Tây Tạng ghi chép dài dòng và thổn thức đến... sướt mướt.
Friday, November 4, 2011 5:28:18 PM
Tây Tạng, giọt nước mắt giữa lưng trời tuyết trắng…
Có người hỏi tôi, sau những ngày lang bạt trên nóc nhà thế giới Tây Tạng cậu nhớ cái gì nhất. Trả lời: nhớ giọt nước mắt của mình giữa đỉnh trời tuyết sơn vĩnh cửu. Sao lại lấy mình làm trung tâm của vũ trụ thế, nói về cái gì của trời đất hay của con người xứ Tạng đi. Không, Tây Tạng là nóc nhà thế giới, là cực thứ ba của trái đất, là miền đất chư thiên (theo tiếng Ả rập và tiếng Ba Tư, Tây Tạng chiết tự ra nghĩa là: “ở các độ cao”). Mây trắng tinh khôi, tuyết trắng nhức mắt, trời và hồ nước ngọt, nước mặn ở vòi vọi trên khoảng 5000m (so với mực nước biển) kia, nó xanh như không có thực trên đời. Và nữa, sự khắc nghiệt đến mức thở xong một hơi nặng nhọc ở đỉnh đèo cao nhất thế giới, ven con hồ nước ngọt cao nhất thế giới đó, tôi không dám tin mình còn đủ sức thở thêm một hơi tiếp theo nữa. Cái tuổi già mắt mờ chân chậm, cái lúc sương khói phủ mờ cõi dương gian của một kiếp con người, nếu ai đó từng gặp, có lẽ nó chính là cảm giác bước chân trong kiệt sức vì thiếu dưỡng khí, với hội chứng độ cao khủng khiếp này đây. Tôi nâng niu từng hơi thở, để gặn chắt sức mình mà nhỏm dậy bấm một kiểu ảnh, rồi thiếp đi trên con đường thiên lý nó đẹp đến choáng ngợp, đến sửng sốt. Dường như đó là môt cõi không phải của trần gian mà du tử là Từ Thức mới nhập thiên thai.
Lúc chia tay ở phi trường Lhasa cao nhất thế giới ấy, tôi đã nắm tay Xia (tên tiếng Anh thường gọi là Sunday), nàng phiên dịch người Tạng lanh lẹ như một con báo gấm đó rồi dấm dúi gạt nước mắt. Không nói được câu nào. Bạn hỏi: bao giờ anh trở lại Lhasa, Sigaetse, rồi hồ Yamdok, Namstros, sông Yalung Zangbo? Tôi thở hắt cố giấu xúc động bằng cách giả lả cười, ý rằng ta đây đang hí tếu: có lẽ 20 năm nữa, mà… có thể là… kiếp sau, Xia à. Nàng ngơ ngác: anh không thích Tây Tạng ư? Tôi im lặng. “Bởi vì Tây Tạng giống như là một cõi khác, một kiếp khác. Người trần mắt thịt phải tu luyện đủ sức khỏe chống lại hội chứng độ cao khắc nghiệt kia thì mới cảm nhận hết được. Nóc nhà thế giới kia, đỉnh cao nhất Everest những 8.850m cơ mà. Tây Tạng vừa gặp đã gây mùi nhớ, vừa nhớ đã phải hẹn… kiếp sau”.
Trò chuyện với những đỉnh tuyết sơn vĩnh cửu
Tôi không nghĩ mình quá dễ sửng sốt khi những cái khung cảnh thiên nhiên hay sắc tộc tôn giáo mới lạ va vào xúc cảm nữa. Mà sự thực khách quan là thiên nhiên trên nóc nhà thế giới đẹp rợn ngợp, nó như Xuân Diệu viết, “ta là một là riêng là thứ nhất/ không có chi bè bạn nổi cùng ta” (bài thơ có tên “Hy Mã Lạp Sơn”, tức Everest). Từ Hà Nội bay Sài Gòn, vù sang Thẩm Quyến, cất cánh ngược Thành Đô, để leo lên con chim sắt khác nữa, cứ thế hắt “leo” dần lên miền băng tuyết triệu triệu năm u tịch… nhập Tạng. Càng đi có cảm giác: con người ta, với sự hỗ trợ của máy móc tối tân, họ quá lộng lẫy và kiêu hùng, nhưng cũng vì thế mà đôi khi họ cô độc, mỏng manh vô hạn độ. Lênh đênh trên biển cả tháng, nhìn nước mặn dựng lên thành chóp núi bạc đầu, cơn say sóng khiến người ta sợ đại dương vô tận. Còn bây giờ máy bay cứ ù lỳ trôi như câm lặng, như vô định thoát khỏi quỹ đạo trái đất, lững lờ trên băng đăng “mênh mông bể Sở” xứ người. Những dòng sông băng giá trắng toát, những đỉnh núi tuyết tự soi bóng mình trong nắng trong vắt để rồi cả núi cả tuyết cứ loang lổ trắng đen… đã khiến tôi (dù cố thoát ra vẫn) không khỏi nghĩ dại đến cảnh lạc lối trong điệp điệp các đỉnh trời lạnh giá đó. Có lẽ biển tuyết trắng thanh tao và kỳ bí kia còn đáng sợ hơn biển nước mặn với màu xanh và độ rộng đe dọa con người nọ. Có lẽ, rất rất ít loài động vật sống được trong hàng triệu cây số vuông núi tuyết quây kín nóc nhà thế giới kia? Cỏ cây thì tuyệt nhiên không thấy bóng rồi. Sơn hệ lớn nhất thế giới, cao nhất quả đất ấy, cứ băng giá và cô liêu bất tận mãi thế ư? Tây Tạng có độ cao trung bình khoảng 4.500m so với mực nước biển, con đèo cao nhất thế giới mà tôi sắp hạ cánh để leo lên nó cao hơn 5000m so với mực nước biển. Bấm đốt tay nhẩm tính, hầu hết các chuyến bay mà tôi từng đi, tầm cao trung bình khi đạt tốc độ ổn định của “con chim sắt” cực kỳ hiện đại cũng chỉ 10km tính từ mặt biển. Không biết tính vậy có đúng hay không, nhưng rõ ràng, máy bay của chúng tôi đang soi mình xuống những kỳ quan triệu triệu năm miên viễn trong tuyết trắng tinh khôi; và chúng là sơn hệ Himalaya cao nhất của địa cầu, rồi đỉnh Everets 8.850m cao nhất thế giới, đỉnh Namzha Parwa cũng 7.756m; và từ đây, máy bay chỉ hạ cánh một nửa độ cao hiện thời, thì đã chạm vào… con đèo Kapala (5.190m) soi mình xuống hồ nước xanh trên đường từ thủ đô Lhasa đến Sigatse của Tây Tạng. Từ đỉnh đèo đó, hạ cánh những 5.000m nữa thì mới đạt độ cao… của sân bay Tân Sơn Nhất, Việt Nam.
