Một người mù chạy trốn xuyên Việt
Monday, October 31, 2011 5:36:01 PM
http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Mot-nguoi-mu-chay-tron/65136
Một người mù chạy trốn xuyên Việt…
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
Lê Văn Việt là người mù đã gần nửa thế kỷ nay, năm 2011, ở cái tuổi 54 của anh ta, bạn đồng lứa đồng hương Cao Bằng nhiều người đã lên ông lên bà từ lẩu lâu rồi. Việt từng có hai vợ, có vài người con riêng, không biết chừng bọn chúng cũng được gia đình nhà ngoại dựng vợ gả chồng từ nảo nào mà bố đẻ chưa hay tin. Gã đầu bạc “Việt mù” từng khét tiếng với các vụ gấu mèo gấu biển, trộm cắp, đánh nhau tơi bời ngoài bến xe thị xã Cao Bằng và nhiều vùng đất từng in gót chân giang hồ của anh ta khác nữa. Thế rồi, rồi nghiện oặt, buôn ma túy, thụ án 7 năm tại Trại giam Vĩnh Quang của Bộ Công an. Tuổi thơ bất hạnh đến khó tin, bà mẹ là gái bán hoa, bố nuôi dùng lá độc vuốt lên mặt làm Việt bị lồi hai mắt ra khỏi tròng, Việt cứ thế trượt ngã. Có khi anh ta vác cây gậy dò đường, “túc trí đa mưu”, chạy xuyên Việt để trốn án truy nã của lực lượng công an…
Những kỷ lục đau buồn của anh mù, nó làm người sáng mắt thấy tăm tối, buốt lòng.
Được bố nuôi rửa mặt bằng thứ nước lá gây mù mắt (?!)
Thị xã Cao Bằng thời mới tinh tươm lắm. Sông suối đục ngàu quánh bẩn do nạn khai khoáng vô tổ chức, nhưng một phần cũng nhờ thế mà xứ sở “gạo trắng nước trong” lắm nhà lầu xe hơi, phố sá sầm uất hơn... Trong một góc phố ven sông Bằng của phường Hợp Giang, Lê Văn Việt đóng áo sơ mi, “cắm thùng”, tóc chải mượt, trịnh trọng cầm gậy dò dẫm đi tìm… cây đàn ghi ta. Nhạc tấu lên thê thiết. Anh ta không có nhà cửa, đợ nhờ góc xiên xẹo ba bề gió thốc của cái hiên nhà công vụ gì đó xây từ thời bao cấp. Tài sản chỉ là một cái hòm gỗ, đặt trên một chiếc giường cá nhân, trong hòm có bộ quần áo, giấy khám sức khỏe, cái hồ sơ dán ảnh và vệt điểm chỉ đen kịt của Việt (Việt không biết chữ) để đệ lên UBND thị xã Cao Bằng xin được vào Hội người tàn tật, vào Trung tâm Bảo trợ xã hội sống nốt những ngày tàn.
Từng lê la làm sẩm sờ đi kiếm cơm thiên hạ bao năm, nên Việt hát ngọt lắm. Bài “đời tôi cô đơn” là nhạc vàng bị coi là sến “mít ướt”, nhưng mà hầu như ai cũng thuộc, cũng nỉ non hát khe khẽ rên rên được. Nhưng đến khi Việt hát thì nó đau đớn, máu thịt như thổ huyết ra mà khóc với thiên hạ vậy. Việt buông đàn, giày đen rẻ tiền vẫn dậm dậm như chiếc lá còn cứ run hoài sau cơn gió xót xa. Bây giờ bệnh tật hiểm nghèo, không còn ai thân thích chăm bẵm mình, mắt mù tịt, án tù đã mãn nhưng cái tiếng xấu vẫn râm ran khắp cái “thị xã bé trong một tầm tiếng gọi” này. Cả xóm chợ kéo đến góp chuyện, một bà nói: “Tay Việt này bây giờ hoàn lương rồi, 3 năm nay (kể từ khi ra tù) không trêu ghẹo ai, sao Nhà nước không cưu mang người khổ như anh ta? Chúng tôi vẫn hay góp ít thức ăn, vài đồng lẻ cho Việt kẻo phải tội lắm”. Việt nghe người ta nói về mình, chẳng ỏ ê gì, chỉ lơ ngơ nhìn vào trong góc tường tối tăm ẩm thấp. Anh ta tưởng tôi đang im lặng đứng góc đó. Rồi Việt kể với bức vách: “Tôi ra trại ngày 4/2/2008”, tôi ngắt lời: “Tôi vừa đi công tác ở trại Vĩnh Quang, cán bộ nhiều người nhớ anh chàng Việt “mù” hát hay, lại thường phải ở trong bệnh xá với sự chăm sóc đặt biệt. Lại thêm lúc mới vào anh gãy chân, đinh ốc còn chưa tháo, anh chạy trốn truy nã xuyên… Việt Nam”. Lê Văn Việt run lên vì xúc động, “tôi nhớ nhất là Phó Giám thị Bình”. Dường như những ngày ở trại lại là vùng ký ức đầy tự hào và nhân ái hiếm hoi mà con người quá nhục nhằn thù hận quá khứ này cảm nhận được!
