A Páo, từ hang đá về đến Thủ đô.
Saturday, October 29, 2011 2:22:26 PM
“Người tiền sử” - từ hang đá về thẳng… Thủ đô!
Khi leo núi rã rời để viết phóng sự “Gặp “người tiền sử” trong hang đá Mông Ân” (huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng) - đã đăng báo Lao Động số ra ngày 15/6/2011 - quả là tôi đã rất sửng sốt, có cái gì đó hoang mang trước thảm cảnh.¬¬ Sao đến thập niên thứ hai của thế kỷ 21 rồi, mà một người già cô đơn, hai đứa trẻ tận khổ gầy sọm và trần truồng kia vẫn phải ở trong lỗ đá như người nguyên thủy, không hộ khẩu, không được hưởng bất cứ sự quan tâm nào của xã hội nhân ái? Tôi viết và tự hứa trên báo rằng sẽ sớm trở lại, xây nhà cho họ trước khi những cơn gió buốt óc của miền đá tai mèo năm 2011 ập đến. Bấy giờ, tôi hạ quyết tâm hứa thế, cũng chỉ vì quá xúc động mà thôi, chứ chưa thể hình dung được, tiền ấy sẽ lấy ở đâu…
Đến cuối tháng 10/2011, thật bất ngờ, Sùng A Páo và đàn con đã được một tổ chức nhân đạo đón về Hà Nội nuôi dưỡng, dăm bảy chục triệu đang xúc tiến đưa vào sổ tiết kiệm tặng người về từ mái đá hoang vu.
Giấc mơ được là… công dân
Tôi có rất nhiều người bạn ở Cao Bằng. Nhiều người trong số họ là lái xe chuyên nghiệp, chiếc xe biển xanh của cơ quan đầu não tỉnh cứ lăn bánh qua cầu Thăng Long, cập mạn phố phường rích rắc và đông như nêm cối kia là bạn tôi… tấp vào nhà nghỉ, khách sạn. Thứ nhất là sau hơn 10 tiếng lái xe “một đèo, một đèo,… lại một đèo”, họ đã quá mệt. Thứ hai là “đóng đô” ở rìa thành phố cho chắc ăn, đi đâu thì thuê taxi xe ôm thà tốn kém một tí, bạn bè muốn gặp thì qua mà đón. Đường Hà Nội nhô nhúc người và xe, tắc tị vì bất cứ lý do gì, ở bất cứ thời điểm nào nó muốn, nhiều con đường “lật mặt như trở bàn tay”, thoắt một chiều thoắt qua lại hai chiều… như đánh đố. Như “đánh bẫy”. Người ta bảo, ai lái xe xuyên qua Hà Nội được vào giờ cao điểm, thì chắc chắn người đó hoàn toàn có thể canavan vòng quanh thế giới… cũng là rất có lý. Dông dài một chút như thế, để thấy, cán bộ Cao Bằng còn thấy Hà Nội quá xa xôi phức tạp như vậy, huống hồ với “người rừng” Sùng A Páo và hai đứa con không biết tiếng Kinh, chưa từng ra khỏi huyện rẻo cao kia.
Nhớ mãi buổi chiều lộng nắng và những dốc núi mà mỗi lần ngước lên tôi đều bị rơi mất phom mũ đang đội trên đầu ấy. Bà Hoàng Thị Bình, Đại biểu quốc hội khóa 12, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc tỉnh Cao Bằng chợt trầm buồn chỉ tay về cái màu đen hun hút giữa rừng xanh của đỉnh trời xã Mông Ân. Mắt tôi bị hút mãi vào cái vùng thăm thẳm tăm tối ấy. Có cảm giác như nó là một cái hang không đáy trong Tây Du Ký thì đúng hơn. Anh cán bộ huyện thở dài: ai đứng bên này nhìn sang, cũng tưởng lỗ đá đen kịt kia là cái cửa hang, nhưng thật ra nó chỉ là một vách mái đá hủm vào lòng núi chưa đầy một mét. Ta có cảm giác “lỗ đen”, là bởi vì gia đình ông Sùng A Páo ở trong mái đá quá lâu, khói bếp họ đun đã ám tầng tầng lớp lớp vào màu đá xám. Nó đen nhóng nhánh như nhựa đường (hắc ín) khắp cả một vách núi lớn.
Gần 60 tuổi, ông Páo và bà vợ thiểu năng trí tuệ với 3 đứa con cứ sống như “người tiền sử” trong mái đá tự nhiên, biệt lập giữa núi rừng. Ngôi nhà cũ sập, A Páo bán cho người ta với giá 20 nghìn đồng kèm thêm hai chai rượu “hỗ trợ”. Thế là họ rời vào mái đá mà tá túc qua ngày. Đứa con thứ 2 ăn mấy con cá khô rẻ tiền mua ở chợ huyện, rồi bị nhiễm độc, phát bệnh kiết lỵ mà chết. Vợ trước của ông theo trai, rồi buồn tình ăn lá ngón tự tử. Vợ sau dù dớ dẩn nhưng được cái trẻ trung (chưa đầy ba mươi tuổi), nên bị kẻ xấu lừa bán sang Trung Quốc đã vài năm. Hằng ngày ông bố già lên núi đẵn củi, đứa con Sùng A Lự mới 7 tuổi đầu phải cõng bó củi to như thân xác… bố, vượt qua mấy quả đồi xuống chợ huyện bán, kiếm 10.000 đồng về nuôi cha mẹ.