Nhìn những đỉnh núi 7.756m rồi 8.850m vòi vọi trong sơn hệ Himalaya nằm trùm lên biên giới Tây Tạng và Nepal, anh bạn tôi bảo, mình cứ ngắm say sưa, cứ gửi vào các dòng sông băng và các đỉnh tuyết sơn cô độc kia một ánh nhìn, một ký ức, một sự tưởng tưởng mộng mơ. Bởi biết chắc, kiếp này không bao giờ ta đến được nơi đó. Và có lẽ, nghìn kiếp sau nữa, trái đất chưa chắc đã sinh ra được một cá thể người nào đặt chân được đến hoang vu nọ. Bất giác tôi rùng mình vì sự mênh mông vài giờ bay chưa hết nhấp nhô điệp trùng núi tuyết. Nhìn sang bên, mấy cô tiếp viên xinh đẹp người Tạng cứ dịu dàng yêu cầu quý khách về lại vị trí ngồi ghi trên thẻ hành khách, rồi chính cô lại phải mỉm cười cảm thông, mặc kệ những du khách khoa chân múa tay nhòm rồi chĩa đủ thứ ống kính máy ảnh, máy quay ra cửa kính trong lần đầu theo đường trời tuyệt kỹ tới thủ phủ Lhasa của xứ Tạng. Bên cạnh tôi, hai người đàn bà có gương mặt đặc sệt Tây Tạng cứ nhắm mắt, tay lần tràng hạt, tiếng cầu kinh lầm rầm như bay lượn êm êm. Chắc không phải các bà sợ khi nghe ai đó trên mạng liên tục cảnh báo hàm lượng rủi ro khá nhiều trong chuyến bay lên nóc nhà thế giới. Cơ hồ, đơn giản, hai người đàn bà Tạng này, cũng như hầu hết người dân Tạng khác, họ vẫn cứ cầu kinh, đọc mật chú thiêng, lần tràng hạt, quay bánh xe luân pháp như cơm ăn nước uống hằng ngày như vậy. Đi trên tuyết, giữa đại dương, ngồi máy bay hay cưỡi bò Yak, họ vẫn giản dị nghĩ về kiếp người, sự sống và cái chết… bình thường vậy thôi.
Gặn chắt sinh lực để hy vọng có thể thở thêm được một hơi nữa…
Các nhà khoa học đã chứng minh được, cái genen của người Tây Tạng có sức tiến hóa và thích hợp với hội chứng độ cao hơn nhiều lần so với người nơi khác đến, nhất là những người sống ở nơi thủy triều vẫn lan vào thành phố hằng ngày (tức là độ cao ngôi nhà so với mực nước biển gần như bằng 0) như hầu hết thành viên trong nhóm chúng tôi. Cụ thể, người Tây Tạng có nhiều biến thể gene thích nghi với cuộc sống ở trên cao, họ còn có gene xử lý ô xy một cách khá là “chuyên trách”. Vì thế, tôi hầu như không gặp cảnh người Tạng đội mũ để tránh mưa tránh nắng. Thường là cứ “đầu đội trời chân đạp đất”. Chân họ đôi khi cũng có đi giày dép, nhưng chắc chắn đầu thì… tóc vờn trong gió quanh năm. Da cháy xám đi, thiếu nữ nhiều khi má quá hồng, trẻ con má bong tróc ngoang nguếch vì gió, nắng to và cái lạnh thấu xương. Vẻ đẹp ấy nó hoang dã, đỏ đắn, yêu yêu. Tóc họ có cảm giác như đã khô khét tự bao giờ. Tôi không ngạc nhiên khi nghe nói người Tạng có tục đẻ con ra nhúng vào nước lạnh xem cháu bé có đủ sức đề kháng chống chọi với cam khó để tiếp tục sống trên nóc nhà thế giới không. Cũng không lạ khi họ tích trữ, ngào và ném từng cục phân trâu yak lên bờ tường hoặc xếp thành “núi” để làm chất đốt sưởi ấm khi mặt sông cũng đóng băng như các đỉnh tuyết sơn. Họ ở gần thiên nhiên nhất trong chừng mực mà một người văn minh có thể hình dung. Và, người ta cứ mỉm cười cảm thông khi thấy du khách ai cũng bẻ những ống thuốc nước màu tím sẫm đựng trong hệ thống lọ hình con thoi bằng thủy tinh trắng (dịch ra tiếng Việt là: trưng cất nước hoa hồng – dùng để khắc phục chứng bệnh choáng ngất do độ cao). Họ thương hại khi thấy du khách dùng bình ô xy, uống sữa trâu yak pha bơ với trà nóng để tiếp thêm sinh lực. Hiếm có ai không bị hội chứng độ cao hành hạ, nhất là những kẻ lười biếng muốn lên nóc nhà thế giới, muốn chớp nhoáng lọt vào thủ phủ Lhasa bằng phi cơ! (nếu đi đường bộ hay đường sắt, trong vài chục tiếng, thậm chí nhiều ngày, leo dốc nghỉ ngơi tăng dần độ cao, cơ thể người ta sẽ dần thích nghi và bớt bị sốc hơn là đi máy bay).
Tôi đọc khá nhiều tác phẩm văn học, báo chí, phim ảnh, ký sự bằng hình về Tây Tạng, đúng là người ta có nhắc đến việc không khí loãng gây đau đầu buồn nôn, chảy máu cam, ngất xỉu dọc đường. Cả trong các sách về du lịch, các lời khuyến cáo trong đơn vị tổ chức, cũng có nhắc đến điều này. Song, tôi xin khẳng định: nếu ai cũng nói đúng tầm của nỗi kinh sợ hội chứng độ cao, thì sẽ có rất nhiều người phải nghĩ lại với ý đồ lên nóc nhà thế giới của mình. Tôi không có ý định quan trọng hóa hay dọa dẫm hóa… vấn đề, cũng không có ý bảo người ta đừng có léo lên “nóc nhà” rồi kêu là cao quá, dễ sa sẩy quá. Nhưng đúng là, nhóm chúng tôi, không ai là không kiệt sức, phải tập nói bằng tiếng Anh với hướng dẫn viên: tôi không ăn, không ngủ, không…bài tiết, không tình dục, không dám tin mình còn có thể thở tiếp sau khi trình bày câu này với anh (chị). Trên ô tô bao giờ cũng có đủ mỗi người một bình thở ô xy. Trong khách sạn, cũng vậy. Đặc biệt, ở bảng hướng dẫn nội quy khách sạn, người ta cũng không quên dán danh mục các loại thuốc hoa hồng, thuốc đặc trị chứng bệnh độ cao. Họ cũng niêm yết khắp nơi số điện thoại của phòng y tế để ngay lập tức họ có mặt đo huyết áp, cấp cứu từng bệnh nhân một. Nói không ngoa, một nửa số người trong nhóm chúng tôi phải nhờ đến sự can thiệp của bác sỹ, dẫu họ phần đa trai tráng cơ bắp ác liệt, từng chinh đông chinh tây đang mặt dân “giang hồ tứ chiếng” cả. Người yếu thì máy bay ở phi trường Lhasa vừa mở cửa đã nằm bất tỉnh nhân sự. Một cặp vợ chồng còn hãi hung đứng giữa khoang máy bay, chưa kịp nhòm thấy núi tuyết hay bát ngát thủ phủ Lhasa một lần, đã đòi máy bay “liệu có thể quay đầu” về Việt Nam được không? Bởi họ không chịu nổi. Họ ngay lập tức đòi tôi phiên dịch đặt vé máy bay rồi “hạ thấp” độ cao, rút lui xuống Tứ Xuyên du ngoạn, thay vì “giời hành đi vào nơi không thể nào thở được”.