“Tôi sinh ra ở Mỏ thiếc Tĩnh Túc, Cao Bằng. Bố tôi lên là Lê Văn Ích, SN 1906, người Tày, đã chết. Mẹ là Nông Thị Thúy V., cũng đã chết. Trước bà là kế toán, rồi cán bộ thương nghiệp, từng sống ở xã Đề Thám cũ, rồi ở khu mỏ thiếc Tĩnh Túc. Mẹ tôi, nói thẳng là gái bán hoa, bây giờ người ta nói toạc ra là ca-ve, là “phò”, là “bớp”. Thích ăn ngon mặt đẹp lại lười lao động... Hồi bố tôi đi công tác, mẹ tôi bán tôi cho gia đình một người Dao không có con trai ở Nguyên Bình, phía giáp Bắc Cạn. Bấy giờ người Dao vô sinh hoặc “hữu sinh vô dưỡng” nhiều, họ toàn đi mua trẻ con về làm con nuôi. Khi tôi khoảng 5-6 tuổi, thì bố đi công tác về, không thấy con, mới theo lời đồn đi tìm chuộc tôi lại. Bố nuôi chăm tôi như con đẻ, muốn tôi nhang khói tổ tiên, ông có tới 13 người con gái. Nhưng rồi, đột ngột, bố đẻ tôi xuất hiện đòi lại tôi về phía ông, như thế bố đẻ tôi cũng nhẫn tâm quá. Người ta kể, bố nuôi tôi quỳ xuống lạy bố đẻ tôi xin được giữ lại thằng cu Việt, mà cụ vẫn khăng khăng đòi tôi về. Không biết vì thù hận hay phong tục thế nào, mà trước khi trao giả tôi cho bố đẻ tôi, bố nuôi gọi tôi vào để bố rửa mặt cho con lần cuối với những lời rất dịu dàng, chua xót. Bố đẻ tôi kể, khi dẫn tôi vào, ông bố nuôi chỉ vuốt một cái, tôi không thấy đau đớn gì, tôi chia tay bố rồi lon ton xuống núi. Về nhà vài ngày sau thì tôi bị mù hẳn. Năm 1975, tôi đi tắm, vuốt nước sông lên mặt thì mắt lồi và rơi ra ngoài”.
“Tôi sống lên trong vòng tay của xã hội và quá khổ sở. Nhiều lúc nghĩ thấy hận cả bố đẻ tôi nữa, nếu hôm đi lên núi xin tôi về, mà bố đẻ tôi lùi một bước, thì có khi đời tôi lại không khổ thế này, bạn bè cùng lứa với tôi độ ấy, họ đã làm cán bộ có chức có quyền cả, n hư…”, giọng Việt ngân nga như hát, nhưng nước mắt thì chảy tràn, “Nói thật, nửa đêm qua thấy có người đứng ở bức tường này gọi, bảo anh Việt mai chuẩn bị tiếp khách nhé. Tôi ở đầu đường xó chợ, ai đi không khéo là dẫm vào thân tôi. Tôi lại mù tịt thế này, ai đến thăm nhỉ? Tôi đoán chắc là công an đến hỏi, vì tôi là đối tượng tù tha, ngày xưa tôi phá phách ghê lắm. Ai ngờ lại được gặp nhà báo”. Lê Văn Việt cười, răng cửa gẫy cả 4 cái, nụ cười hài hước và hổng hoác quá nên nó có cái vẻ gì cũng thật xởi lởi.