Là đàn ông trẻ, khỏe khoắn, người ta rất ngại kể về việc mình đã sướt mướt khóc như thế nào. Nhưng, đúng là tôi đã không cầm được nước mắt khi nhìn cái thằng bé Sùng A Đại ba bốn tuổi đầu ở trong hang núi trần truồng như… hoang thú. Rồi cảnh Sùng A Lự men theo bờ suối, ngược các triền núi hoang trọc, nai lưng cố sức cõng bó củi khổng lồ dài thượt đi đổi lấy hai cuộn mì khô trắng ởn trị giá 10 nghìn đồng. Con đường lên vách núi nương thân của bố con A Páo ấy, tôi xắn quần, cõng theo nước uống và chống gậy trèo cạn một buổi chiều mới đi hết, thế mà cậu bé 7 tuổi thất học A Lự ngày nào cũng phải cõng củi đi đổi lấy cái ăn, nuôi bố già, nuôi mình và em trai.
Bà Hoàng Thị Bình thì buồn bã hơn sau khi cùng tôi vào diện kiến UBND xã Mông Ân. Ông Páo từ đẩu đâu về, không có hộ khẩu, ở trong hang đá cùng vợ và đàn con, ông không được đi bầu cử, cũng không được hưởng bất cứ sự đối đãi nhân ái nào như một công dân chân chính. Xã đùn trách nhiệm cho thị trấn Pác Miều, thị trấn đẩy cho xã. Ông Páo thì bảo, sống làm người ở hang đá đã hết cỡ khổ rồi, làm sao ông biết mình sẽ làm thế nào được công nhận là người của xã hay thị trấn. “Họ bảo, ai chả biết ông là người dân ở đây. Ông cứ ở núi đấy. Hộ khẩu làm gì. Thằng Lự đi học được vài hôm, rồi cũng bỏ”, ông Páo kể bằng tiếng Mông, bạn tôi, nhà báo Lầu Hải của Đài PTTH Cao Bằng đắng lòng phiên dịch.
Sau khi phóng sự “Gặp “người tiền sử” trong hang đá Mông Ân” đăng tải, khỏi phải nói đồng nghiệp địa phương của tôi đã bị huyện “trách móc” đến mức nào, bởi cái tội dẫn “nhà báo trung ương” về “vạch áo cho người xem lưng”. Bù lại, chính quyền cơ sở đã sốt sắng đi “khắc phục hậu quả”, rồi trao cho ông Páo một cái hộ khẩu đỏ chót. Vài chục triệu được các nhà hảo tâm gửi về. A Páo trở thành nhân vật “có tiếng” ở cả huyện từ bấy. Các đoàn từ thiện leo núi tơi tới. Huyện có vẻ cũng lăn tăn xem lại mình, cho nên mới quyết định đưa ra thêm 15 triệu đồng nữa ủng hộ cha con A Páo, coi như “vốn đối ứng” để cứu độ gia đình “người tiền sử”. Đặc biệt, ông Trần Duyên Hải, Giám đốc Trung tâm dạy nghề Nhân đạo ở Khâm Thiên, Hà Nội đã lên Cao Bằng đón ông Páo và 2 người con về chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy nghề.
“Người rừng” đi xem Hà Nội và ngủ ở đồn công an
Mất vợ, lại thấy đồn cô vợ trẻ của mình bị người ta dắt đi ăn phở ngoài chợ huyện rồi chở bằng xe máy đi làm gái bán dâm ở nước ngoài, nên bây giờ ông Páo đề phòng lắm. Sau hơn 2 ngày thuê ô tô chạy ròng rã từ Hà Nội, vượt đèo dốc của con đường hang hốc vào Mông Ân, cán bộ trung tâm sững sờ khi hay tin ông Páo kiên quyết không đi theo những người muốn cứu giúp cuộc đời mình. “Ta ở rừng quen rồi. Ăn mỳ tôm rồi… vứt vỏ, “phóng uế” thẳng xuống vách đá cao cao ngoài cửa hang, thích lắm. Người đi xe máy nó đã lừa ta mất vợ. Giờ ta phải giữ 2 thằng cu này”, ông Páo chậm rãi, chắc nịch nói.