Tôi cảm giác rõ như nguồn sống cạn dần cạn dần từng khoảnh khắc. Chúng tôi cứ bò ra sàn khách sạn bốn sao, thỉnh thoảng mộng mị hỏi nhau, bạn đỡ hơn chưa, tai ù đặc, cũng không cần nghe “đồng bệnh tương lân” giả lời nữa, bởi biết chắc là cũng như lần hỏi trước, đồng đội đều đang như… mình cả. Càng uống thuốc chống hội chứng độ cao, cơn choáng dường như càng nặng. Lúc xuống khỏi cái chuồng gà sân bay Lhasa (bà con bên này thường ví như vậy, bởi thung lũng bốn bề quây kín núi cao với phần ngọn trắng toát băng tuyết, nhô lên một cái phi trường có kiến trúc giống hệt cái bu úp gà, các tòa nhà kinh đô này cũng xám xịt túm tụm một góc với 200.000 dân), người ta còn đi lại đĩnh đạc, ăn uống ngon lành, khoa chân múa tay đầy hứng khởi, nhưng chỉ 2 tiếng sau, tất cả đều gục ngã lả tả. Các tua du lịch bắt buộc phải mua ở Tây Tạng (kể cả bạn là khách tự bay sang, muốn tự khám phá), dù tiết kiệm thời gian hết sức, họ vẫn phải có quỹ thời gian một hai ngày cho du khách nghỉ ngơi hy vọng sẽ quen tí nào đó với bệnh không khí loãng (nhưng khó khăn thay!). Khoa học giải thích: không khí ở trên cao loãng, lượng ô xy vào máu quá ít so với bình thường, dẫn đến rối loạn cân bằng nội mô tế bào, thiếu máu cục bộ của tế bào, gây nhiễm a-xít, giảm tổng hợp protein và ngưng trệ các hoạt động sống của cơ thể. Đấy là chưa kể, nguyên nhân của việc người ta vinh danh Tây Tạng là cực thứ 3 của trái đất (cùng với Nam Cực và Bắc Cực), bởi lý do là nơi này quá khắc nghiệt: nhiệt độ trong ngày có thể dao động đến hơn 30 độ từ trưa nắng đến đêm khuya đầy tuyết. Có khi, 20h30 phút rồi, mà nắng vẫn chan hòa ngoài đường đi. Đối với người Việt Nam, đây quả là một điều không thể tưởng tượng. Người ta gọi Tây Tạng là thế giới của ánh sáng - nơi gần… mặt trời nhất thế giới, là vì thế. Số giờ nắng trong một năm ở nơi này, vào diện cao nhất nhì quả đất.
Trở lại chuyện kinh sợ hội chứng độ cao. Hậu quả phổ biến với đoàn chúng tôi là: bữa đến, đại yến và tiểu yến đều bỏ ế toàn phần, ai nấy nhìn nhau không nói, không cười, không kêu rên. Môi tôi nứt nẻ như cái ruộng cấy gặp đại hạn, khóc hay cười đều đau nhói. Cảm giác những bộ phận trên cơ thể mình không phải của mình, mà nó cũng cứ trôi tự do không muốn theo ý mình nữa. Đầu óc vừa đau nhức lại vừa trôi tự do, có khi mộng mị cả khi chưa nhắm mắt. Mặt ai nấy bạc đi, không thiết một cái gì trên đời. Bỏ mấy chục triệu đồng (tối thiểu) leo lên vùng đất mái nhà thế giới, miền đất chư thiên chư thánh ước mơ cả đời, nhưng đúng là đến tu viện cổ nhất Tây Tạng ở gần thành phố lớn thứ hai đất nước này Shigatse, mái điện rát vàng ròng nghìn năm tuổi, tôi vẫn phải nằm bẹp ngoài xe. Ngủ trong khi trời nắng chang chang, nhiệt độ ngoài trời vẫn 4 độ C, tuyết vẫn trắng các dãy núi. Tôi thì nai nịt như phi hành gia mà vẫn giá buốt, chỉ dám hếch mắt nhìn bác tài khỏe vâm váp mặc áo may ô đang cười ái ngại. Chĩa ống kính vào tu viện thở dài bấm vài kiểu ảnh cho khỏi tủi thân. Đến đỉnh đèo tuyết trắng và con hồ xanh kỳ ảo kỳ vĩ đó; sững sờ khi biết đèo cao 5.190m so với mức nước biển, trong khi đỉnh Phan Xi Păng, nóc nhà toàn cõi Đông Dương ta chỉ có hơn 3.143m. Tôi dò dẫm đi lên cột mốc đỉnh đèo cao nhất thế giới. Gió bay người. Không ai được phép đi nhanh, và phải đeo bình dưỡng khí. Bởi vận động mạnh tay mạnh chân một cái là hết sức lực, quỵ ngã giữa con đường 100m từ ven đường nhựa lên điểm “bất đáo đỉnh đèo phi hảo hán”. Xin thề có giời đất và con người Tây Tạng, tôi - gã trai vẫn tự hào leo gần hết các đỉnh núi cao nhất Đông Dương, từng đi nhiều nước trên thế giới - cũng không đủ sức leo qua 100m lên cột đá đánh dấu đỉnh đèo “tử thần” kia. Chân nặng trĩu, đầu đau như búa bổ, mắt díp lại, suy nghĩ lơ tơ mơ. Dẫu biết chắc đời mình thật khó có lần thứ hai quay lại vùng đất thiêng này, nhưng tôi đã thất bại khi cảm giác sinh khí trong mình cạn kiệt. Có lẽ, khi 99 tuổi, tôi cũng chỉ bước đi nặng nề và run rẩy đến thế thôi. Và, tôi còn muốn mở ngoặc điều này nữa: sách về Tây Tạng, nhiều học giả thời trước, đặc biệt là những người từng tham gia tu luyện ở miền đất thánh thần đều kể: ở trạng thái không khí loãng, hội chứng độ cao dễ làm người ta sống trong mộng mị. “Nạn nhân” hay mơ về quá khứ xa xôi, đặc biệt là những người thân đã chết. Và mỗi khi các giấc mơ kia rõ ràng cụ thể thì khả năng thời tiết thay đổi, mưa giông sẽ xuất hiện. Những người du thám Tây Tạng thời hoang sơ đi ngựa và lội bộ, họ phải dựa trên những giấc mơ kiểu đó của mình để thu xếp công việc và tránh mọi tai ương do sự khắc nghiệt từ “cực thứ ba của thế giới” gây ra. Những ngày ở Tây Tạng, tôi (người viết bài này) cũng đã trải nghiệm cảm giác lạ lùng này, mới thấy “các cụ” viết thật chí lý. Có cái gì hoang đường và hoang mang ở đây chăng? Không, chuyện đó rất thật, và khoa học đã lý giải rồi, nhưng ta sẽ bàn về nó ở một dịp khác vậy.
