Bài cuối: Cầm đồ thuốc độc
Friday, August 19, 2011 3:59:32 PM
Có lẽ, nhiều người cũng sẽ xúc cảm giống như tôi trong những ngày đầu tiếp cận với câu chuyện, nhân vật và hồ sơ các vụ án cầm đồ thuốc độc (CĐTĐ) buồn bã kia. Đó là sự vô lý, sự bất bình, sự xót xa và hoang mang. Tại sao chỉ vì nghi người nào đó có “đồ”, một người rồi cả làng có thể xông lên, chặt đầu, chôn sống, hỏa thiêu, nhấn nước (dìm xuống sông cho chết) đồng loại? Mà đồng loại bị hại lại toàn là bà con ruột già, thân thích, chứ có phải “khác máu tanh lòng” gì đâu. Có sự mê muội khủng khiếp ở đây không? Có cái lý nào đó trong đầu các vị tham gia “nghi” (tấn công, giết hại người), ngay cả khi các vị đó là cán bộ, Đảng viên, lãnh đạo xã không? Xin thưa là có, cái lý của họ cũng có khi có lý - dẫu rất nhiều khi cái lý đó là sai lầm, là còn gây nhiều tranh cãi. Chúng ta cần hiểu sâu, hiểu rõ về cái Lý đó, để tuyên truyền, xử lý vụ việc, thì mới mong bà con “tâm phục khẩu phục” được.
Bài cuối:
Cầm đồ thuốc độc - một hủ tục man rợ:
Đánh nhau với ma, biết bao giờ mới thắng”?
Có lẽ, nhiều người cũng sẽ xúc cảm giống như tôi trong những ngày đầu tiếp cận với câu chuyện, nhân vật và hồ sơ các vụ án cầm đồ thuốc độc (CĐTĐ) buồn bã kia. Đó là sự vô lý, sự bất bình, sự xót xa và hoang mang. Tại sao chỉ vì nghi người nào đó có “đồ”, một người rồi cả làng có thể xông lên, chặt đầu, chôn sống, hỏa thiêu, nhấn nước (dìm xuống sông cho chết) đồng loại? Mà đồng loại bị hại lại toàn là bà con ruột già, thân thích, chứ có phải “khác máu tanh lòng” gì đâu. Có sự mê muội khủng khiếp ở đây không? Có cái lý nào đó trong đầu các vị tham gia “nghi” (tấn công, giết hại người), ngay cả khi các vị đó là cán bộ, Đảng viên, lãnh đạo xã không? Xin thưa là có, cái lý của họ cũng có khi có lý - dẫu rất nhiều khi cái lý đó là sai lầm, là còn gây nhiều tranh cãi. Chúng ta cần hiểu sâu, hiểu rõ về cái Lý đó, để tuyên truyền, xử lý vụ việc, thì mới mong bà con “tâm phục khẩu phục” được.
Cận cảnh chi tiết vụ “nghi” và tra tấn người một cách hung ác
Một cán bộ huyện An Lão thẳng thắn: chúng ta đã tuyên truyền nhiều năm, đã xử lý nhiều vụ việc; nhiều kẻ tấn công, giết người bị nghi cầm đồ thuốc độc (CĐTĐ) đã đi ở tù và hiện vẫn đang ở tù, nhưng “nạn” CĐTĐ vẫn chưa bao giờ chấm dứt được. Vì sao? Vì, nỗi sợ hãi CĐTĐ với đồng bào Hrê, nó cũng ăn sâu bám rễ, cũng trường tồn và ám ảnh đeo đẳng như hình tượng con Ma, con Quỷ đối với người Kinh và cả thế giới nói chung vậy. Nếu không hiểu, ta sẽ đánh nhau với ma, và không bao giờ chiến thắng nổi nó. Nếu các đội “phản ứng nhanh” từ công an, quân đội hay chính quyền cơ sở có tài lắm, cũng chỉ có mặt kịp thời ngăn chặn được các vụ thảm sát, trọng án do CĐTĐ mà thôi. Ai nắm tay được từ sáng đến tối? Thực tế đã có nhiều vụ, chính quyền cho người dân tá túc tại nhà lãnh đạo, tại trụ sở ủy ban với sự bảo vệ đặc biệt của công an, chờ sóng yên biển lặng hẳn thì mới thả cho nạn nhân về. Ai dè, sơ sểnh một tý, người ta xông vào, trong chớp mắt chém chết, dìm chết người bị “nghi”. Thế là công cốc. Chuyện buồn này, các bài trước đã thí dụ nhiều, nay xin không nhắc lại nữa.