Đại diện Trung tâm, dù đã làm thủ tục kỹ càng với Hội Chữ thập đỏ Cao Bằng, trao đổi với cơ quan chức năng khá công phu, nhưng họ không thể ngờ đến tình huống khó tin này. Lãnh đạo huyện Bảo Lâm, lãnh đạo xã Mông Ân phải vào tận đỉnh núi ám khói “người rừng” để thuyết phục. Ba bố con Sùng A Páo cứ một hôm đồng ý, một hôm lại quả quyết “bám trụ núi rừng”. Vừa rồi, rời hang núi với mỗi người một bộ quần áo của nhà hảo tâm, ngoái đầu lại, ông Páo lẩm bẩm, “hóa ra chẳng có gì để mang theo, lúc đi khỏi hang rồi mới biết mình quá nghèo, chỉ có hai con gà đang nuôi, một con vừa biết gáy…”. Sùng A Đại nhìn thấy cái ô tô, cứ khóc ngằn ngặt, nó bảo đó là “con trâu to quá” không dám đến gần. Cả nhà A Páo, chưa ai ra khỏi huyện Bảo Lâm một lần nào.
Xe đi từ sáng hôm trước đến 2h sáng hôm sau thì về đến Trung tâm nhân đạo của ông Hải ở phố Khâm Thiên, Hà Nội. Thủ đô đón chào gia đình ông bằng một bữa cơm no nê, họ ăn như chưa bao giờ được ăn. “Trông hai đứa trẻ ăn ngấu nghiến, nó xúc rồi và những miếng rất rất to. Nhìn thích lắm, tôi lại nhớ con cháu mình bón mãi vẫn nhè ra! Cu Lự lội nắng vác củi, ở rừng bao năm, tóc nó vàng đến mức… ai đến thăm cũng bảo sao cháu lại nhuộm tóc”, chị Thủy, giáo viên của Trung tâm kể. Ông Páo bước đi thập thễnh, bồng bềnh, bởi như ông nói: ông leo núi quen rồi, chân đi thì tay phải vịn vào cây nó mới dễ đi. Hà Nội không có cây để vịn. Đứng nhìn đường một lúc thì “cụ” kêu mỏi cổ, bởi xe nào cũng lạ, cứ nhìn theo từng cái xe, nhìn kỹ theo một cái xe hay một người “lạ hoắc” thì phải ngoái đầu từ trái sang phải hoặc từ phải sang trái một lần, thế là mỏi sái cổ. Ông thử đi ra phố. Bà Hoàng Thị Bình, các phóng viên hảo tâm của Đài Cao Bằng là Hoài Phương - Đàm Trình phải tá hỏa kinh hãi khi chợt thấy Sùng A Páo biến mất. Hai đứa trẻ đứng khóc ngao ngao. Tìm mãi không thấy. Ở Hà Nội, đi trên phố, hầu như chẳng ai biết nói tiếng Mông, A Páo cũng chẳng biết nói tiếng gì ngoài tiếng Mông, mà ông ta cũng không biết mình đang được nuôi dưỡng ở chỗ nào của Hà Nội, nên ông ta đã lạc thì cơ hội tìm được đường về chỗ bắt đầu “cất bước ra đi” là không có. Người ta bủa nhau ra để tìm. Mấy tiếng sau, bà Bình đến một khu bùng binh lớn chỗ Cầu Giấy thì thấy một người đen đúa, lơ ngơ, quần áo xộc xệch đang dò dẫm, giật cục cắt ngang hàng xe cộ nườm nượp mà… lượn. Họ chặn lại, máy quay của Đàm Trình bật lên, bà Bình hỏi bằng tiếng Mông, “đi đâu thế hả ông anh”, “Ta đi xem Hà Nội, nó lắm người quá. Đường về không dễ tìm như ở Mông Ân, Pác Miều quê ta”. “Từ bây giờ ông đừng có đi đâu nữa, ông lạc là chết ông và khổ các con ông và khổ rất nhiều người nữa đấy”, Hoài Phương dặn dò; “Ta thèm rượu. Không được leo núi thì ta chết mất”, ông Páo vẫn đều đều giọng.
Xe máy của trung tâm đến đón. Chưa ngồi xe bao giờ, nên ông nhảy phắt một cái như leo lên lưng trâu, cu cậu đón “người rừng” loạng choạng ngã nhào. Về lại trung tâm được vài hôm, cán bộ Cao Bằng về, tôi cũng đi công tác miền Trung bão lũ. Chợt lại nghe tin, Sùng A Páo biến mất. Dù quản lý “người trong mái đá” rất chặt, nhưng hôm ấy ông Páo xin “ưu tiên” một chút, bởi ông cảm thấy mình đã thuộc đường ở ngõ Văn Chương (nowi trung tâm tọa lạc) lắm rồi. Ông muốn làm gì đó cho đỡ buồn bực, “ta xin đi đổ rác cho các người” (ông nói bằng chút tiếng Kinh mới học thêm được). Ông đi đổ rác nửa ngày chưa về. Giám đốc Hải có vẻ điềm đạm: “Tôi đã tính kỹ, để trong ngực túi áo của ông cái cardvidit của tôi và của trung tâm, mặt sau có sơ đồ chỉ dẫn đường hẳn hoi. Nếu ông lạc thì kiểu gì cũng tìm hoặc nhờ người tìm cho được đường về”. Chờ mãi, nóng ruột quá. Lên phòng ông Páo kiểm tra, thì thấy hai đứa con vẫn vui vẻ cười đùa. Nó ăn uống ngấu nghiến, sùng sục như lúc nào cũng vẫn còn bị cơn đói trong hang đá đeo bám. Nhưng, than ôi, cái áo có nhét hai tờ cardvidit thể hiện sự cao kiến của giám đốc Hải vẫn ném tơi bời dưới sàn nhà. Ông Páo mặc áo may ô đi đổ rác đã 1 ngày chưa về.