Lúc cả đoàn nằm thiêm thiếp, nốc thuốc vượt nhiều lần chỉ dẫn của nhà sản xuất mà bệnh tình vẫn… nặng như đá đeo, tôi đã đặt dấu hỏi: dường như người tổ chức chuyến đi đã không khuyến cáo đầy đủ sự kinh hãi này cho các thành viên. Họ chỉ nói chung chung, thiếu ô xy sẽ khó thở, tức ngực, với những người già quá 68 tuổi hoặc có tiền sử bệnh tim bệnh huyết áp là nguy hiểm. Hay ngành du lịch sợ nói ra sự thật thì không ai dám lên Tây Tạng?
Xúc cảm thiên đường ở những viên ngọc hồ xanh cao nhất thế giới
Đúng. Trong cơn tuyệt vọng nhìn bữa cơm và những cung đường dằng dặc qua hoang mạc xám lạnh, núi tuyết u u và những đỉnh núi thiên tang xẻ xác người ném cho kền kền mang đi - tôi đã hơn một lần buồn bã oán than như vậy. Nhưng, bù lại, tôi đã phải vận công bật dậy như con tôm mắc cạn gặp dòng suối trong, khi đến trước hồ nước ngọt cao nhất của quả đất. Đây là một trong bốn cái hồ thiêng của toàn cõi Tây Tạng: hồ Yamdrok-sto. Cách thủ phủ Lhasa hơn 100km, từ trên đỉnh đèo kỳ vĩ Kapala cao 5.190m, ai nấy sững sờ thấy mình bị bủa vây bởi hàng vạn cờ phướng sặc sỡ sắc màu đang rung rinh trong gió. Người Tạng viết điều ước và những nguyện cầu thành tâm nhất của mình lên các lá cờ bé xíu như cờ đuôi nheo ở ta, rồi gắn nó lên các sợi dây dài bắc ngang đường quốc lộ, chăng dọc các dãy núi, quấn quanh các đỉnh núi, hàng vạn lá cờ như vậy đã nhờ gió mang lời mật chú đi xa. Gió kiêu hãnh làm việc ấy. Cờ nối người và trời. Trên đèo Kapala, rợn ngợp trong vẻ đẹp các dãy núi tuyết trắng nhức mắt, mịn màng như bột pha lê ai vừa êm đềm phủ xuống núi trắng cho da trời thêm xanh, cho nước hồ uốn lượn thêm xanh vô cùng tận, xanh hư ảo, xanh như không có thật trên đời. Có người muốn ném hòn đá xuống mặt hồ dài như con rắn xanh mấy chục cây số luồn giữa các dãy núi tuyết trắng kia xem, xem cái màu xanh gọi là hồ Yamdrok-sto kia có thật phải là nước không. Hay nó là một miếng ngọc bích khổng lồ?
Cao nguyên chỗ này, nhiều đoạn cứ lan man tuyết rạn vỡ phủ lên các đỉnh núi vàng ươm, xám ngoét khô cằn, không một loài thảo mộc nào sinh sống nổi. Hoang mạc ấy, có một con đường xuyên qua, nó vắt chùng chình từ lòng chảo lên đỉnh trời, nó vắt qua mép hồ, hồ xanh rộng 600km2 (!) nhưng cứ trải dài bất tận, như miếng ngọc bích ai vừa nung chảy rồi đổ tràn khắp sơn hệ Kapala của dãy Himmalaya (xương sống và nóc nhà thế giới). Ở nhiều góc hồ, có thể nhìn thấy đỉnh núi hùng vĩ Nojin Kangtsang cao 7.191m soi bóng nên thơ. Bùa chú, các gò manidoi, cờ phướn, xương và đầu lâu động vật “trưng bày” khắp nơi như một nghi lễ bí ẩn. Chó ngao Tây Tạng lừng lững đứng chờ, bò Yak cũng rủ bộ lông dài thượt cả mét đứng chờ. Chờ để du khách chụp ảnh chung rồi trả tiền cho ông bà chủ người Tạng. Một kỳ quan nữa ở Tây Tạng, mà ai đến đó cũng phải quỳ lạy sự bí ẩn của Tạo Hóa, đó là hồ nước mặn cao nhất thế giới Nam-sto.. Ai đến đây cũng có thể thấy nước hồ mặn như nước biển, bạn có thể nếm thử xem nước ở Biển Chết chắc gì đã mặn hơn thế; và sách nào cũng nói nó là cái biển trên nóc nhà thế giới đích thực, nhưng thật khó để người ta không khỏi ngạc nhiên, tại sao nơi tột cùng hoang vu và cao vọi này lại có “cái biển” với diện tích mặt nước lên tới 1960km2!? Hồ nằm trên cao nguyên, nó từng được gọi là Thanh Hải, bởi Thanh Hải tức là biển xanh, hồ rộng như biển và nước xanh như nước biển, ngày xưa người ta cứ tưởng đây là biển. Tưởng thế giới không phải chỉ có bốn biển như bây giờ! Trong hồ còn có 5 hòn đảo nhỏ, tượng trưng cho Ngũ Phương Phật. Nếu như ở Yamdrok-sto, quanh hồ chỉ cỗi cằn xám ngoét hoang mạc, thì ở Nam-sto, giữa mênh mông “biển xanh” đó, cỏ mọc xanh, trâu yak, cừu và ngựa chạy thung thăng. Tuyết trắng tan ra thành các dòng suối, suối nước ngọt đổ vào hồ, hồ lại có nước mặn. Mùa đông, mặt hồ đóng băng toàn bộ. Đấy là chưa kể các hồ thiêng mỗi bước chân mỗi huyền thoại khác, ở đó thiên nhiên mở ra những kho tàng kỳ bí không thể lý giải tiếp nữa, như: hồ Lhamo La-tso, rồi hồ Manasarovar. Hồ mặt trăng, hồ mặt trời, hồ của Quỷ, hồ của Thánh thần (Thiên Hồ).