Song, đâu là cái “lý” của người tham gia “nghi”? Làm việc với công an huyện An Lão, tỉnh Bình Định, chúng tôi được phép đọc toàn bộ hồ sơ vụ các đối tượng tra tấn, có ý định giết chết bà Đinh Thị Doa (năm nay 76 tuổi) ở xã An Dũng. Những tưởng “ma thuốc độc” phải kỳ quái, gào hú, hô phong hoán vũ, tóc tài bờm xờm, lời nói dị biệt, nên tôi đã chuẩn bị đủ máy móc và tâm thế đề phòng khi bước vào cái xóm nhỏ lúp xúp cây và nhà sàn nép bên bìa núi thâm u đó. Có người còn dặn, chủ nhà mời nước, tuyệt đối không được uống, không để rơi một sợi tóc hay đồ vật gì ở nhà bà ta. “Lúc đưa chén nước cho cậu, bà ta chỉ miết nhẹ đầu ngón tay lên miệng chén, là đồ độc đã bắt đầu gặm mòn cơ thể cậu và… gia đình”, một người dặn dò thầm thĩ.
Bà Doa đã từng bị người ta vây kín nhà, ông Đinh Văn Gre xông lên đầu tiên, cùng 3 người nữa dùng gậy đánh gẫy tay, dùng lá dừa khô chất lên lưng bà Doa và đốt… Da thịt cháy khét lẹt. Đánh bà Doa ngất đi, người ta bỏ “thi thể bất động” già nua của bà vào cái bao tải xác rắn màu trắng, buộc kín, thả xuống suối dìm cho chết. Khi bà van xin, thừa nhận những sai lầm của mình, khi đã đào được hũ đồ độc khủng khiếp chôn ở chân cột nhà bà Doa, người ta mới đắc thắng vớt bao tải lên, đưa bà về nhà, trói trật cánh khuỷu để bà Doa nằm thiêm thiếp ở đó. Một số kẻ đã bắt bà làm lễ “ăn thề”, bắt vạ, để bà không bao giờ tái phạm hành vi “cầm đồ” làm hại dân làng nữa. Họ lấy sợi dây chuyền trên cổ bà Doa, đem bán cho ông Đinh Văn Gú - một cán bộ hội Nông dân xã - lấy tiền mua lợn, gà, rượu về uống “giải độc”, trừ ma suốt đêm. Khi trời sáng, nạn nhân đã thoi thóp, họ mới buông tha, đủng đỉnh ra về. Trong số những kẻ “thủ ác” đó, có cả cán bộ Đảng ủy xã, cán bộ Đài truyền thanh xã, trưởng thôn…
Khi đến thăm bà Doa, tôi đã rớt nước mắt khi gặp một cụ lão nghèo khổ, da thịt dăn deo, nụ cười móm mém, môi quết trầu đỏ thắm. Lặng lẽ bước ra từ căn nhà lụp xụp, vắng hoe vắng hoắt, trông bà Doa hiền hậu như một người đến từ truyện cổ tích. Bà vốn là cán bộ y tế thôn bản, biết lên núi nhằm lúc mặt trời mới thức giấc hay lúc hoàng hôn buông kín rừng già An Lão để chọn lấy những loại cây lá có dược tính tốt nhất, mang về ngâm ủ chữa bệnh cho dân làng. Như những người già Hrê khác, bà Doa đeo đầy vòng xủng xoẻng ở tay, đầy vòng xoắn ở cổ, rất ngộ nghĩnh. Bà chào Trung tá Đinh Hoài Nam, đội trưởng đội An ninh của công an huyện, cũng là người Hrê với bà. Anh và đồng đội đã cứu bà khỏi sự tấn công của đám đông người hung hãn đang tra tấn bà đến độ… chỉ còn thoi thóp thở. Anh Nam đã minh oan cho bà để bà lại được sống ở ngôi làng này. Cả lời kể của nhân chứng, cả hồ sơ đang lưu ở Công an huyện, đều cho biết rõ:
Bà Doa có mâu thuẫn với một số người trong thôn. “Hôm ấy, đi lên nương rẫy, thấy ông Dé (người cùng thôn) ấy phát đám nương của nhà tôi trước đây vẫn làm. Tôi mới bảo, ai cho ông làm như vậy. Ông ấy bảo, cỏ mọc kín, cây ken dày thế này, đây là rừng chứ có phải nương đâu mà bà dám nhận là của bà. Tôi bảo, mấy mùa nay, tôi ốm đau chả làm được, thì cỏ nó mọc lấp hết lối đi thôi. Ông ấy cãi, tôi mắng lại. Ai ngờ về ông ấy ốm đau. Và họ đổ cho tôi là ma thuốc độc. Tôi đói nghèo thế này, chăm chỉ làm ăn mà vẫn đói khát, chứ nghĩ ra “đồ độc” thế nào được. Mà tôi có biết đồ độc là cái gì đâu”, bà Doa nói. “Đến lúc trâu bò thả rông trên núi, phá hết hoa màu của nhà tôi, của dân nữa, tôi nhắc nhở. Thế rồi họ cũng nghi tôi “cầm” nên trâu bò nhà họ bị ốm, bị dịch chết hàng loạt”. “Lại đến chuyện ông Hea cùng thôn bị ốm rồi chết. Đúng là tôi có cãi nhau với ông ấy. Nhưng việc ông ấy ốm rồi chết không liên quan gì đến tôi. Hôm đám tang ông ấy, tôi không đến dự vì tôi… vẫn còn ghét ông ấy” - bà Doa khai trong biên bản làm việc với lực lượng công an, khi có người cho rằng, việc bà Doa không đến dự đám tang ông Hea chứng tỏ bà là ma thuốc độc. Bởi hầu hết những kẻ “có đồ” đều trốn khỏi làng khi “nạn nhân” của họ đang được đem đi chôn cất (theo lời người dân). Thực tế, khi lực lượng công an triển khai bảo vệ những người bị “nghi”, họ thậm chí còn làm giấy triệu khẩn cấp để người “bị nghi” có cớ lên trụ sở công an làm việc, để họ được an toàn khi những người “nghi” đang bối rối và căm phẫn phát tang người xấu số. Con cháu của một ông khác nhà ở cùng thôn với bà Doa tố cáo: bố của họ bị sơ gan cổ trướng chết, ông này trước đó có ý định làm nhà ở đám rẫy cũ của bà Doa, bà không đồng ý, thế là hai bên lại… cãi nhau.
Tóm lại là, trong khi bà Doa một mực nói mình không có “đồ độc”, cũng chả biết CĐTĐ là cái gỉ cái gì, nhưng chả hiểu sao, người ta luôn kết luận bà chửi ai, rủa ai, kể cả chửi người và kể cả chửi… súc vật, thì y như rằng “đối tượng” sẽ ốm o, thậm chí chết thảm. Từng người tố cáo bà Doa, họ có tên, có tuổi, có lời khai, bút tích hay điểm chỉ trong hồ sơ công an hẳn hoi. Như khi cán bộ điều tra hỏi bà Doa về chuyện: có một ông có vợ, có con bò và con lợn cùng bị ốm do bà Doa… nguyền, lần ấy bà Doa còn nói rõ bà có biết CĐTĐ, bà có nhớ chuyện này không? Bà Doa trả lời: “Chuyện kia tôi không nhớ rõ nữa”. Cuộc sống nghèo đói, nặng nề, già nua, xích mích xóm thôn là chuyện cơm bữa, bà Doa không nhớ là dễ hiểu. Nhưng vì những lời tố cáo kia, vì sự không nhớ rõ, vì những cái chết rất cụ thể kia, nên cái lý của những người nghi ngờ bà Doa có đồ độc nó càng lớn dậy. Bà Đinh Thị Rơi kể (hồ sơ công an đang lưu giữ có viết) bà để trâu ăn hoa màu của nhà bà Doa. Bà Doa rủa: sao mày không đâm trâu cho dân làng ăn đi, con trâu này có tội, nó phải chết. Chứ mày cũng sắp chết rồi. Không lâu sau đó,… con bà Rơi lâm bệnh và chết. Khi cán bộ điều tra “lục vấn” chuyện này, bà Doa nói: “Đúng là tôi có nói thế. Nhưng tại sao con bà Đinh Thị Rơi chết thì tôi không biết”. Một bà khác tên là Đinh Thị còn hốt hoảng kể lại một lần mình thoát chết từ “ma thuốc độc”: “Bà Doa nhìn tôi rất lâu không chớp mắt, không lâu sau tôi bị ốm, may mà chạy chữa được nên không chết”. Hồ sơ còn lưu lời kể của một người, nó ma quái, rùng rợn hơn nữa: “một hôm, tôi thấy có cái hộp rất đẹp, nó nằm cách nhà bà Doa khoảng 100m, nó phát ra một quầng sáng lạ. Tôi quay đi thì chả thấy gì nữa”.