Tin báo cho Cao Bằng và cho PV Lao Động, chúng tôi đúng là ăn nằm không yên, ngẫm cảnh nhỡ ra… làm phúc phải tội mà buốt lòng. Ông Hải cho người in ảnh chân dung ông Páo đi dán và phát ở các nơi để nhờ tìm kiếm người già lạc lối. Học viên ở trung tâm thì toàn người khuyết tật, cũng phải huy động đi tìm. Giáo viên thì bắt đi… xe ôm cho nó cơ động, hang cùng ngõ hẻm cứ lượn, ông nào lơ ngơ là sáp đến nhòm. Một ngày, rồi một đêm, rồi một ngày nữa lại đang trôi qua. Tất cả căng như dây đàn. Chợt có học viên là người câm đi xe bus tìm kiếm phát hiện một ông nhẩn nha lượn qua đầu xe bus ở địa phận quận Thanh Xuân, dọc đường Nguyễn Trãi. Cậu này nhảy xuống, kéo ông già Páo về. Ông Páo vốn có tinh thần cảnh giác cao với bọn đi xe máy, đi ô tô (giống bọn đã bắt vợ ông!), nên ông bỏ chạy rồi ú ớ kêu cứu. Học viên câm cứ ú ớ, ông Páo càng ú ớ phát “sóng ngắn” tiếng Mông. Tất cả náo loạn mà không ai hiểu nổi chuyện gì đang diễn ra.
Phải bám theo ông Páo, phải bút đàm nhờ liên lạc và cầu cứu, khó khăn lắm họ mới triệu tập được ông Páo về đoàn tụ với các con. Thật không ai ngờ A Páo đi đổ rác rồi thấy ngõ phố nào cũng giống nhau, rồi đi tìm con ngõ có hai đứa con mình đang ở… lại mất mấy ngày. Ông cứ đi, cứ tìm những cái ngõ nhỏ hun hút cong cong, xuyên từ quận Đống Đa, sang quận Cầu Giấy, sang cả quận Thanh Xuân. Đi vòng quanh Hà Nội, thấy ngõ nào cũng bé xíu, cong cong hun hút và nhô nhúc những người. Rồi ông lọ mọ lạc vào… một đồn công an, ông bảo mình là Páo, nhưng không biết mình đang tìm phố nào ngõ nào, không biết mình từ đâu đến và sẽ đi về đâu. Tiếng Kinh của ông chỉ đủ để nói lơ lớ, lập cập. Rồi ông ngủ nhờ ở đồn công an một đêm dài dằng dặc. “Công an nó cho ta 20 nghìn đồng, ta mua bánh mỳ ăn. Cơm và bánh mỳ ở Hà Nội đắt lắm. Nhưng ta vẫn mua được 2 cái bánh mỳ, còn hai cái phần thằng A Đại và A Lự đây”, A Páo tự hào thò hai chiếc bánh mỳ bột nở vẫn nằm bẹp dí trong túi quần ra, cười hể hả.
Anh chị em ở trung tâm nhân đạo được trận hú hồn rồi cười như nắc nẻ. Giận lắm mà cũng thương lắm, “người rừng” ạ.
Gặp lại phóng viên Lao Động đến trao tiền Tấm Lòng Vàng, nhớ những ngày cùng lang thang Bảo Lâm, Pác Miều, Mông Ân, “cảnh cũ người xưa” khiến ông Páo khóc òa, nức nở. Hai thằng bé xúng xính quần áo mới mở báo Lao Động xem ảnh của mình trong hang đá cười hì hì hi hi, bố Páo cứ khóc lặng, khuôn mặt già nhăn nhúm. “Ta nhớ con lắm, nhớ Mông Ân lắm. Rời hang đá ta chỉ có 2 con gà mới nuôi, một con vừa biết gáy. Xuống Hà Nội ta có tất cả. Thằng Lự, thằng Đại sẽ lấy vợ ở đây, ta sẽ sống mãi cho đến khi già và chết ở những chỗ như thế này thôi. Không về hang đá nữa đâu”. Ông còn đàn con 5 đứa, 3 trai, hai gái là con của bà vợ đã ăn lá ngón tự tử kia. Họ đang ở Bảo Lâm, Cao Bằng, nhưng vì nhiều lý do, trong đó có đói nghèo, có cả sự nhẫn tâm với bố và các em cùng cha khác mẹ, nên họ đã bỏ mặc gia đình nhỏ khốn khổ của ông trong hang đá. Tôi phân tích như vậy, ông Páo vẫn khóc, “nhớ lắm, dẫu sao thì chúng vẫn là con là cháu của ta, ta không giận mà chỉ nhớ chúng nó”.
Bây giờ “người tiền sử” nói tiếng Kinh đã sõi hơn. Và quan trọng hơn: suy nghĩ của người rừng, hóa ra rất đến điều, chí lý.
