìn vào là dính”. Hai hình thức “tiêu diệt”, xua đuổi những loại người bệnh tật và hư hỏng kể trên là cái gì đó dã man nhưng không mấy khó hiểu - khi so sánh với phong trào “tiễu trừ” kẻ bị nghi CĐTĐ cách đây chưa lâu, và ngay cả trong những năm đầu thập niên thứ hai của thế kỷ 21 này!
Những kẻ tra tấn, “tìm diệt” người khác bằng… mọi giá!
Xin độc giả hãy hình dung như sau bối cảnh chân thực nhất, như thước phim quay chậm của câu chuyện mà chúng tôi sắp kể: cuối tháng 7 năm 2011, tôi vừa chân ướt chân ráo vượt hơn một nghìn ba trăm cây số từ Hà Nội vào đến thị trấn Bồng Sơn của huyện miền núi An Lão, tỉnh Bình Định. Cuốc xe ôm ngược đường đèo dốc, cứ thế uốn lượn vào miền thượng du của “đất võ trời văn” Bình Định còn đang khiến tôi mơ màng với sông trong leo lẻo, sông sáng như gương dựng bên bìa núi thắm, lúa xanh ngằn ngặt. Điệp trùng những rừng dừa khum ôm lấy xóm làng, dăm mái nhà ngói thâm nâu ẩn tàng sau các dãy núi. Từ An Lão, đi vài thôi đường rừng nữa là sang đến đất Ba Tơ miền núi diệu vợi, rồi huyện Sơn Hà xa xôi khuất nẻo của tỉnh Quảng Ngãi. Ba cái huyện này là nơi quần tụ khá trù phú của đồng bào H’rê, một dân tộc còn mang tải trong các mạch ngầm văn hóa lịch sử của mình rất nhiều điều huyền bí. Người H’rê có dân số đông thứ 19 trong đại gia đình các dân tộc ở Việt Nam, họ coi vùng đất mà tổ tiên họ đã khai phá từ rất sớm là Bình Định và Quảng Ngãi, lấn mãi lên phía Gia Lai, họ có một nhóm nhỏ lẻ nữa ở vùng Thuận Hải cũ. Trong bao nét đẹp, người H’rêcó một hủ tục đích thực, gây đau đầu, gây chấn động dư luận bao năm nay, ấy là CĐTĐ. Nhiều người coi đó là một cái gì thật sự quái dị.
Tôi ướm hỏi bác xe ôm hàng huyện, rằng ở đây có CĐTĐ không, bác này chối đây đẩy: “Ấy chết, chú cứ đi với bác, một ngày bác chỉ lấy đúng một trăm nghìn thôi. Không đứa nào dám đánh thuốc mê, xịt ê-te hay trộn thuốc độc, thuốc sâu vào cơm rượu giết chú để cướp của đâu. An ninh ở đây rất tốt. Nhất là, chú vừa vào huyện đã có chú Quốc (Trưởng Đài huyện), có cả Trai (trung tá, Trưởng Công an huyện) ra đón, lo gì mà lo!”. Cảm nhận đầu tiên của tôi khi vào điểm nóng CĐTĐ, ấy là công tác tuyên truyền, kế hoạch liên ngành, tổng lực triệt phá các mầm mống gây họa từ CĐTĐ đã phát huy tác dụng. Đã có nhiều người coi CĐTĐ là cái gì xa lạ, thậm chí họ nhầm nó với nạn đầu độc cướp của do bọn đạo tặc gây nên (như lời bác lái xe ôm). Nhưng, như đã nói, những “mạch ngầm” của cái trò hủ lậu này vẫn còn, vẫn âm thầm chảy, người ta vẫn luyện bùa, vẫn nghi ngờ nhau, vẫn bị nghi đến khốn khổ khốn nạn, vẫn tra tấn đánh đập người (nhiều khi đến chết thảm); và đặc biệt, lực lượng công an vẫn xuôi ngược giải quyết từng vụ từng vụ, mong nó đừng bùng phát thành trọng án, đừng gây nên những bất ổn chính trị đáng tiếc. Vì thế, các án kiểu này, phần lớn đều do đội An ninh của Công an huyện, cùng công an tỉnh thực hiện. Và, hôm nay, tình cờ đến khó tin, tôi vừa đặt chân đến An Lão, xe của Công an huyện đã khình khịch nổ máy, tôi và 3 chiến sỹ công an lên đường cứu một người bị nghi CĐTĐ bị đánh đập, phá nhà cửa, đuổi khỏi làng, vừa chạy từ xã Ba Trang, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi sang “lánh nạn”.