Như đã nói, chúng tôi thật sự thấy quý mến, thấy ấm áp khi gặp người đàn bà Đinh Thị Doa đẹp lão ở tuổi 76, nói năng nhẹ nhàng như bước ra từ… cổ tích kia. Việc bà bị tra tấn gần chết là đáng thương, là đáng lên án những kẻ thủ ác. Nhưng, nói gì thì nói, có một sự thật là bà Doa đã bị dân làng nghi ngờ tột độ, bà là người ít nhiều có lỗi. Bà hay cãi nhau với mọi người, bà có hành tung tương đối bí ẩn, lại sống giữa vùng dân cư có nhiều bệnh tật ở người, ở gia súc; cái chết, sự đau ốm không được khám và điều trị tường tận đã gây tư tưởng hoang mang, nó thổi bùng đám lửa CĐTĐ sẵn có trong huyết quản mỗi người ở vùng An Lão. Và bà Doa lãnh đủ. Những lời tố cáo trên không thể nào coi là lời vu oan vô lối, bởi hầu hết bà Doa đều xác nhận: có xích mích, có thấy họ ốm đau, họ chết không đi viếng tang. Đặc biệt là “đồ độc” (theo cách gọi của dân làng) mà bà con đào bới tìm thấy, cơ quan công an chính thức thu giữ và tiến hành tiêu hủy, nó rất “khủng khiếp”: “Thôn tiến hành xác minh cụ thể như sau, thấy các vật gồm: răng người 4 chiếc, xương người, xương mèo, đá đẹp, rễ cây củ 2 loại, da mèo” (trích hồ sơ). Hội đồng tìm, xét nghiệm, xử lý tang vật này là 25 người dân và cán bộ cơ sở chứng kiến, ký tên hẳn hoi. Chính bà Doa cũng khai rõ công dụng từng loại “đồ” bà đang lưu giữ, cái nào là tài sản, cái nào là thuốc chữa bệnh cho người, cho gia súc... Vậy là, không còn nghi ngờ gì nữa, bà Doa giữ những thứ rất kỳ quái, khiếp đảm ở trong nhà, cả răng người, xương, da mèo, cả xương người. Để làm gì? Chỉ có trời mới biết được, và người ta không “nghi” mới là chuyện lạ.
Tất nhiên, bà Doa sẽ khai là những thứ kỳ lạ, khó tin bà đang cất giữ kia là dùng để… chữa bệnh cho người và gia súc, cả hòn đá mài nhẵn cũng… là thuốc chữa bá bệnh. Tất nhiên là cả người viết bài này, cả cán bộ (chứ đừng nói gì người dân đang “nghi”) đều không tin lời bà Doa. Cũng chẳng ai dám chắc các đồ quái quỷ đó bà Doa giữ làm gì. Trước hết nó mất vệ sinh, thứ hai nó đầy huyền thoại ma tà, thứ ba là ở đời, người văn minh không ai giữ những phần thi thể người và động vật ở dạng dòi bọ thối tha ngâm tẩm như thế.
Bản chất là: hành vi đầu độc có khi đi trước lời nguyền của “thầy phù thủy”?
Tất nhiên, sẽ có nhiều người bị tấn công, bị giết chết oan uổng, do bị nghi nhầm là “ma thuốc độc”. Họ rất tội nghiệp, nhiều người bị giết chết, gia đình lâm vào sự cô lập, bị đuổi khỏi làng, con cái không lấy chồng lấy vợ được, họ sống mòn mỏi như những bóng ma cô quạnh suốt nhiều thế hệ… Có người bị nghi, bị tra tấn, đã khai ra hũ “đồ độc” với xương người, xương động vật, cây pa-găng (như củ nghệ gừng, cây chủ yếu và phổ biến nhất để làm nên “đồ độc”), các loại lá lẩu, đá gạch mài nhẵn để làm “bùa phép”. Có người không khai ra cái vật chứng gì, cũng không ai tìm thấy vật chứng gì. Có người bị giết chết tức tưởi không kịp thanh minh, không kịp trăng trối gì. Hầu hết những người bị nghi đều nói họ không phải ma thuốc độc, họ bị oan khuất. Nhưng cộng đồng, những nhóm người hung hãn với niềm tin “cuồng loạn” không bao giờ chấp nhận lời khai kể trên, và bi kịch vẫn thường xảy ra. Có nạn nhân là Đảng viên, có người đã ngoài 90 tuổi đầu, có người bị nghi nhiều lần, đã cắt máu ăn thề không hại dân làng, dân làng cũng thề không “tra tấn” kẻ bị nghi kia nữa nhưng rồi vẫn bị… giết; có người bị đánh đuổi từ nơi nọ sang nơi kia mà vẫn không được sống.