(Mời độc giả xem clip kèm theo).
Khi leo núi rã rời để viết phóng sự “Gặp “người tiền sử” trong hang đá Mông Ân” (huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng) - đã đăng báo Lao Động số ra ngày 15/6/2011 - quả là tôi đã rất sửng sốt, có cái gì đó hoang mang trước thảm cảnh.¬¬ Sao đến thập niên thứ hai của thế kỷ 21 rồi, mà một người già cô đơn, hai đứa trẻ tận khổ gầy sọm và trần truồng kia vẫn phải ở trong lỗ đá như người nguyên thủy, không hộ khẩu, không được hưởng bất cứ sự quan tâm nào của xã hội nhân ái? Tôi viết và tự hứa trên báo rằng sẽ sớm trở lại, xây nhà cho họ trước khi những cơn gió buốt óc của miền đá tai mèo năm 2011 ập đến. Bấy giờ, tôi hạ quyết tâm hứa thế, cũng chỉ vì quá xúc động mà thôi, chứ chưa thể hình dung được, tiền ấy sẽ lấy ở đâu…
Đến cuối tháng 10/2011, thật bất ngờ, Sùng A Páo và đàn con đã được một tổ chức nhân đạo đón về Hà Nội nuôi dưỡng, dăm bảy chục triệu đang xúc tiến đưa vào sổ tiết kiệm tặng người về từ mái đá hoang vu.
Giấc mơ được là… công dân
Tôi có rất nhiều người bạn ở Cao Bằng. Nhiều người trong số họ là lái xe chuyên nghiệp, chiếc xe biển xanh của cơ quan đầu não tỉnh cứ lăn bánh qua cầu Thăng Long, cập mạn phố phường rích rắc và đông như nêm cối kia là bạn tôi… tấp vào nhà nghỉ, khách sạn. Thứ nhất là sau hơn 10 tiếng lái xe “một đèo, một đèo,… lại một đèo”, họ đã quá mệt. Thứ hai là “đóng đô” ở rìa thành phố cho chắc ăn, đi đâu thì thuê taxi xe ôm thà tốn kém một tí, bạn bè muốn gặp thì qua mà đón. Đường Hà Nội nhô nhúc người và xe, tắc tị vì bất cứ lý do gì, ở bất cứ thời điểm nào nó muốn, nhiều con đường “lật mặt như trở bàn tay”, thoắt một chiều thoắt qua lại hai chiều… như đánh đố. Như “đánh bẫy”. Người ta bảo, ai lái xe xuyên qua Hà Nội được vào giờ cao điểm, thì chắc chắn người đó hoàn toàn có thể canavan vòng quanh thế giới… cũng là rất có lý. Dông dài một chút như thế, để thấy, cán bộ Cao Bằng còn thấy Hà Nội quá xa xôi phức tạp như vậy, huống hồ với “người rừng” Sùng A Páo và hai đứa con không biết tiếng Kinh, chưa từng ra khỏi huyện rẻo cao kia.
Nhớ mãi buổi chiều lộng nắng và những dốc núi mà mỗi lần ngước lên tôi đều bị rơi mất phom mũ đang đội trên đầu ấy. Bà Hoàng Thị Bình, Đại biểu quốc hội khóa 12, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc tỉnh Cao Bằng chợt trầm buồn chỉ tay về cái màu đen hun hút giữa rừng xanh của đỉnh trời xã Mông Ân. Mắt tôi bị hút mãi vào cái vùng thăm thẳm tăm tối ấy. Có cảm giác như nó là một cái hang không đáy trong Tây Du Ký thì đúng hơn. Anh cán bộ huyện thở dài: ai đứng bên này nhìn sang, cũng tưởng lỗ đá đen kịt kia là cái cửa hang, nhưng thật ra nó chỉ là một vách mái đá hủm vào lòng núi chưa đầy một mét. Ta có cảm giác “lỗ đen”, là bởi vì gia đình ông Sùng A Páo ở trong mái đá quá lâu, khói bếp họ đun đã ám tầng tầng lớp lớp vào màu đá xám. Nó đen nhóng nhánh như nhựa đường (hắc ín) khắp cả một vách núi lớn.
Gần 60 tuổi, ông Páo và bà vợ thiểu năng trí tuệ với 3 đứa con cứ sống như “người tiền sử” trong mái đá tự nhiên, biệt lập giữa núi rừng. Ngôi nhà cũ sập, A Páo bán cho người ta với giá 20 nghìn đồng kèm thêm hai chai rượu “hỗ trợ”. Thế là họ rời vào mái đá mà tá túc qua ngày. Đứa con thứ 2 ăn mấy con cá khô rẻ tiền mua ở chợ huyện, rồi bị nhiễm độc, phát bệnh kiết lỵ mà chết. Vợ trước của ông theo trai, rồi buồn tình ăn lá ngón tự tử. Vợ sau dù dớ dẩn nhưng được cái trẻ trung (chưa đầy ba mươi tuổi), nên bị kẻ xấu lừa bán sang Trung Quốc đã vài năm. Hằng ngày ông bố già lên núi đẵn củi, đứa con Sùng A Lự mới 7 tuổi đầu phải cõng bó củi to như thân xác… bố, vượt qua mấy quả đồi xuống chợ huyện bán, kiếm 10.000 đồng về nuôi cha mẹ.