Ngồi trước mặt anh chàng vừa bị đuổi khỏi làng tên là Phạm Văn Lê, tôi và trung tá Đinh Hoài Nam, đội trưởng đội An ninh, Công an huyện An Lão, tất cả đều bần thần. Lòng tôi dậy lên nỗi xót xa, có cái gì não nề cho thân phận một con người, có cái gì như là cảm cánh cho sự thiếu hiểu biết nhiều khi không thể hình dung nổi của con người ta. Anh Nam cũng là người H’rê, hơn 20 năm trong ngành công an rồi, giải quyết không biết bao nhiêu vụ nghi CĐTĐ rồi, giờ lại thêm vụ này mới toe nữa. Người H’rê có hai họ chính, một họ Đinh, một họ Phạm. Họ Phạm là họ mà người ta kính trọng, tri ân ông Phạm Văn Đồng (cố Thủ tướng Chính phủ, cũng là người “đồng hương Quảng Ngãi) nên lấy họ của đồng chí làm họ chung cho đông đảo đồng bào mình. Hôm nay, anh Nam lấy lời khai của người cùng dân tộc với mình, Phạm Văn Lê. Tôi hỏi gì, chàng Lê cũng không biết. Anh bao nhiêu tuổi. Không nhớ rõ đâu. Rồi anh ta móc trong túi áo ra một cái chứng minh thư. Lê sinh năm 1967, người xã Ba Trang, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, có vợ và 4 đứa con. Anh học hết lớp mấy, “không đi học đâu, cán bộ công an lấy lời khai xong, mình phải ký bằng cách bôi mực vào ngón tay (điểm chỉ) mà”. Sao họ lại nghi cho anh CĐTĐ? “Không biết đâu. Nó bảo mình là ma thuốc độc. Thế là nó đánh, trong khi mình không biết “ma thuốc độc” là gì. Lần nào chúng nó đánh mình, cũng chỉ vì một lý do ấy. Bốn thằng nó xông vào đánh, đánh vỡ đầu, chảy máu mũi máu mặt ướt hết người. Mình chạy. Nó xông vào phá sập cả nhà sàn. Vợ con không có chỗ ở chạy về nhà bà ngoại. Nó đuổi mình đi khỏi làng. Mình chạy trốn chứ nếu không thì nó giết. Mình chạy 2 tiếng đồng hồ thì sang đến xã An Dũng này, cán bộ cho lánh nạn ngay trong phòng của công an xã”.
Đinh Văn Phim, Trưởng Công an xã An Dũng đỡ lời cho anh chàng Lê nói tiếng Kinh quá chậm chạp: Anh Lê chạy sang đây, xin ở nhờ. Trước đây là địa phương thường tìm cách đẩy đuổi họ về quê, thì rất nguy hiểm, bởi dọc đường về hoặc quá trình tiếp tục sinh sống ở nơi anh ta đã bị “nghi đi nghi lại nhiều lần” kia, rất có thể sẽ bị giết. Quy định mới về hộ tịch hộ khẩu, chúng tôi sẽ lấy lời khai, cho gia đình nào cưu mang anh ta (người quen của Lê) viết giấy bảo lãnh. Anh ta ở lại xã An Dũng, học nghề thợ mộc kiếm ăn qua ngày tại nhà ông Dũng ở thôn 2, xã chúng tôi. Qua xác minh, ở quê cũ Ba Trang, anh Lê đã bị người ta đánh đập nhiều lần. Trưởng công an xã lo lắng: anh Lê đã sang đây, ở nhờ nhà ông Dũng, thế mà người hung hãn từ bên vẫn kéo sang đòi đánh đập, giết chết Lê. Tên Phạm Văn Ngung đã sang An Dũng tìm tát anh Lê hai cái, may công an đến can thiệp kịp thời. Trung tá Nam bảo, chuyện Lê bị nghi CĐTĐ, bị đánh, phá nhà cửa, đuổi khỏi làng, công an huyện đã xác minh, công an xã Ba Trang đã xác nhận qua điện thoại chuyện đó. Và, điều ai cũng lo lắng nữa, dù chẳng tiện nói ra: nếu thật sự Phạm Văn Lê có nhiều biểu hiện dễ gây cho người ta sự nghi ngờ là có “ma thuốc độc”, thì chẳng có cớ gì anh ta bị nghi, bị đánh đuổi thậm tệ, bị dọa giết ở bên Ba Trang, mà sang An Dũng anh ta lại không… tiếp tục bị “nghi”. Bởi, An Dũng cũng là điểm nóng đáng sợ về nạn CĐTĐ ở cả tỉnh Bình Định này, với các “thảm án” đau lòng. Anh em công an rất lo lắng. Vấn đề còn lại, chỉ là, bản thân anh Lê, phải thay đổi mình để không bị nghi, dù là nghi oan hay nghi… không oan (theo lô-gic của bà con bản địa).