Như vụ “hành quyết” bà Đinh Thị Doa bằng những cực hình kinh hoàng kể trên, lực lượng công an còn bắt gọn tên Đinh Văn Số là “pa dâu” (thầy cúng, thầy bói) tiếp tay cho những kẻ mê muội kết tội bà Doa. Số khai, hắn sinh ngày 1/2/1979, ở tỉnh Bình Định, từng tham gia quân đội, rồi hành nghề bói toán kiếm ăn. Khi làm việc với Đội An ninh, Công an huyện An Lão, đồng chí Đinh Văn Hùng ghi biên bản: Số nói, hắn đã bói cho 5 ông bà ở các thôn 4 – 5 - 6 xã An Trung cùng huyện An Lão, mỗi người “trả công” cho Số 1-2 trăm nghìn đồng. Số đã đổ thêm dầu vào lửa, bấm quyết niệm chú nói bà là “ma thuốc độc” rồi chính anh ta cũng tham gia đánh bà Doa dã man. Vụ khác ở huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi, lực lượng công an còn bắt được mấy tên bói toán quàng xiên, một tên đi điều tra, phán như thần, còn một tên chuyên đi thả đồ độc vào nhà người ta để rồi đào lên cho “quần chúng” thán phục… ông thầy và “nôn” tiền triệu vào tay thầy. Bọn chúng gồm: Đinh Thị Miết (người xã Sơ Linh) cầm đầu – Miết là “pa dâu” (thầy bói); Miết cấu kết với đông đảo các tay sai dò la tin tức, tung tin nhảm, chôn và đào tìm các hũ “đồ thuốc độc” ở nhà đồng bào cả tin, đó là: Đinh Mắt, Đinh Vì, Đinh Chiếc, Đinh Thăm… - các đối tượng đã bị công an Sơn Hà tóm gọn. Cho đến khi sa lưới, bọn chúng khai, đã đem chôn tới 38 gói đồ độc vào nhà người ta, rồi cúng bái lụp xụp, cỗ bàn rinh rượp, lấy tiền “lễ” của các khổ chủ hàng chục triệu đồng, gây hoang mang lớn trong dư luận. Hay như nạn nhân vụ cầm đồ thảm khốc ở xã Ba Dinh (huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi), chính nạn nhân Phạm Văn Xa, là một lái trâu ranh mãnh, còn mua củ pa-găng, mua ít đồ lăng nhăng về chôn vào từng cái hũ, tự phao tin là mình có đồ độc, để khi đi gạ mua trâu, dìm giá nó được rẻ (do người ta sợ Xa mà phải bán tống bán tháo). Kết cục là, vì cái tiếng ma thuốc độc, vì hũ đồ đó mà Xa bị cả làng trói lại, ném đá suốt mấy ngày, rồi đánh chết. Tương tự, bị nghi, ông Phạm Văn Nao ở Ba Tơ còn bị chôn sống.
Như vậy là, bên cạnh những người bị “nghi” nhầm, cũng có những người chẳng mấy oan khiên. Nhiều cán bộ, chuyên gia cũng đặt vấn đề: nếu có, thì hành vi CĐTĐ gây hại cho cộng đồng ra sao - để rồi người ta sợ hãi nó đến không còn lý trí như vậy? Có đúng là người ta đã dùng lá rừng, nhựa cây rừng, râu con hổ, rồi cả thuốc diệt chuột, thuốc trừ sâu để thả vào thức ăn nước uống của người mà chúng định gây hại không? Về vấn đề này, bà Đinh Thị Minh Kết, người dân tộc Hrê, nguyên Bí thư huyện ủy An Lão, Bình Định - điểm nóng cầm đồ thuốc độc, Phó Ban Dân tộc, Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Định - nói những lời gan ruột với chúng tôi tại nhà riêng của bà (tháng 7 năm 2011), như sau:
“Trước đây tình hình cầm đồ thuốc độc nóng hơn bây giờ nhiều. Có giai đoạn, hầu hết ở các xã các làng đều có nạn này, có làng hai ba vụ một năm cũng nên. Tiêu biểu như vụ giết người tập thể làng Gò Mít, ngay sau trụ sở Công an huyện bây giờ đó. Tìm ra thủ phạm nhưng họ quyết liệt, nếu bắt kẻ đã trừ khử “ma thuốc độc” cho dân làng đi tù, thì cả làng họ đi tù luôn. Cả người, trâu bò, ngan vịt xin được đi vào tù hết. Sau này lãnh đạo huyện, tôi bấy giờ là Phó Bí thư thường trực, đã tham mưu làm cái đề án chống cầm đồ thuốc độc.
Thật ra, cầm đồ là sự lợi dụng sự thiếu hiểu biết của đồng bào thiểu số để trục lợi. Còn thuốc độc là có thật. Tôi đã thực hiện nhiều đề án, giải quyết nhiều vụ việc kiểu này. Nó phức tạp lắm. Lúc đầu nó dùng cái măng ngâm cho đến lúc có con dòi, độc lắm. Có khi, dùng râu mép của con cọp cắm vào đọt măng, cũng rất độc. Nó chế ra từ cả đám rễ cây, “thuốc” đó rất độc và ngứa. Nói chung là đồ độc nhiều lắm, cái “đồ” thì nó hay lượm đá cuội dưới sông, rửa sạch sẽ, mài mòn rất đẹp. Mỗi lần đem đá ra là nó cúng, nó giấu diếm tôn thờ hòn đá như “cổ vật”, nó cúng cái hồn của thần linh ngụ ở… mấy hòn đá đó. Tôi cũng đi từ Bắc chí Nam, đi sang tỉnh Quảng Ngãi, cũng đi tìm hiểu mãi rồi, tìm hiểu rồi. Cái này, bên phía Tây Nguyên nó gọi là ma lai. Đi xử lý thì bắt họ đi tìm đồ độc, bắt đốt, khói của “đồ” tỏa ra màu xanh lè. “Đồ” nó sử dụng có loại chế từ nhiều loại “thuốc”, khi đốt, đám người mà họ biết chống lại chất đó thì nó không việc gì, với những người khác thì độc lắm. Đó là về “thuốc độc”.