Là đàn ông trẻ, khỏe khoắn, người ta rất ngại kể về việc mình đã sướt mướt khóc như thế nào. Nhưng, đúng là tôi đã không cầm được nước mắt khi nhìn cái thằng bé Sùng A Đại ba bốn tuổi đầu ở trong hang núi trần truồng như… hoang thú. Rồi cảnh Sùng A Lự men theo bờ suối, ngược các triền núi hoang trọc, nai lưng cố sức cõng bó củi khổng lồ dài thượt đi đổi lấy hai cuộn mì khô trắng ởn trị giá 10 nghìn đồng. Con đường lên vách núi nương thân của bố con A Páo ấy, tôi xắn quần, cõng theo nước uống và chống gậy trèo cạn một buổi chiều mới đi hết, thế mà cậu bé 7 tuổi thất học A Lự ngày nào cũng phải cõng củi đi đổi lấy cái ăn, nuôi bố già, nuôi mình và em trai.
Bà Hoàng Thị Bình thì buồn bã hơn sau khi cùng tôi vào diện kiến UBND xã Mông Ân. Ông Páo từ đẩu đâu về, không có hộ khẩu, ở trong hang đá cùng vợ và đàn con, ông không được đi bầu cử, cũng không được hưởng bất cứ sự đối đãi nhân ái nào như một công dân chân chính. Xã đùn trách nhiệm cho thị trấn Pác Miều, thị trấn đẩy cho xã. Ông Páo thì bảo, sống làm người ở hang đá đã hết cỡ khổ rồi, làm sao ông biết mình sẽ làm thế nào được công nhận là người của xã hay thị trấn. “Họ bảo, ai chả biết ông là người dân ở đây. Ông cứ ở núi đấy. Hộ khẩu làm gì. Thằng Lự đi học được vài hôm, rồi cũng bỏ”, ông Páo kể bằng tiếng Mông, bạn tôi, nhà báo Lầu Hải của Đài PTTH Cao Bằng đắng lòng phiên dịch.
Sau khi phóng sự “Gặp “người tiền sử” trong hang đá Mông Ân” đăng tải, khỏi phải nói đồng nghiệp địa phương của tôi đã bị huyện “trách móc” đến mức nào, bởi cái tội dẫn “nhà báo trung ương” về “vạch áo cho người xem lưng”. Bù lại, chính quyền cơ sở đã sốt sắng đi “khắc phục hậu quả”, rồi trao cho ông Páo một cái hộ khẩu đỏ chót. Vài chục triệu được các nhà hảo tâm gửi về. A Páo trở thành nhân vật “có tiếng” ở cả huyện từ bấy. Các đoàn từ thiện leo núi tơi tới. Huyện có vẻ cũng lăn tăn xem lại mình, cho nên mới quyết định đưa ra thêm 15 triệu đồng nữa ủng hộ cha con A Páo, coi như “vốn đối ứng” để cứu độ gia đình “người tiền sử”. Đặc biệt, ông Trần Duyên Hải, Giám đốc Trung tâm dạy nghề Nhân đạo ở Khâm Thiên, Hà Nội đã lên Cao Bằng đón ông Páo và 2 người con về chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy nghề.
“Người rừng” đi xem Hà Nội và ngủ ở đồn công an
Mất vợ, lại thấy đồn cô vợ trẻ của mình bị người ta dắt đi ăn phở ngoài chợ huyện rồi chở bằng xe máy đi làm gái bán dâm ở nước ngoài, nên bây giờ ông Páo đề phòng lắm. Sau hơn 2 ngày thuê ô tô chạy ròng rã từ Hà Nội, vượt đèo dốc của con đường hang hốc vào Mông Ân, cán bộ trung tâm sững sờ khi hay tin ông Páo kiên quyết không đi theo những người muốn cứu giúp cuộc đời mình. “Ta ở rừng quen rồi. Ăn mỳ tôm rồi… vứt vỏ, “phóng uế” thẳng xuống vách đá cao cao ngoài cửa hang, thích lắm. Người đi xe máy nó đã lừa ta mất vợ. Giờ ta phải giữ 2 thằng cu này”, ông Páo chậm rãi, chắc nịch nói.
Đại diện Trung tâm, dù đã làm thủ tục kỹ càng với Hội Chữ thập đỏ Cao Bằng, trao đổi với cơ quan chức năng khá công phu, nhưng họ không thể ngờ đến tình huống khó tin này. Lãnh đạo huyện Bảo Lâm, lãnh đạo xã Mông Ân phải vào tận đỉnh núi ám khói “người rừng” để thuyết phục. Ba bố con Sùng A Páo cứ một hôm đồng ý, một hôm lại quả quyết “bám trụ núi rừng”. Vừa rồi, rời hang núi với mỗi người một bộ quần áo của nhà hảo tâm, ngoái đầu lại, ông Páo lẩm bẩm, “hóa ra chẳng có gì để mang theo, lúc đi khỏi hang rồi mới biết mình quá nghèo, chỉ có hai con gà đang nuôi, một con vừa biết gáy…”. Sùng A Đại nhìn thấy cái ô tô, cứ khóc ngằn ngặt, nó bảo đó là “con trâu to quá” không dám đến gần. Cả nhà A Páo, chưa ai ra khỏi huyện Bảo Lâm một lần nào.