Từng làm thuê, từng tẩm quất dạo, sống ở xóm liều với cả chục cô cave và một bầy con nghiện, từng có người thuê mang bánh heroin từ Thái Nguyên vào tít Trùng Khánh giáp biên với tiền công cao vọi, từng bán lẻ ma túy cho vợ chồng nữ quái nổi tiếng tên là H. ở thị xã Cao Bằng (như Việt kể), thì có lẽ cái án ma túy 7 năm với Lê Văn Việt vẫn còn nhẹ. Về tận trường Nguyễn Đình Chiểu dưới Hà Nội học, lân la hát rong kiếm ăn dọc Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội, Lê Văn Việt đúng là dính vào không thiếu gì trò đau khổ và tội lỗi. Việt từng nhảy tàu, buôn bán, “làm ăn xã hội đen” ở khắp các chuyến tàu Hà Nội lên Yên Bái, lên Lạng Sơn, thậm chí theo tàu Bắc Nam vào tận Sài Gòn, chơi bời ở tít mãi khu Bình Triệu bao năm. “Trời phú cho tôi cái giọng hát và giọng nói đi vào lòng người, nên gái nó theo gạt ra không hết”, Việt rành rẽ. Và, anh ta mắc bệnh hiểm nghèo như hôm nay, dù đau lắm, cũng không ai cảm thấy quá bất ngờ. “Tôi từng ngủ ở vườn hoa, trong các túp lều mà cha mẹ để lại cho ở ven sông Bằng này, hồi ấy, xung quanh tôi là 14 bông hoa, “một nhà hoa, một rừng hoa” (gái hư hỏng). Tôi cho họ nằm trên giường, còn thằng Việt này nằm dưới đất. Tôi trẻ khỏe và mãnh liệt lắm, đi tẩm quất cho các bà ở Hà Nội còn bị người ta… gạ gẫm cơ mà. Nhưng thời hoàng kim qua rồi, không lẽ lại cứ “hoàng kim” mãi được sao? Đôi lúc buồn cũng muốn tìm người “đấu lưng đấu bụng” để có một gia đình yên ấm, nhưng có ai muốn gắn bó với một gã mù như tôi?”.
“Chiến tích kỳ lạ” của một người tàn tật trốn truy nã
“Bây giờ tôi không gái, không rượu chè, không ma túy. Chỉ cầm hồ sơ đi lên ủy ban xin người ta cho tôi vào trung tâm bảo trợ xã hội để dẹp yên một cuộc đời náo loạn, thế mà đã xong đâu”, như một thứ bệnh nghề nghiệp, Việt mù chữ, nhưng hát hò quanh năm, giọng nói và cách hành văn lúc nào cũng cố tỏ ra bay bướm… mướt mát. Anh ta cực lực trách móc cô nhân viên nào đó ở thị xã, giọng lạnh như tiền đầy dọa nạt, để đến nỗi Việt phải khua gậy chì chiết lý luận về chính sách nhân đạo của nhà nước và cán bộ Đảng viên là “công bộc của dân” không biết bao lần. (Khi viết những dòng này, tôi được tin, Việt đã được nhận vào Trung tâm bảo trợ xã hội Cao Bằng).
Đi hát dọc Hà Nội, qua Bắc Ninh, Lạng Sơn về quê Cao Bằng, Việt vơ váo làm quen với một người đàn bà dạy học tên là Lan, bà này trống trải sau… 4 lần sinh nở được 4 thằng con trai với 4 người đàn ông khác nhau. Mối tình quệt quạt này cũng để lại một đứa con gái tên là Lê Thị Hà, bây giờ nó đã có chồng có con. Lại có lần, “vắt vai tí tình” với cô Ngọt, hành nghề mãi dâm người gốc Nam Định, nàng đẻ cho Việt được cháu gái nữa tên là Tâm vào năm 1996. Ông bố mù cứ ra đi, người đàn bà từng chung đụng cũng không bao giờ có ý định nhớ đến Việt, những đứa con sinh ra cũng nghiễm nhiên nghĩ bố mình bí ẩn hoặc đã chết từ lâu. Biết rõ nỗi đời như vậy, nên Việt càng “cay đắng dòng đời trái ngang” lắm. Anh ta bảo, có thể vận công, tập trung suy nghĩ để nhìn thấy luồng ánh sáng linh thiêng le lói bé như đầu tăm ở hốc mắt bên trái của mình. Ơn dưỡng dục gì thù hận vẫn nặng mang. Việt có thể đi xe đạp vòng quanh thị xã, khi đầu óc thảnh thơi và có thể tập trung vào “quán tưởng” lắng nghe đường xá. “Thị xã dốc dác lắm, nhưng tôi đi xe đạp vòng quanh được, người ở đây đều biết mà”, những người xung quanh đều xác nhận. Bởi Việt “nổi danh” như một dị nhân đi xe đạp, vừa côn đồ lại vừa trăng hoa ở thị xã này từ mấy chục năm nay. Có lần anh ta đi xe đạp chán, hứng chí, léo lên cả xe máy chạy ù ù rồi ngã đập đầu xuống đường nhựa, suýt chết.