Bỏ làng đi trốn, vẫn không được… sống!
Như thông tin đã được công bố: từ năm 1975 đến năm 1995, riêng huyện Ba Tơ, có 121 vụ nghi CĐTĐ, làm hàng chục người chết. Trong 10 năm, từ 1999 đến 2009, huyện nhà có 61 vụ CĐTĐ, 67 người bị nghi, hàng chục người bị đánh trọng thương, phải bỏ làng ra đi, 3 người chết thảm. Trong số đó, Phạm Văn Lê, dẫu bỏ xứ tha hương, dẫu nhiều lần bị đánh đập tàn nhẫn, nhưng nhưng thế vẫn còn… may mắn hơn rất nhiều nạn nhân khác. Ở xã Sơn Thủy, huyện Sơn Hà bên cạnh, cuối năm 2010, ông Đinh Văn Nên, 60 tuổi đã bị những kẻ nghi ông là CĐTĐ xông vào nhà, giữa lúc ông đang ngủ, chúng dùng gậy lớn phang ông đến chết rồi tưới thuốc trừ sâu lên xác ông cho hả giận, đồng thời tạo hiện trường giả hòng đánh lạc hướng cơ quan điều tra. Các đối tượng giết người Đinh Văn Tranh, Đinh Văn Trĩu, Đinh Văn Hiền, Đinh Văn Tiên (có hai “đứa” mới chỉ 17 tuổi đầu) đều là người cùng xã đã sa lưới pháp luật, đã có một phiên tòa với bản án đích đáng dành cho từng tên. Tuy nhiên, có một chi tiết rất đáng chú ý, ấy là: chính quyền xã nói với nhà báo, đồng thời cả lời khai của các sát thủ trước tòa đều cho thấy, ông Nên bị nghi CĐTĐ đã lâu, thậm chí ông này uống rượu vào còn tuyên bố “ta có tài luyện thuốc độc đừng đứa nào trêu tao mà mất mạng”. Ông Nên đã bị đánh vài lần, cán bộ xã đã hơn một lần đưa ông ta lên trụ sở ủy ban ăn chực nằm chờ nhằm lánh nạn. Thế nhưng, làm sao bảo vệ được một ông già ốm yếu, hay say rượu như Đinh Văn Nên, khi mà đám thanh niên cùng làng kia muốn giết ông bằng mọi giá, để diệt trừ cái mà họ gọi là “mầm mống dùng thuốc độc hại bà con”?
Họ giết ông Nên, họ tự nghĩ mình đang làm việc của những “người hùng”. Họ tự giao phó cho mình cái trọng trách, phải giết người “đáng sợ” kia bằng… mọi giá. Tương tự, ở xã Ba Lế, cùng huyện Ba Tơ, vì bị nghi là “có độc”, ông Phạm Văn Đứa bị một nhóm người hung hăng xông vào đánh chết thẳng cẳng. Tòa đem kẻ thủ ác ra xử. Ít lâu sau, người ta mặc kệ tấm gương tày liếp của những kẻ giết ông Đứa đang “mọt gong” trong tù đó, đám đông mê muội lại tiếp tục xông lên, họ đem ông Phạm Văn Dai (“nghi là có ma thuốc độc) tiếp tục dìm xuống suối cho chết. Trừ khử con ma độc “ẩn” trong con người ông Dai xong, ai nấy hỉ hả lắm. Bởi nguyên nhân là: trong một đám ma, đang rượu chè tiệc tùng, thì bỗng dưng ông Dai “hào sảng” đem thuốc lá đi mời từng người. Có cậu thanh niên bị nóng trong, chảy máu cam, ho ra máu sau khi hút vài hơi thuốc. Ông Dai lẩm bẩm: sắp chết đấy. Miệng mày bị thế, không khỏi được đâu. “Đợi ta bắt cá bé xong, sẽ bắt nốt cá lớn”. Đám thanh niên nghe lời phán truyền của ông Dai huyền bí, mông lung, u u mê mê, lại thấy áo quần phong cách của ông kỳ dị. Chúng nghĩ ngay đến chuyện CĐTĐ, rồi theo đó: “Bắt cá bé xong, ta sẽ bắt nốt cá lớn” - nghĩa là ông Dai giết chết mình bằng bùa phép làm ộc máu mồm xong, sẽ tiếp tục giết chết bố mẹ ông bà mình đây. Thế là tất cả ùa lên… quyết giết. Họ đánh, lôi ông Dai ra sông Lế, dùng đá đập chết, ném xác xuống sông!