Còn “cầm đồ”, nói về cái mê tín. Nó chỉ nói một câu thôi. Em có con gà cho chị mượn nhé. Nếu nói không có, không có thì chị mua cũng được. Nó đe dọa, không cho thì thôi, rồi sẽ biết tay nhau thôi. Trong quá trình mình “ngoại giao” với nó như thế, nó có động tác (đầu độc) mà mình không để ý. Thuốc đó một hai ngày sau mới ngấm vào trong cơ thể người ta. Nó thường tấn côn người trong làng, nó biết đặc điểm, sức khỏe của người đó, nó có cơ hội đầu độc người ta hơn (chứ như khách từ Hà Nội vào tìm hiểu, không uống nước ăn cơm cùng, không bao giờ gặp lại, kẻ “cầm đồ” cũng chưa bao giờ ra Hà Nội, thì sẽ không có chuyện nó hại nổi. Và, nếu “nó” có phép thuật, có lời nguyền chết người, thì thử nguyền người ở nơi xa không bao giờ tiếp xúc với “nó” xem, không bao giờ nó làm được - bà Kết mở ngoặc). Nó thường chôn đồ độc ở cái hũ nhỏ. Rất độc. Cái đó đáng sợ. Nhưng cái hòn đá cung bái chỉ là đe dọa thôi mà. Tóm lại, tôi không tin chỉ bằng lời nói mà kẻ cầm đồ thuốc độc có thể giết chết người, nhưng thuốc độc là có. Thuốc chuột, thuốc trừ sâu là “đại độc” (rất độc) ấy chứ đừng có nói là độc không thôi đâu. Miệng nó nói thôi, nhưng “thủ thuật” (hành vi đầu độc!) thì nó… tiến hành trước rồi.
Hành trình tiễu trừ những thảm án bi hài của “ma thuốc độc”
Nhận định tính chất phức tạp đặc biệt của tình hình cầm đồ thuốc độc trên địa bàn miền núi Ba Tơ, An Lão, Sơn Hà của hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi, suốt 12 năm qua (bắt đầu từ năm 1999) chính quyền cơ sở đã có những quyết sách mang tính bước ngoặt để chặn đứng tiến tới tiêu diệt toàn bộ nạn CĐTĐ. Tính trên cả Việt Nam nói chung, CĐTĐ là hủ tục man rợ “hy hữu” mà vẫn còn tồn tại người thật việc thật, vẫn khá phổ biến, vẫn tiếp diễn với nhiều biểu hiện đáng sợ đến tận năm 2011 này. Đây cũng là “hủ tục” duy nhất được cán bộ cơ sở đưa vào nghị quyết, tiến hành thực hiện trong nhiều năm, với các đầu việc rõ ràng, thực hiện liên tục, có tổng kết, báo cáo, với sự tham gia liên ngành để đi đến tận cùng vấn đề.
Công an huyện, công an tỉnh vào cuộc ráo riết. Ngay tại Công an tỉnh Bình Định, chúng tôi có đầy đủ văn bản, báo cáo tình hình, các cán bộ nhớ khá chi tiết từng vụ việc cơ bản. Ở cấp huyện, đội An ninh của Công an đã thuộc lòng từng “nhân vật”, gia cảnh, từng tình tiết oái oăm nhất của “ma thuốc độc”, có cả chiến dịch vận động già làng trưởng bản vào cuộc tổ chức cho bà con “ăn thề” xóa bỏ tệ CĐTĐ, khuyên giải kẻ thủ ác do CĐTĐ ra đầu thú. Đặc biệt, vấn đề còn thời sự đến mức, ngay khi phóng viên có mặt, người từ Ba Tơ vẫn chạy sang An Lão lánh nạn với tình tiết anh Phạm Văn Lê bị tra tấn, bị phá tan nhà cửa, đuổi khỏi làng, công an huyện vào cuộc bảo vệ “nhân chứng” rất bài bản. Mọi ví dụ và so sánh đều khập khiễng, nhưng tỷ dụ, ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, lâu nay vẫn tồn tại hủ tục tự tử bằng lá ngón, ma trò ma chài với những cái chết, với những sự oan khuất tày trời, nhưng cho đến giờ các “đề án” và sự vào cuộc tiễu trừ nạn này vẫn chưa thật sự quyết liệt như cần phải có. Ít ra là văn bản giấy tờ, thống kê vụ việc, vận động cứu người từ các nạn tự tử bằng lá ngón hay ma trò ma chài không được đầy đủ và chi tiết như cán bộ và bà con ở miền núi Bình Định, Quảng Ngãi tuyên chiến với “cầm đồ thuốc độc”.