Nhiều người tỏ ra đặc biệt sững sờ với màu xanh kỳ lạ của hồ Yamdrok-sto. Nhưng theo lý giải của tác giả người Đức (người mà tôi coi là đã viết kỹ và có tình có lý bậc nhất về Tây Tạng, bởi ông này từng sống nhiều năm rồi theo học tu của các thiền sư Tạng), ông Anagarika Govinda, trong cuốn “Con đường mây trắng”, thì: hồ nước xanh chẳng qua là “có nhiều chất magnesium” khiến cho “nước hồ cũng chẳng uống được” dẫu bạn bị khát đi qua đó (bản dịch của Nguyễn Tường Bách). Ông này viết: “(chất magnesium) là lý do sinh ra độ trong và màu sắc lạ lùng của hồ. Mặc dù bản thân magnesium vô sắc nhưng nó làm cho nước không thể chứa sinh vật, dù thực vật hay động vật rất nhỏ cũng không. Thế nên nước trong vắt, những ngày lặng gió không sóng, đứng sát bờ, ta không phân biệt được đâu là nước, đâu là bờ. Tôi vẫn nhớ rõ cái hoảng sợ trong ngày mình đến gần bờ và chân đạp vào nước lạnh ngắt lúc nào không hay. Những viên sỏi nọ với màu sắc đáng yêu, không khác gì những viên nằm trên bờ, vậy mà chúng lại nằm trong nước. Nước trong không màu hệt như không khí. Chỉ có nơi nào khá sâu thì nó mới mang một màu xanh lục, sâu hơn thì chỉ một màu xanh ngắt, chính màu này biến hồ thành một sự kỳ diệu”.
Đến Potala, “ngũ thể nhập địa”, tôi mới thấy mình “vô đạo”
Cùng với thiên nhiên đáng kiêu hãnh, Tây Tạng còn ám ảnh tôi bởi thế giới tâm linh và bề dày văn hóa chứa chất nhiều lớp lang bí ẩn khả kính khác. Với 16.000 tu viện lớn nhỏ, Tây Tạng không hổ danh khi được loài người gọi là miền đất chư thiên. Không phải là việc phục dựng nghi lễ sinh hoạt để thu hút và kinh doanh du lịch, mà ngay ở thiên niên kỷ thứ 2 này, những câu chuyện như huyền thoại vẫn hồn nhiên diễn ra trong sự ngạc nhiên tột độ của nhiều người. Tu viện dày đặc. Nếu bạn thực sự là khách du lịch, thì đúng là ngoài ngắm 4 cái hồ và vài đỉnh đèo ra, đất Tây Tạng đón khách với chủ yếu là tu viện và đền đài. Có ngôi đền xây từ thời công chúa Văn Thành (thời nhà Đường, năm 618 đến năm 907) nhập Tạng làm vợ vua Tùng Tán Cương Bố. Chùa Đại chiêu linh thiêng và nổi tiếng nhất Tây Tạng, đây là nơi mà, tương truyền, khi xây, Công chúa Văn Thành phải ném chiếc nhẫn tuyệt bích của mình vào rồi sai dê thần đổ đất khắc chế yêu nữ quấy nhiễu những người thợ cũng như bao đời lương dân. Theo tiếng Tạng, con dê là “ra”, chiếc nhẫn là “sa”. Từ đó, nơi này mang tên Ra Sa, dần dần âm bị biến thành Lhasa, giờ là tên của thủ phủ Tây Tạng và đôi khi cả miền đất Tạng rộng lớn hiện nay. Hoặc như cung điện Potala (được xây dựng năm 1645), di sản văn hóa thế giới ở nơi cao nhất quả đất, một kỳ quan của nhân loại vừa là nơi thờ tự vừa là nơi làm việc hành chính của các vị Phật sống nhiều đời Đạt Lai Lạt Ma. Cung điện rộng tới hơn 1000 phòng, cao 137 tầng, hơn 10.000 bàn thờ các vị Phật, 20.000 bức tượng, nhiều vị rát vàng khổng lồ và hằng ngày hàng tháng phật tử vẫn cúng vàng vào để các nhà sư tiếp tục thếp bồi vào tượng. Tượng mình vàng linh thiêng nơi này vẫn hằng lớn lên theo đúng nghĩa đen. Như ở chùa Đại Chiêu, suốt 1.300 năm qua, tượng Phật thỉnh thoảng lại được rát thêm vàng.
Lòng mộ đạo của người Tạng, sau khi đọc trong sách, trên mạng, trong sử, và xem phim discovery (khám phá), tôi từng nghĩ nó có cái gì đó là huyền thoại, là si sản trong… phim tài liệu. Tức là có thể người ta phục dựng thêm để nói về một “sản phẩm văn hóa tôn giáo” quá ư độc đáo chăng? Song, đến khi nhập Tạng, tôi chợt thấy cần phải đứng trước hồ Thánh thần và các tu viện cổ lừng danh để tạ lỗi… suy nghĩ báng bổ. Càng đi tôi càng thấy mình trở thành kẻ tục trần thật sự, có cái gì hơi vô thần trước lòng tin tôn giáo tột độ đắm đuối của bà con nơi này. Tôi hiểu, niềm tin đó làm cho người Tạng gốc họ an nhiên tự tại hơn, có trách nhiệm với mình và với đời hơn. Tử tế hơn. Họ nằm dài trên các nền đá, gạch trước chùa, đền, tu viện. Ai chụp ảnh họ mặc kệ hoặc có khi cau có, xua tay giống như “sao mi lại lấy việc ta lễ chư thiên là thứ để… vẽ vời bày đặt” (?). Nhiều người đã đi hàng trăm cây số để đến “ngũ thể nhập địa” trước cửa đền Đại chiêu, dưới chân cung điện Potala hay hàng trăm đền đài ở ngay thành phố Shigatse, ngay rìa thủ đô Lhasa. Họ không nhìn nhau, cũng chẳng nhìn du khách, chỉ chăm chắm hướng lên bầu trời và về phía bạt ngàn thành quách của Niềm tin vào đấng tối cao. Đi ba bước (tam bộ) là ngũ thể gồm chân, tay, ngực, trán… của họ lại một lần chạm xuống đất (nhập địa). Các nhà nghiên cứu nói, đây là cách vái lạy khổ sở, đau đớn nhất thế giới. Trán họ vồng lên, u bướu và xám xịt với các vệt sẹo, vệt chai sần đen thẫm, quần áo họ rách bươm tơ tướp. Bụng họ ấp một tấm da cừu da ngựa còn cả lông lá đã sờn rách vì mài xuống núi xuống gạch đá dọc đường đi không biết bao nhiêu lần. Hai tay họ có khi được “đơn giản hóa thủ tục” một chút bằng cách đeo hai cái guốc mộc có quai da để khi “nhập” đánh cộp một cái “ngũ thể” xuống đất thì hai bàn tay là nơi chịu lực chính nó sẽ không chảy máu. Họ cứ “hành xác” như thế hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn cây số, có khi đứng một chỗ ngoài cửa đền, trong một đêm họ vái như vậy hàng nghìn hoặc cả vạn lượt. Có khi, suốt cả một đời người, đi từ quê hương mình đến miền đất Thánh, người ta phải vượt qua bão tuyết, cát vùi, thiên nhiên khắc nghiệt và kẻ cướp giết chóc. Nhưng họ quyết tâm đi, tự nguyện đi. Họ coi đó là việc cần làm, đáng làm nhất trong cuộc đời mình. Có người vĩnh viễn không bao giờ đến được miền đất tâm linh, bởi họ bị kẻ xấu giết dọc đường. Tôi vẫn thường kính trọng ngồi xuống quan sát những ông già bà cả, đấm lưng, vặt cổ, lòng khòng đi từng bước nặng nhọc quay các khối “chuyển luân chung” (chuông chuyển kinh từ cõi người lên cõi của Chư Phật) khổng lồ nằm như cái bom bia hay hũ rượu vang làm bằng đồng vàng ươm xếp la liệt ven tu viện đền đài, trong khi tay họ vẫn không ngừng quay vèo vèo một cái vật tròn có tua rua như đồ chơi trẻ con trên tay (cũng là một vật cầu nguyện kiểu pháp luân chung), trong khi miệng họ không ngừng cầu nguyện bằng tiếng Tạng, phiên âm ra tiếng Việt là “úm ma mi bát mê hồng”. Trong mỗi khối chuyển luân chung tròn linh thiêng đúc bằng đồng có trục dọc để lúc nào cũng quay tròn đó, chứa đến 10 nghìn câu kinh kệ.