Xe đi từ sáng hôm trước đến 2h sáng hôm sau thì về đến Trung tâm nhân đạo của ông Hải ở phố Khâm Thiên, Hà Nội. Thủ đô đón chào gia đình ông bằng một bữa cơm no nê, họ ăn như chưa bao giờ được ăn. “Trông hai đứa trẻ ăn ngấu nghiến, nó xúc rồi và những miếng rất rất to. Nhìn thích lắm, tôi lại nhớ con cháu mình bón mãi vẫn nhè ra! Cu Lự lội nắng vác củi, ở rừng bao năm, tóc nó vàng đến mức… ai đến thăm cũng bảo sao cháu lại nhuộm tóc”, chị Thủy, giáo viên của Trung tâm kể. Ông Páo bước đi thập thễnh, bồng bềnh, bởi như ông nói: ông leo núi quen rồi, chân đi thì tay phải vịn vào cây nó mới dễ đi. Hà Nội không có cây để vịn. Đứng nhìn đường một lúc thì “cụ” kêu mỏi cổ, bởi xe nào cũng lạ, cứ nhìn theo từng cái xe, nhìn kỹ theo một cái xe hay một người “lạ hoắc” thì phải ngoái đầu từ trái sang phải hoặc từ phải sang trái một lần, thế là mỏi sái cổ. Ông thử đi ra phố. Bà Hoàng Thị Bình, các phóng viên hảo tâm của Đài Cao Bằng là Hoài Phương - Đàm Trình phải tá hỏa kinh hãi khi chợt thấy Sùng A Páo biến mất. Hai đứa trẻ đứng khóc ngao ngao. Tìm mãi không thấy. Ở Hà Nội, đi trên phố, hầu như chẳng ai biết nói tiếng Mông, A Páo cũng chẳng biết nói tiếng gì ngoài tiếng Mông, mà ông ta cũng không biết mình đang được nuôi dưỡng ở chỗ nào của Hà Nội, nên ông ta đã lạc thì cơ hội tìm được đường về chỗ bắt đầu “cất bước ra đi” là không có. Người ta bủa nhau ra để tìm. Mấy tiếng sau, bà Bình đến một khu bùng binh lớn chỗ Cầu Giấy thì thấy một người đen đúa, lơ ngơ, quần áo xộc xệch đang dò dẫm, giật cục cắt ngang hàng xe cộ nườm nượp mà… lượn. Họ chặn lại, máy quay của Đàm Trình bật lên, bà Bình hỏi bằng tiếng Mông, “đi đâu thế hả ông anh”, “Ta đi xem Hà Nội, nó lắm người quá. Đường về không dễ tìm như ở Mông Ân, Pác Miều quê ta”. “Từ bây giờ ông đừng có đi đâu nữa, ông lạc là chết ông và khổ các con ông và khổ rất nhiều người nữa đấy”, Hoài Phương dặn dò; “Ta thèm rượu. Không được leo núi thì ta chết mất”, ông Páo vẫn đều đều giọng.
Xe máy của trung tâm đến đón. Chưa ngồi xe bao giờ, nên ông nhảy phắt một cái như leo lên lưng trâu, cu cậu đón “người rừng” loạng choạng ngã nhào. Về lại trung tâm được vài hôm, cán bộ Cao Bằng về, tôi cũng đi công tác miền Trung bão lũ. Chợt lại nghe tin, Sùng A Páo biến mất. Dù quản lý “người trong mái đá” rất chặt, nhưng hôm ấy ông Páo xin “ưu tiên” một chút, bởi ông cảm thấy mình đã thuộc đường ở ngõ Văn Chương (nowi trung tâm tọa lạc) lắm rồi. Ông muốn làm gì đó cho đỡ buồn bực, “ta xin đi đổ rác cho các người” (ông nói bằng chút tiếng Kinh mới học thêm được). Ông đi đổ rác nửa ngày chưa về. Giám đốc Hải có vẻ điềm đạm: “Tôi đã tính kỹ, để trong ngực túi áo của ông cái cardvidit của tôi và của trung tâm, mặt sau có sơ đồ chỉ dẫn đường hẳn hoi. Nếu ông lạc thì kiểu gì cũng tìm hoặc nhờ người tìm cho được đường về”. Chờ mãi, nóng ruột quá. Lên phòng ông Páo kiểm tra, thì thấy hai đứa con vẫn vui vẻ cười đùa. Nó ăn uống ngấu nghiến, sùng sục như lúc nào cũng vẫn còn bị cơn đói trong hang đá đeo bám. Nhưng, than ôi, cái áo có nhét hai tờ cardvidit thể hiện sự cao kiến của giám đốc Hải vẫn ném tơi bời dưới sàn nhà. Ông Páo mặc áo may ô đi đổ rác đã 1 ngày chưa về.