Từ năm 1999, huyện An Lão đã có chỉ thị về việc “Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết tình hình nghi kỵ cầm đồ thuốc độc trên địa bàn huyện” (do Phó Bí thư huyện ủy Dương Thanh Tùng ký), liên tiếp sau đó, cơ quan chức năng từ tỉnh, đến huyện, xã cùng ra quân loại trừ hủ tục. Khi chúng tôi trở lại Bình Định, nửa cuối năm 20011, cũng là lúc Trung tá Trần Văn Trai, Trưởng Công an huyện vừa in từ máy tính ra bản sơ thảo đề án “chống cầm đồ thuốc độc” cho các năm từ 2011 đến 2015, bởi tình hình diễn biến rất phức tạp, bóng ma “thuốc độc” chưa bao giờ rời xa bà con cả, dù “cuộc vận động” lâu nay đã tương đối hiệu quả, vài năm qua, toàn tỉnh không có vụ giết người do nghi kỳ “cầm đồ” nào. Thời gian tới, hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi, các huyện giáp ranh “nóng” nhất, sẽ chính thức gặp và bàn kế hoạch “chuyên đề”, hợp tác cùng “tiễu trừ hủ tục” CĐTĐ, bởi tệ nạn này ở hai bên gần như giống hệt nhau, và nạn nhân vẫn thường chạy từ tỉnh nọ sang tỉnh kia lánh nạn. Phía Quảng Ngãi, họ cũng có chỉ thị, nghị quyết, có phong trào đưa già làng trưởng bản, cán bộ công an và y tế vào cuộc ngăn chặn CĐTĐ.
Chuyện CĐTĐ bây bây giờ lại có nhiều oái oăm, trớ trêu, khó tin hơn nữa. Tức là trong khi nhân loại hứng chí mua vé đi du lịch ngoài khoảng không vũ trụ, bắn thử máy bay siêu thanh siêu tốc đi mấy chục nghìn cây số một giờ, thì ở góc trời Việt Nam kia, những cán bộ, Đảng viên, những công dân sử dụng công nghệ của nền văn minh kỹ trị như cầm điện thoại di động, cưỡi xe gắn máy lướt êm trên đường nhựa hoặc đường lát bê tông 100% đến từng thôn xóm... - trong khi, họ vẫn tham gia nghi người khác CĐTĐ! Tin mới nhất từ công an huyện An Lão: chỉ tính từ năm 2009 đến giữa năm nay (2011) -tức là chỉ trong xấp xỉ 3 năm gần đây nhất - trên địa bàn xảy ra các vụ nghi CĐTĐ tiêu biểu với các nạn nhân khốn khổ bị đuổi khỏi làng, bị đánh đập tập thể, bị dọa móc mắt và giết chết, gồm: Đinh Văn Tiếu - xã An Vinh; Đinh Văn Cam và Đinh Thị Cua - xã An Hưng; Đinh Thị Thân - xã Tân An; Đinh Văn Rưới, Đinh Thị Dô và Phạm Thị Lói - xã An Trung...
Và, ngày 14/4/2011 vừa qua, Thượng tá Nguyễn Duy Ánh, Phó trưởng Công an huyện An Lão có một bản báo cáo chính thức về vụ: do nghi ngờ CĐTĐ, nên người ở thôn 1, An Trung tấn công cô Đinh Thị Dô, SN 1975 cùng xã. Theo đó, Đinh Văn Cung là sinh viên, đi uống rượu về, cãi nhau rồi đánh vợ. Cô Dô là hàng xóm, sang can ngăn, có mắng Cung sao đánh vợ ác thế. Sau đó, Cung về Đà Nẵng tiếp tục theo học ở trường Đại học. Tại đây, Cung bị ốm nặng, bị bệnh viện trả về chờ chết, ông Đinh Văn Thủy, bố của Cung có đến đầu giường dò hỏi “con có mâu thuẫn với ai không?”, Cung nói: có nhớ chuyện Dô mắng mình. Sẵn mối nghi ngờ, ông Thủy sang dọa dẫm, xin Dô giải độc cứu Cung, Dô bảo không biết CĐTĐ là gì, thế là ông Thủy rồi tiếp tục đánh đập Dô, phá nhà Dô. Trước tình trạng quá căng thẳng, Dô phải bỏ nhà đi ở nhờ. Khi Cung chết, Dô phải chạy lên UBND xã kêu cứu, trú thân, công an huyện phải đứng ra bảo vệ, kẻo Dô bị nguy hiểm tính mạng. Đau lòng hơn, những người nằm trong hồ sơ công an, ở mục “người nghi CĐTĐ” đã đe dọa, tấn công bà Dô, lại có đến 3 người là Đảng viên cùng xã, gồm: Đinh Xuân Thủy, Đinh Văn Cúc, Đinh Thị Cư.