Cũng tại làng Tốt của xã Ba Lế kể trên, từng diễn ra cảnh bi đát, bi hài, vô lối đến khó tin: người ta hung hãn đánh đuổi cả nhóm 4 người cùng bị nghi CĐTĐ… lên rừng, vào hang núi. Cán bộ thôn xã họp dân để hòa giải, kẻ quá khích ném đá vào giữa đỉnh đầu người đang chủ trì “phá vỡ” luôn cuộc họp thứ nhất. Đến cuộc họp hòa giải thứ hai, 15 kẻ “cuồng loạn” xông vào, đánh cả cán bộ, đánh cả 4 đối tượng bị nghi, cán bộ mặt trận xã bị vỡ mặt vì họ vụt thẳng cẳng cho một gậy, cán bộ Hội cựu chiến binh xã thì bị tát, đánh gẫy răng, cuộc họp “vỡ trận” lần nữa. 4 người bị nghi CĐTĐ phải bỏ chạy lên nương nhờ đỉnh núi, như người nguyên thủy. Một người trong nhóm bị nghi (ông Toát) phải khăn gói quả mướp, nằm trốn ở nhà Phó Chủ tịch UBND xã suốt một thời gian dài. Đáng sợ hơn, ở làng Gòi Khôn, xã Ba Dinh, có ông Phạm Văn Sa, là bộ đội xuất ngũ, về quê kiếm thêm với nghề đi buôn trâu. Nghe đồn, để bỏ mối được, để mua được trâu rẻ, ông ta thường nói gần nói xa (để hù dọa người khác, để người khác “nể”) rằng mình có tài CĐTĐ, “cầm” đâu chết đấy, cầm con trâu con bò nó cũng lăn đùng. Đến lúc, chả hiểu vì thuốc hay vì lở mồm long móng, trâu của làng cứ thi nhau ốm chết, thế là người ta bâu lại đánh ông Sa vì tội “cầm đồ” hại… cả đàn trâu. Thì không tuyên bố gì, không khoe tài CĐTĐ đã bị nghi, huống hồ ông Sa lại huênh hoang thế! Cán bộ, công an hết lòng can thiệp, cứu ông Sa thoát chết mấy lần. Đến một hôm, vừa ở nơi “bảo vệ nhân chứng” về, lập tức ông Sa bị trai làng đánh chết. Sửng sốt hơn là vụ ông Đinh Hà Roan (ở làng Riềng, xã Sơn Kỳ) bị nghi CĐTĐ rồi bị 8 kẻ xông vào giết chết, trong khi, theo xác minh của chính lãnh đạo Đảng ủy xã này, có tới 5/8 người trong số các “sát thủ máu lanh” đó lại chính là cháu gọi ông Roan là chú ruột và cậu ruột (về nguyên nhân của việc tại sao người bị giết thường là người thân, người cùng làng của các đối tượng, chúng tôi sẽ lý giải ở phần sau).