Nhưng, đỉnh điểm của Việt mù dị nhân, có lẽ phải là vụ xuyên Việt Nam trốn truy nã của anh ta năm 2001. Bấy giờ Việt bị ngã gãy chân, xương già da cóc, chân mãi không lành, lúc nào cái nẹp sắt và các con ốc cũng tác yêu tác quái trong… tim óc người bệnh. Cơn đau tấy mủ suốt ngày đêm. Có nữ quái cao tay đến dụ Việt chơi thử ma túy, dùng “hàng trắng” đến đâu giảm đau như có phép thuật đến đó. Việt nghiện mà không biết rằng người ta coi cái mù, cái què của anh là vỏ bọc trong kế hoạch phát triển mạng lưới bán lẻ ma túy. Khi ông bà trùm bị bắt, Việt cũng bị tóm quả tang đang tàng trữ heroin dạng gói lẻ. Đã lấy lời khai và tang vật đã rõ ràng. Đã có lệnh khởi tố hẳn hoi. Nhưng vì Việt là người tàn tật nên cơ quan chức năng ưu tiên không tạm giam, chỉ cấm đi khỏi nơi cư trú.
Ngẫm quá sợ đi tù, Việt quyết định bỏ trốn. Là người mù, bao năm chỉ biết nghe đài ra rả, Việt thích mục truyện cảnh giác, chuyện vụ án, thế là “bản năng trốn chạy” sáng lên, kế hoạch đào tẩu được vạch ra và thực hiện khá hoàn hảo. Nửa đêm anh ta đi xe ôm, luồn lọt, đủ phương tiện vù 300km về tận Hà Nội. Cơ quan chức năng chưa bao giờ có ảnh của Việt, nên việc truy nã rất khó khăn. Việt đi khắp miền Trung vào Đà Nẵng, Quảng Nam, ngược Tây Nguyên, xuống Bình Dương, sang Đồng Nai. Có khi từ tỉnh nọ sang tỉnh kia, linh tính báo có chuyện ngáng trở, Việt quyết định cắt rừng đi bộ. Thấy có “động”, có khi nửa đêm giật mình một cái, nghĩ là linh tính báo điềm chẳng lành, Việt lại lếch thếch cầm gậy loạng choạng khua khua lủi đi. Có đợt lại về Bắc Cạn, sang Lạng Sơn, có người khuyên, “gần mũi súng thì có khi lại an toàn”, Việt ngược thẳng Cao Bằng. Có khi nửa đêm lên xe khách giả làm người sáng mắt, nói oang oang, bàn luận đủ thứ (vì Việt nghĩ người ta sẽ chỉ để ý tìm “người mù bỏ trốn” thôi). Có khi lân la xin tiền, đi xe ôm, cắt lối mòn mà đi. Có khi làm thuê kiếm sống như người lành.
Thoắt ẩn thoắt hiện, đến lúc bị bắt, Việt thở phào, sao mình mù tịt mà trốn được lâu thế, đi được nhiều nơi thế, mình tài thật. “Chỉ tiếc mắt mù đi đâu chả được ngắm cảnh. Thì tội của tôi chắc cũng nhẹ, thỉnh thoảng anh em nghiện nhờ mình đi lấy thuốc hộ, rồi nó trả công năm bảy chục nghìn, mình lại lấy tiền đó đổi thành… heroin. Vì thế, khi bị bắt, tôi bảo các chú công an. Tôi là người khiếm thị, các anh không nên khóa hoặc cùm làm gì, tôi sẽ theo các vị về trụ sở đàng hoàng, các chú hỏi gì tôi sẽ thưa thật, không chạy trốn gì đâu. Vào trại, tôi cũng sẽ thành trại viên xuất sắc để nhiều người noi theo”. Việt tự tin kể. Và quả thật, khi tìm hiểu về quá trình cải tạo của Việt ở trại Vĩnh Quang, tôi cũng được cán bộ xác nhận như vậy. Anh ta chỉ phải cải tạo có 5 năm cho mức án 7 năm.
Cái vách tường xiêu vẹo tá túc nhờ mắc màn làm “nhà ở” của Việt hôm chúng tôi đến, cũng đang bị người ta đuổi đi kẻo quây ổ như vậy thì “xấu mỹ quan” quá. Lê Văn Việt vẫn hề hề. Chợt điện thoại di động nỉ non cất lên bản vọng cổ: “A lô. À, hôm nay anh chả mơ mộng gì. Em cứ đánh cho anh con 05, chắc sẽ ăn to!”. Ngắt máy, Việt khoe: dạo này kiếm ăn bằng nghề đoán, bói, mộng mị… xui người khác đánh đề. Trúng lắm. Mỗi lần “ăn”, họ cho vài chục nghìn ăn mỳ tôm qua ngày. Có khi 5 hôm anh đoán chúng cả 5. Nhưng hễ thằng Việt đánh là không bao giờ “ăn giải”, “đời oái oăm thế”, Việt thở dài ngước mắt lên.
Chắc là nghe tiếng loạch xoạch. “Chú chụp ảnh à, cứ chụp đi”, rồi anh xốc lại cái comple, tóc bóng mướt, nhe… lợi ra cười.
Đ.D.H