Liên tiếp, liên tiếp toàn chuyện khó tin nhưng nó đã xảy ra. Đau lòng thì cũng chẳng biết làm thế nào. Bà Kết bảo, lực lượng công an họ đem các hũ được coi là “đồ độc” đi tiêu hủy, tiêu hủy ngay trước mặt bà con kẻo họ lại nghi lấy đồ độc về để dùng vào mục đích xấu. Bà Kết vẫn lắc đầu hãi hùng với nỗi ám ảnh khi nhìn ngọn lửa xanh lè trong đám tiêu hủy “đồ độc” năm nào. Bà bảo, khi bà còn là Bí thư huyện ủy, nghe nói, đã có “hũ đồ” được đem về Hà Nội, nhờ Viện Khoa học hình sự của Bộ Công an, giám định xem nó độc đến mức nào. Nhưng xe vừa đi, có người bảo ngay: gớm, nó là “yêu quái” luyện đồ độc, đời nào nó khai ra, giao nộp hũ đồ thật, cái nó đem ra là đồ giả thôi. Xét nghiệm chẳng thấy cái gì đâu. Lời vận động nào cũng bị những cái đầu đã bị ám ảnh, đã có sự cuồng tín với ma tà, thuốc độc ngâm tẩm từ nhiều thế hệ kia luận lý rồi bác bỏ. Họp hành, vận động thì họ dạ vâng, cắt máu ăn thề họ cũng cắt cũng uống, nhưng khi nghi là họ lại “xuống tay tàn độc”. Có vẻ mệt mỏi, một đồng chí lãnh đạo ngành nọ ở huyện An Lão bèn thở dài nói với tôi: anh thấy không, ở trước lối vào UBND huyện, gần cổng Công an huyện nhìn sang, cách cổng Bưu điện huyện chỉ 10m, có một tấm bia Căm Thù. Chữ to khắc vào đá thế này: vào ngày 25/11/1959, tại làng Đá Bàn, xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định, Mỹ ngụy đã tàn sát 33 người thuộc 14 gia đình dân tộc Hrê. Đấy, ngày nào các “ma thuốc độc” người Hrê cũng đi qua đó. Đấy mấy chục năm qua chúng ta đã căm thù những kẻ thù cuồng sát, bà con chết thảm khốc lắm. Thế sao hồi đó, bà con Hrê dùng lễ bái, lời nguyền, dùng “đồ độc” giết chết kẻ thù xâm lược đi? Hay là vì các cụ không biết “cầm đồ”, hay “cầm đồ thuốc độc” chỉ là thứ hù dọa thôi? “Nghi” cho họ là nghi oan? Có phải, kể cả khi họ tuyên bố họ có đồ độc, cũng là họ tức tối muốn dọa dẫm ai đó thôi, muốn ra oai thôi, hoặc họ tự “xù lông nhím” lên khi cảm thấy yếu thế quá thôi. Hoặc nữa, họ rêu rao thế để mọi người sợ, phải nhờ họ xin thuốc, phải cúng lễ họ để họ trục lợi thôi? Chứ CĐTĐ không có thật? Nếu có thật, họ căm thù cán bộ chúng tôi lắm chứ, tôi phá “hũ đồ” của họ, bắt họ viết lời khai; rồi cả làng đánh, tra tấn họ sao họ không làm gì được? Cái mình nghi là nghi oan cho họ ư? Cái bệnh tật, chết chóc bà con mình gặp phải, là do dịch bệnh, do vi trùng, vi khuẩn, do môi trường ô nhiễm, do không chịu đi khám bệnh ngoài cơ sở y tế, mà chỉ tin vào thầy cúng làm phép khiến cho bệnh ngày càng trầm trọng?
Anh cứ nói, rồi anh bảo, nhiều người họ cứ nghe, nhưng họ không tin đâu. Chuyện gì cũng thế, “muốn nhanh thì… phải từ từ”. Nhất là ta lại đang đánh nhau với… ma. Nhất lại là “ma thuốc độc”. Đúng là ma, càng tìm hiểu chúng tôi lại càng thấy sự việc nó “mênh mông bể Sở”.
Hết