Nhiều người “xin đi ở tù” để cứu đối tượng đã chém chết kẻ bị nghi “ma thuốc độc”
Suốt bao năm công tác, rồi làm đến Bí thư huyện ủy An Lão cho đến khi nghỉ hưu, bà Đinh Thị Minh Kết luôn trăn trở về số phận của quá nhiều người bị nghi CĐTĐ đã buộc phải bỏ làng đi biệt xứ trước sự ruồng rẫy, đe dọa giết chết. Nhiều cán bộ huyện, vì xót xa, đã âm thầm đưa các nạn nhân đi trốn, có người nửa đời người trú ngụ trong núi, giữa đồng không mông quạnh, sang huyện khác tỉnh khác để mong yên thân. Nhưng, bà Kết kể, cũng có người, trốn sang tỉnh khác, được chính quyền hai bên “trao trả”, người phía bên này sang đón về, dọc đường, nghe nói họ sợ hãi về quê sẽ bị đánh đập, họ mới bỏ trốn rồi chết mất xác; lại nghe nói, kẻ xấu đã thừa cơ, giữa đường rừng bịt bùng thủ tiêu cái người mà vẫn bị cộng đồng nghi là CĐTĐ. Bởi họ sợ “con ma” trở về làng thì dân làng lại chết chóc, bệnh tật, lại náo loạn đau thương thôi (họ nghĩ vậy). Có vụ như ở xã Ba Vinh, người đàn bà tên là Muối bị nghi CĐTĐ, bị đánh, bị phá nhà. Xã xuống tìm để cứu, thì thấy bảo đã chạy lên huyện, huyện đi tìm bảo đã chạy về xã, ít ngày sau tìm thấy thì xác bà đã phân hủy ở trong rừng với tư thế treo cổ. Nói tóm lại, cái gốc của vấn đề là thay đổi nhận thức của bà con về tai họa mang tên CĐTĐ, chứ không chỉ là vận động, thuyết phục đến lúc người ta ừ ào giả vờ nghe thủng nghe rõ, song trong sâu thẳm người ta vẫn chưa bao giờ quên nỗi sợ hãi, sự ám ảnh, niềm tin vào hiểm họa kinh thiên của “con ma thuốc độc”. Bằng chứng là rất rất nhiều vụ (như đã kể ở trên), vận động rồi, hòa giải rồi, cho người bị nghi đi lánh nạn rồi, người tham gia nghi hứa hẹn dăm lần bảy lượt rồi, nhưng thảm họa vẫn xảy ra. Mà thảm họa đến, nó cõng đi cả mạng người, cả sự náo loạn các vùng quê, cả nhiều người mắc vòng lao lý, chứ chẳng chơi. Một già làng H’rê từng có công lớn trong hòa giải, cứu sống nhiều mạng người trong các vụ CĐTĐ thở dài: khó lắm, hủ tục nó ăn vào máu mỗi người rồi, có khi ba lần cắt máu ăn thề theo “tục lệ”, hứa rằng sẽ không nghi kỵ nữa. Thế nhưng, thấy quá nhiều những biểu hiện “nguy hiểm” cho mình và cộng đồng mà chưa lý giải nổi (như bệnh tật tràn lan, nhiều người và súc vật chết không rõ nguyên nhân…), người ta lại mơ hồ nghi cho người nọ người kia là thủ phạm gây ra, họ lại xông lên “tiêu diệt con ma” bằng mọi cách. Có người 90 tuổi, lọm khọm tội nghiệp mà vẫn bị nghi, bị đe dọa đủ đường. Đúng như vị lãnh Công an huyện An Lão thở dài nói với tôi: bao giờ 100% người Kinh tin rằng trên đời không hề có ma quỷ, thì bấy giờ người H’rê mới không còn luẩn quẩn với nỗi ám ảnh và sự tác yêu tác quái của “ma thuốc độc”.