Ven hồ, dọc núi, các lối đi, bao giờ cũng tràn ngập các gò đá lớn nhỏ do người Tạng xếp lên khi cầu kinh, gọi là các manidoi. Có khi họ xếp cả đầu lâu, sừng động vật to kềnh càng lởm chởm ở ven hồ, ven núi. Có khi cắm cả những cái cọc buộc sù sụ từ đất lên gần chạm mây toàn lông cừu, lông trâu yak, lông ngựa trùm xòa quái dị. Khi thì họ lại viết điều mình cầu nguyện lên các lá cờ, treo chúng xanh đỏ tím vàng rợp kín các dãy núi, để gió vạm vỡ muôn phương sẽ mang những mật chú cõi trần gian của họ đi xa hơn, đi đến miền đất đích thật của chư thiên. Sử sách còn chép rõ, vị Thánh tăng Hư Vân (1840-1959) đã thực hiện chuyến hành hương về thánh địa theo quy cách Tam bộ nhất bái (ba bước lại một lạy) rồi ngũ thể nhập địa từ Phổ Đà Sơn về Ngũ Hành Sơn, với chiều dài 2.500km, kéo suốt nhiều năm trời. Cũng khó có ở đâu, cái chết trong quan niệm lại nhẹ bồng và hân hoan như nơi này. Người ta ước ao sẽ chặt xác mình làm muôn mảnh bởi một nghi lễ pháp sư khai đao được xem là rùng rợn không nơi nào… sánh kịp. Trên đỉnh núi thiêng, đỏ đọc và be bét xương thịt của chính cái con người vừa nằm xuống, người ta đốt hương liệu thơm nồng dụ đàn kền kền đến ăn, mang xương cốt thịt da trần tục của Con Người lên Trời. Cũng có khi lễ thiên táng (còn gọi là điểu tang, chôn vào bụng chim kền kền) rùng rợn này biến thành thủy táng, thịt người quá cố xẻ ra thả xuống nước cho cá của dòng sông ở nơi cao nhất thế giới (thượng nguồn của sông Mê Công chảy qua 5 nước rồi về Việt Nam ta) mang đi. Suốt dọc con đường từ Lhasa, vượt 140km đèo dốc rợn người đi Shigatse, chúng tôi liên tục gặp trắng toát những cái thang vẽ bằng chất liệu như vôi hoặc sơn công nghiệp, thang vẽ “dựng” dọc vách đá, thang nối từ sông lên đường, vượt qua quốc lộ lên vách núi. Ý là cái thang dẫn linh hồn người chết ngược qua núi tuyết về với đỉnh trời ngăn ngắt xanh kia. Anh Cường, người bạn đồng hành mộ đạo Phật đến kỳ lạ của tôi ngồi mở máy tính xách tay, cho xem những thước phim khủng khiếp mà anh và cộng sự đã quay về lễ thiên táng đỏ rợn người cảnh băm xác rồi kền kền nanh vuốt kéo đến bầy hầy một đám xâu xé nhau... Phim đã hoàn thành, anh Cường là nhân vật trải nghiệm, những người thực hiện trên tinh thần thiện nguyện của đạo pháp, họ đã chính cống phát hành rồi ngắt khúc ra tải một cách lành mạnh lên Yotube (mang tên “Ký sự Tây Tạng”). Điều đáng nhấn mạnh ở đây là: người Tạng coi thủy táng hay thiên táng là một nghi lễ thiêng liêng, lành lẽ, nó hân hoan như hóa giúp người khác từ kiếp bụi trần nặng nhọc sang một cõi sáng láng siêu nhiên vậy. Được thiên táng là một vinh hạnh của một đời người, nghe nói, ai “đẳng cấp” kém hơn thì mới tính đến thủy táng.
Sao phải hẹn gặp trong kiếp khác?
Trở lại câu chuyện của những người “hành xác” “ngũ thể nhập địa” suốt bao tháng năm bò lê kéo càng để đến được thánh địa của mình ở Tây Tạng. Xin hãy đọc lại những gì mà cuốn “Con đường mây trắng” (dẫn ở trên) đã diễn tả lại. Người hành hương đến núi Ngân Sơn, cái rốn của vũ trụ, ở giữa đỉnh trời mây và tuyết trắng linh thiêng bậc nhất Tây Tạng như sau: “Khi khách hành hương ra khỏi vùng này (tỉnh Purang) thì họ trở thành miếng mồi cho giặc cướp rình rập cướp bóc những kẻ cô đơn hay các đoàn người không có vũ khí (chuyện ở thời điểm sách viết). Các chuyện cướp bóc đáng lo ngại đó đến tai người đi chiêm bái, họ cũng phải e dè và chỉ có ai có niềm tin lớn hơn nỗi sợ mới lên đường đi, còn những kẻ khác ở lại đợi nhiều người đi cùng hay đành phải đi Purantal, cũng là một chốn hành hương khác gần biên giới Nepal.