Tin báo cho Cao Bằng và cho PV Lao Động, chúng tôi đúng là ăn nằm không yên, ngẫm cảnh nhỡ ra… làm phúc phải tội mà buốt lòng. Ông Hải cho người in ảnh chân dung ông Páo đi dán và phát ở các nơi để nhờ tìm kiếm người già lạc lối. Học viên ở trung tâm thì toàn người khuyết tật, cũng phải huy động đi tìm. Giáo viên thì bắt đi… xe ôm cho nó cơ động, hang cùng ngõ hẻm cứ lượn, ông nào lơ ngơ là sáp đến nhòm. Một ngày, rồi một đêm, rồi một ngày nữa lại đang trôi qua. Tất cả căng như dây đàn. Chợt có học viên là người câm đi xe bus tìm kiếm phát hiện một ông nhẩn nha lượn qua đầu xe bus ở địa phận quận Thanh Xuân, dọc đường Nguyễn Trãi. Cậu này nhảy xuống, kéo ông già Páo về. Ông Páo vốn có tinh thần cảnh giác cao với bọn đi xe máy, đi ô tô (giống bọn đã bắt vợ ông!), nên ông bỏ chạy rồi ú ớ kêu cứu. Học viên câm cứ ú ớ, ông Páo càng ú ớ phát “sóng ngắn” tiếng Mông. Tất cả náo loạn mà không ai hiểu nổi chuyện gì đang diễn ra.
Phải bám theo ông Páo, phải bút đàm nhờ liên lạc và cầu cứu, khó khăn lắm họ mới triệu tập được ông Páo về đoàn tụ với các con. Thật không ai ngờ A Páo đi đổ rác rồi thấy ngõ phố nào cũng giống nhau, rồi đi tìm con ngõ có hai đứa con mình đang ở… lại mất mấy ngày. Ông cứ đi, cứ tìm những cái ngõ nhỏ hun hút cong cong, xuyên từ quận Đống Đa, sang quận Cầu Giấy, sang cả quận Thanh Xuân. Đi vòng quanh Hà Nội, thấy ngõ nào cũng bé xíu, cong cong hun hút và nhô nhúc những người. Rồi ông lọ mọ lạc vào… một đồn công an, ông bảo mình là Páo, nhưng không biết mình đang tìm phố nào ngõ nào, không biết mình từ đâu đến và sẽ đi về đâu. Tiếng Kinh của ông chỉ đủ để nói lơ lớ, lập cập. Rồi ông ngủ nhờ ở đồn công an một đêm dài dằng dặc. “Công an nó cho ta 20 nghìn đồng, ta mua bánh mỳ ăn. Cơm và bánh mỳ ở Hà Nội đắt lắm. Nhưng ta vẫn mua được 2 cái bánh mỳ, còn hai cái phần thằng A Đại và A Lự đây”, A Páo tự hào thò hai chiếc bánh mỳ bột nở vẫn nằm bẹp dí trong túi quần ra, cười hể hả.
Anh chị em ở trung tâm nhân đạo được trận hú hồn rồi cười như nắc nẻ. Giận lắm mà cũng thương lắm, “người rừng” ạ.
Gặp lại phóng viên Lao Động đến trao tiền Tấm Lòng Vàng, nhớ những ngày cùng lang thang Bảo Lâm, Pác Miều, Mông Ân, “cảnh cũ người xưa” khiến ông Páo khóc òa, nức nở. Hai thằng bé xúng xính quần áo mới mở báo Lao Động xem ảnh của mình trong hang đá cười hì hì hi hi, bố Páo cứ khóc lặng, khuôn mặt già nhăn nhúm. “Ta nhớ con lắm, nhớ Mông Ân lắm. Rời hang đá ta chỉ có 2 con gà mới nuôi, một con vừa biết gáy. Xuống Hà Nội ta có tất cả. Thằng Lự, thằng Đại sẽ lấy vợ ở đây, ta sẽ sống mãi cho đến khi già và chết ở những chỗ như thế này thôi. Không về hang đá nữa đâu”. Ông còn đàn con 5 đứa, 3 trai, hai gái là con của bà vợ đã ăn lá ngón tự tử kia. Họ đang ở Bảo Lâm, Cao Bằng, nhưng vì nhiều lý do, trong đó có đói nghèo, có cả sự nhẫn tâm với bố và các em cùng cha khác mẹ, nên họ đã bỏ mặc gia đình nhỏ khốn khổ của ông trong hang đá. Tôi phân tích như vậy, ông Páo vẫn khóc, “nhớ lắm, dẫu sao thì chúng vẫn là con là cháu của ta, ta không giận mà chỉ nhớ chúng nó”.
Bây giờ “người tiền sử” nói tiếng Kinh đã sõi hơn. Và quan trọng hơn: suy nghĩ của người rừng, hóa ra rất đến điều, chí lý.
(Mời độc giả xem clip kèm theo).