Khi được hỏi: vụ nghi CĐTĐ nào làm bà ám ảnh nhất, bà Kết không cần suy nghĩ, nói luôn: vụ ở thôn Gò Mít ngay phía sau hông… trụ sở công an huyện An Lão này này (thuộc xã An Trung, huyện An Lão). Bà Kết hất hàm, kéo dài giọng đầy chua xót, nhìn sang phía bên kia đường, nơi có thôn Gò Mít. Người đưa đường cho tôi vỗ trán, “đúng rồi! khiếp lắm”. Có lẽ, vụ việc hãi hùng này sẽ còn ám ảnh người An Lão mãi mãi. Anh Đinh Văn Dây nguyên là cán bộ hạt bảo dưỡng đường bộ của An Lão, nhà ở thôn Gò Mít hay rượu chè, sống hơi lập dị, thế là có người bảo, nó chẳng giống ai, chắc là đứa luyện bùa ngải, trồng cây pa-găng (một cây rừng, là “thành tố” chính để làm bùa ngải (“đồ”), kèm theo mảnh sành vỡ, máu gà, khúc đuôi con lợn, con cóc tía, con mèo đen, ít gạo rang mà người ta hay dùng ném ra mộ người chết - gọi là “gạo ma” - theo quan niệm). “Nó CĐTĐ rồi”, một người nói, vài người nghi, nỗi nghi ngờ cứ lớn dần trong nỗi ám ảnh sợ “ma thuốc độc” của cả làng. Trong một tiệc cưới đang đông vui, bỗng dưng Đinh Văn Nghĩa, em vợ của Đinh Văn Dây tuyên bố sẽ trừ khử con ma thuốc độc cứu dân làng. Anh ta cầm con dao chọc tiết lợn sáng choang. Vung lên! Dao chém thẳng vào cổ Đinh Văn Dây. Có người bảo, đó là phi vụ chặt đầu người khủng khiếp nhất mà quỷ sứ may ra mới có thể hình dung được. Bà Kết không dám tả lại với chúng tôi những gì bà biết. Bà chỉ nói: sau vụ việc, công an đến, nhiều kẻ quá khích tuyên bố chống lại, chặn xe, rồi “làng ta có súng tự chế” để bảo vệ “người cứu dân làng” (sát thủ!) Đinh Văn Nghĩa. Họ bảo, cả làng đi tù cùng anh Nghĩa. Chúng tôi phải bảo vệ anh Nghĩa. Nếu anh ấy đi tù, dân làng, gà lợn trâu bò cũng xin dắt díu nhau đi ở tù tất. Khi được hỏi tại sao giết người, Nghĩa bình thản: “Dây nó là đứa xấu, nó biết cầm đồ thuốc độc thì không ai sống được với nó đâu. Tao phải giết nó để nó không làm hại được dân làng nữa”.
Tương tự, ở xã An Quang, trong đám tang Đinh Văn Thức, người đàn bà vĩnh viễn 44 tuổi Đinh Thị Gây đã bị Đinh Văn Ngơ (em trai Thức) dùng rựa chém chết thê thảm bởi Ngơ tin rằng, Gây đã hô phong hoán vũ gọi ma thuốc độc về hại chết anh trai mình và rất nhiều bà con trong thôn. Ngơ ra đầu thú, sau nhiều ngày trốn chui trốn nhủi trong rừng già, vẫn với niềm kiêu hãnh, mình đã làm một việc… không tồi, như kiểu chàng Đan-cô xé lồng ngực mình làm ngọn đuốc soi đường cho cộng đồng đi tới (!?). Thật là bi thiết.
(còn nữa)
Box kèm kỳ 2 (nếu còn “đất”, không còn thì để bài sau; chỉ viết ra đây để mọi người hình dung thôi ):
BÀ ĐINH THỊ MINH KẾT, NGƯỜI H’RÊ, NGUYÊN BÍ THƯ HUYỆN ỦY AN LÃO (BÌNH ĐỊNH) NÓI:
Hành vi đầu độc thường đi trước lời nguyền của “thầy phù thủy”?
Tất nhiên, sẽ có nhiều người bị tấn công, bị giết chết oan uổng, do bị nghi nhầm là “ma thuốc độc”. Tuy nhiên, nhiều người cũng đặt vấn đề: nếu có, thì hành vi “cầm đồ thuốc độc” gây hại cho cộng đồng ra sao để rồi người ta sợ hãi nó đến không còn lý trí như vậy? Bà Kết nói những lời gan ruột với chúng tôi tại nhà riêng của bà, như sau:
“Trước đây tình hình cầm đồ thuốc độc nóng hơn bây giờ nhiều. Có giai đoạn, hầu hết ở các xã các làng đều có nạn này, có làng hai ba vụ một năm cũng nên. Tiêu biểu như vụ giết người tập thể làngGò Mít, ngay sau trụ sở Công an huyện bây giờ đó. Tìm ra thủ phạm nhưng họ quyết liệt, nếu bắt kẻ đã trừ khử “ma thuốc độc” cho dân làng đi tù, thì cả làng họ đi tù luôn. Cả người, trâu bò, ngan vịt xin được đi vào tù hết. Sau này lãnh đạo huyện, tôi bấy giờ là Phó Bí thư thường trực, đã tham mưu làm cái đề án chống cầm đồ thuốc độc.