Thế nhưng (…) họ lên đường mà không có gì bảo vệ chống lại mưa gió và không ngại cả chết đói hay chết cóng, những người đó đáng cho ta khâm phục. Họ không ngại sống chết, cướp bóc hay đói khát vì họ biết cách tự thể nhập mình thống nhất với sức mạnh thần thánh của vũ trụ. Nhiều người hành hương như thế đã không bao giờ trở lại quê hương mình; thế nhưng ai trở về, người đó đã là sự minh chứng lòng nhiệt thành cao nhất và niềm tin kiên định nhất. Họ trở về với ánh mắt long lanh, tâm hồn được làm giàu bằng một sự chứng thực mà suốt đời họ sẽ là nguồn năng lực và cảm khái, vì họ đã đối diện với cái vô cùng và đã tận mắt nhìn xứ sở của thánh thần. Ai đã từ đèo Gurla hìn thấy vùng Ngân Sơn - Manasavar, người đó biết nói như thế là không hề quá đáng”. “Giờ đây khách không cần ai bảo vệ, vì mình vừa là rồng, vừa là kẻ cưỡi rồng, là kẻ cúng tế vừa là vật tế lễ, là ma quái vừa là thượng đế. Và khi người hành hương cúi đầu cho trán đụng đất thiêng và ném vài viên đá vào nơi mà những người đi trước đã ném vào thành đống để nói lên lòng biết ơn và niềm vui mừng thì niềm mơ ước của mình nay đã thành sự thực. Khách nhắc lại trong tâm như lời cầu nguyện: “Mong sao tôi đừng quên phút giây này. Mong sao nó hiện diện mãi trong tôi”.
Lòng mộ đạo vô biên và đáng ngỡ ngàng và kính trọng ấy. Vẻ đẹp choáng ngợp của hồ xanh, núi tuyết mênh mang vĩnh cửu và nhiều nghìn đền đài tu viện cổ kính ấy. Lại còn cả nỗi ám ảnh hội chứng độ cao hãi hùng, thập tử nhất sinh kia. Với tất cả ngần vẻ đẹp, sự sợ hãi, niềm kính trọng ấy, liệu có ai dám ưỡn ngực hứa chắc là mình sẽ gặp lại Tây Tạng trong một ngày không xa? Tôi có anh bạn đã đi Tây Tạng đến lần thứ 13. Riêng tôi, nói giữa vùng đất chư thiên, với tất cả lòng ái mộ và xúc cảm dâng trào của mình, tôi không dám hẹn ngày tái ngộ. Bởi đó là chuyến hành hương tuyệt vời nhất nhưng có lẽ cũng khổ ải nhất. Vẻ đẹp và trải nghiệm thiên thần kia, hãy nâng niu và thờ phụng nó như “cái thủa ban đầu lưu luyến ấy”. Gặp lại lần sau, chắc gì ta đã còn là ta, mà chắc gì con đường sắt kỳ vĩ cao nhất thế giới xuyên từ mặt đất lên đỉnh trời Tây Tạng kia đã cho phép miền văn hóa tâm lịch sặc sỡ trên lưng trâu yak, trên đỉnh núi tuyết của Hy Mã Lạp Sơn, trên đỉnh hồ xanh Nam-sto kia còn là chính nó? Thôi, thế giới còn gần hơn 150 quốc gia vẫy gọi, mấy chục năm tuổi trời, cố mà đi thêm vài chặng đáng nhớ nữa, chả dám mơ gặp lại Tây Tạng đâu.
Xia, Monday, cô gái Tạng thiện chiến như một con báo lửa, đành lỡ hẹn kiếp này với em. Giữa đỉnh trời tuyết trắng, em vẫn hằng kiêu hãnh vén mây nhìn xuống những người sống cách em cả vạn cây số, sống sâu dưới mặt biển hơn em những 5.000m đúng không? Em vẫn thường mỉm cười ái ngại cho những kẻ ở ngang mực nước biển như chúng tôi, khi thấy ai cũng bị hội chứng độ cao luôn miệng kêu “tôi không ăn gì đâu, tôi chết mất” đúng không? Phải rồi, cái hội chứng ấy, người sinh ra, lớn lên ở tít trên “nóc nhà thế giới” như em chưa bao giờ gặp phải. Được, bây giờ anh sẽ mail cho Xia, nói rằng khi chia tay em, trong cái bao la và hữu hạn của trời/kiếp người, anh đã khóc như một đứa trẻ chớm bạc đầu ra sao. Tây Tạng, vừa gặp đã nghĩ rằng nếu chia tay thì sẽ nhớ lắm lắm. Tây Tạng, chưa chia tay đã biết rằng chỉ có thể tái ngộ trong kiếp sau.
Tây Tạng, Hà Nội ngày 5/1/2011.
Có người hỏi tôi, sau những ngày lang bạt trên nóc nhà thế giới Tây Tạng cậu nhớ cái gì nhất. Trả lời: nhớ giọt nước mắt của mình giữa đỉnh trời tuyết sơn vĩnh cửu. Sao lại lấy mình làm trung tâm của vũ trụ thế, nói về cái gì của trời đất hay của con người xứ Tạng đi. Không, Tây Tạng là nóc nhà thế giới, là cực thứ ba của trái đất, là miền đất chư thiên (theo tiếng Ả rập và tiếng Ba Tư, Tây Tạng chiết tự ra nghĩa là: “ở các độ cao”). Mây trắng tinh khôi, tuyết trắng nhức mắt, trời và hồ nước ngọt, nước mặn ở vòi vọi trên khoảng 5000m (so với mực nước biển) kia, nó xanh như không có thực trên đời. Và nữa, sự khắc nghiệt đến mức thở xong một hơi nặng nhọc ở đỉnh đèo cao nhất thế giới, ven con hồ nước ngọt cao nhất thế giới đó, tôi không dám tin mình còn đủ sức thở thêm một hơi tiếp theo nữa. Cái tuổi già mắt mờ chân chậm, cái lúc sương khói phủ mờ cõi dương gian của một kiếp con người, nếu ai đó từng gặp, có lẽ nó chính là cảm giác bước chân trong kiệt sức vì thiếu dưỡng khí, với hội chứng độ cao khủng khiếp này đây. Tôi nâng niu từng hơi thở, để gặn chắt sức mình mà nhỏm dậy bấm một kiểu ảnh, rồi thiếp đi trên con đường thiên lý nó đẹp đến choáng ngợp, đến sửng sốt. Dường như đó là môt cõi không phải của trần gian mà du tử là Từ Thức mới nhập thiên thai.
Lúc chia tay ở phi trường Lhasa cao nhất thế giới ấy, tôi đã nắm tay Xia (tên tiếng Anh thường gọi là Sunday), nàng phiên dịch người Tạng lanh lẹ như một con báo gấm đó rồi dấm dúi gạt nước mắt. Không nói được câu nào. Bạn hỏi: bao giờ anh trở lại Lhasa, Sigaetse, rồi hồ Yamdok, Namstros, sông Yalung Zangbo? Tôi thở hắt cố giấu xúc động bằng cách giả lả cười, ý rằng ta đây đang hí tếu: có lẽ 20 năm nữa, mà… có thể là… kiếp sau, Xia à. Nàng ngơ ngác: anh không thích Tây Tạng ư? Tôi im lặng. “Bởi vì Tây Tạng giống như là một cõi khác, một kiếp khác. Người trần mắt thịt phải tu luyện đủ sức khỏe chống lại hội chứng độ cao khắc nghiệt kia thì mới cảm nhận hết được. Nóc nhà thế giới kia, đỉnh cao nhất Everest những 8.850m cơ mà. Tây Tạng vừa gặp đã gây mùi nhớ, vừa nhớ đã phải hẹn… kiếp sau”.