Thật ra, cầm đồ là sự lợi dụng sự thiếu hiểu biết của đồng bào thiểu số để trục lợi. Còn thuốc độc là có thật. Tôi đã thực hiện nhiều đề án, giải quyết nhiều vụ việc kiểunày. Nó phức tạp lắm. Lúc đầu nó dùng cái măng ngâm cho đến lúc có con dòi, độc lắm. Có khi, dùng râu mép của con cọp cắm vào đọt măng, cũng rất độc. Nó chế ra từ cả đám rễ cây, “thuốc” đó rất độc và ngứa. Nói chung là đồ độc nhiều lắm, cái “đồ” thì nó hay lượm đá cuội dưới sông, rửa sạch sẽ, mài mòn rất đẹp. Mỗi lần đem đá ra là nó cúng, nó giấu diếm tôn thờ hòn đá như “cổ vật”, nó cúng cái hồn của thần linh ngụ ở… mấy hòn đá đó. Tôi cũng đi từ Bắc chí Nam, đi sang tỉnh Quảng Ngãi, cũng đi tìm hiểu mãi rồi, tìm hiểu rồi. Cái này, bên phía Tây Nguyên nó gọi là ma lai. Đi xử lý thì bắt họ đi tìm đồ độc, bắt đốt, khói của “đồ” tỏa ra màu xanh lè. “Đồ” nó sử dụng có loại chế từ nhiều loại “thuốc”, khi đốt, đám người mà họ biết chống lại chất đó thì nó không việc gì, với những người khác thì độc lắm. Đó là về “thuốc độc”.
Còn “cầm đồ”, nói về cái mê tín. Nó chỉ nói một câu thôi. Em có con gà cho chị mượn nhé. Nếu nói không có, không có thì chị mua cũng được. Nó đe dọa, không cho thì thôi, rồi sẽ biết tay nhau thôi. Trong quá trình mình “ngoại giao” với nó như thế, nó có động tác (đầu độc) mà mình không để ý. Thuốc đó một hai ngày sau mới ngấm vào trong cơ thể người ta. Nó thường tấn côn người trong làng, nó biết đặc điểm, sức khỏe của người đó. Nó thường chôn đồ độc ở cái hũ nhỏ. Rất độc. Cái đó dáng sợ. Nhưng cái hòn đá cung bái chỉ là đe dọa thôi mà. Tóm lại, tôi không tin chỉ bằng lời nói mà kẻ cầm đồ thuốc độc có thể giết chết người, nhưng thuốc độc là có. Thuốc chuột, thuốc trừ sâu là “đại độc” (rất độc) ấy chứ đừng có nói là độc không thôi đâu. Miệng nó nói thôi, nhưng “thủ thuật” (hành vi đầu độc!) thì nó… tiến hành trước rồi.
Kèm chùm ảnh và chú thích
A: Nhờ sự hòa giải, can thiệp của lực lượng công an, vợ chồng ông Phạm Văn Bắp (bên phải ảnh) - họ bị nghi CĐTĐ - đã trở về quê (xã Ba Trang, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi) sinh sống sau thời gian... chạy trốn.
B: Bà Đinh Thị Minh Kết, nguyên Bí thư huyện ủy An Lão, người H'rê. Bà rất am tường, trăn trở và có công lớn trong việc ngăn chặn sự tác yêu tác quái của hủ tục CĐTĐ.
C: Ông Đinh Văn Nháo cùng gia đình ở xã An Quang, An Lão, Bình Định. Ông Nháo, nguyên Phó trưởng Công an huyện, người H'rê. Ông đã trực tiếp vận động Đinh Văn Ngơ, người đã giết chết bà Gây (người bị nghi CĐTĐ) ra đầu thú (sau nhiều ngày hắn trốn trong rừng).
D: Bản báo cáo của Công an huyện An Lão về một vụ nghi CĐTĐ đau lòng diễn ra vào tháng 4 năm 20101 tại địa phương. Theo đó, những người tham gia "nghi" có cả cán bộ, Đảng viên, sinh viên..!
E: Một đối tượng bị nghi CĐTĐ, bị đánh, phá nhà, đuổi ra khỏi làng. Anh ta (giữa) đang sống trong sự bảo vệ của công an huyện và công an xã! (sự việc diễn ra tháng 7 năm 2011).
Bài 3:
Nhận diện và tiễu trừ những thảm án bi hài của “ma thuốc độc”