Trò chuyện với những đỉnh tuyết sơn vĩnh cửu
Tôi không nghĩ mình quá dễ sửng sốt khi những cái khung cảnh thiên nhiên hay sắc tộc tôn giáo mới lạ va vào xúc cảm nữa. Mà sự thực khách quan là thiên nhiên trên nóc nhà thế giới đẹp rợn ngợp, nó như Xuân Diệu viết, “ta là một là riêng là thứ nhất/ không có chi bè bạn nổi cùng ta” (bài thơ có tên “Hy Mã Lạp Sơn”, tức Everest). Từ Hà Nội bay Sài Gòn, vù sang Thẩm Quyến, cất cánh ngược Thành Đô, để leo lên con chim sắt khác nữa, cứ thế hắt “leo” dần lên miền băng tuyết triệu triệu năm u tịch… nhập Tạng. Càng đi có cảm giác: con người ta, với sự hỗ trợ của máy móc tối tân, họ quá lộng lẫy và kiêu hùng, nhưng cũng vì thế mà đôi khi họ cô độc, mỏng manh vô hạn độ. Lênh đênh trên biển cả tháng, nhìn nước mặn dựng lên thành chóp núi bạc đầu, cơn say sóng khiến người ta sợ đại dương vô tận. Còn bây giờ máy bay cứ ù lỳ trôi như câm lặng, như vô định thoát khỏi quỹ đạo trái đất, lững lờ trên băng đăng “mênh mông bể Sở” xứ người. Những dòng sông băng giá trắng toát, những đỉnh núi tuyết tự soi bóng mình trong nắng trong vắt để rồi cả núi cả tuyết cứ loang lổ trắng đen… đã khiến tôi (dù cố thoát ra vẫn) không khỏi nghĩ dại đến cảnh lạc lối trong điệp điệp các đỉnh trời lạnh giá đó. Có lẽ biển tuyết trắng thanh tao và kỳ bí kia còn đáng sợ hơn biển nước mặn với màu xanh và độ rộng đe dọa con người nọ. Có lẽ, rất rất ít loài động vật sống được trong hàng triệu cây số vuông núi tuyết quây kín nóc nhà thế giới kia? Cỏ cây thì tuyệt nhiên không thấy bóng rồi. Sơn hệ lớn nhất thế giới, cao nhất quả đất ấy, cứ băng giá và cô liêu bất tận mãi thế ư? Tây Tạng có độ cao trung bình khoảng 4.500m so với mực nước biển, con đèo cao nhất thế giới mà tôi sắp hạ cánh để leo lên nó cao hơn 5000m so với mực nước biển. Bấm đốt tay nhẩm tính, hầu hết các chuyến bay mà tôi từng đi, tầm cao trung bình khi đạt tốc độ ổn định của “con chim sắt” cực kỳ hiện đại cũng chỉ 10km tính từ mặt biển. Không biết tính vậy có đúng hay không, nhưng rõ ràng, máy bay của chúng tôi đang soi mình xuống những kỳ quan triệu triệu năm miên viễn trong tuyết trắng tinh khôi; và chúng là sơn hệ Himalaya cao nhất của địa cầu, rồi đỉnh Everets 8.850m cao nhất thế giới, đỉnh Namzha Parwa cũng 7.756m; và từ đây, máy bay chỉ hạ cánh một nửa độ cao hiện thời, thì đã chạm vào… con đèo Kapala (5.190m) soi mình xuống hồ nước xanh trên đường từ thủ đô Lhasa đến Sigatse của Tây Tạng. Từ đỉnh đèo đó, hạ cánh những 5.000m nữa thì mới đạt độ cao… của sân bay Tân Sơn Nhất, Việt Nam.
Nhìn những đỉnh núi 7.756m rồi 8.850m vòi vọi trong sơn hệ Himalaya nằm trùm lên biên giới Tây Tạng và Nepal, anh bạn tôi bảo, mình cứ ngắm say sưa, cứ gửi vào các dòng sông băng và các đỉnh tuyết sơn cô độc kia một ánh nhìn, một ký ức, một sự tưởng tưởng mộng mơ. Bởi biết chắc, kiếp này không bao giờ ta đến được nơi đó. Và có lẽ, nghìn kiếp sau nữa, trái đất chưa chắc đã sinh ra được một cá thể người nào đặt chân được đến hoang vu nọ. Bất giác tôi rùng mình vì sự mênh mông vài giờ bay chưa hết nhấp nhô điệp trùng núi tuyết. Nhìn sang bên, mấy cô tiếp viên xinh đẹp người Tạng cứ dịu dàng yêu cầu quý khách về lại vị trí ngồi ghi trên thẻ hành khách, rồi chính cô lại phải mỉm cười cảm thông, mặc kệ những du khách khoa chân múa tay nhòm rồi chĩa đủ thứ ống kính máy ảnh, máy quay ra cửa kính trong lần đầu theo đường trời tuyệt kỹ tới thủ phủ Lhasa của xứ Tạng. Bên cạnh tôi, hai người đàn bà có gương mặt đặc sệt Tây Tạng cứ nhắm mắt, tay lần tràng hạt, tiếng cầu kinh lầm rầm như bay lượn êm êm. Chắc không phải các bà sợ khi nghe ai đó trên mạng liên tục cảnh báo hàm lượng rủi ro khá nhiều trong chuyến bay lên nóc nhà thế giới. Cơ hồ, đơn giản, hai người đàn bà Tạng này, cũng như hầu hết người dân Tạng khác, họ vẫn cứ cầu kinh, đọc mật chú thiêng, lần tràng hạt, quay bánh xe luân pháp như cơm ăn nước uống hằng ngày như vậy. Đi trên tuyết, giữa đại dương, ngồi máy bay hay cưỡi bò Yak, họ vẫn giản dị nghĩ về kiếp người, sự sống và cái chết… bình thường vậy thôi.
Gặn chắt sinh lực để hy vọng có thể thở thêm được một hơi nữa…
Các nhà khoa học đã chứng minh được, cái genen của người Tây Tạng có sức tiến hóa và thích hợp với hội chứng độ cao hơn nhiều lần so với người nơi khác đến, nhất là những người sống ở nơi thủy triều vẫn lan vào thành phố hằng ngày (tức là độ cao ngôi nhà so với mực nước biển gần như bằng 0) như hầu hết thành viên trong nhóm chúng tôi. Cụ thể, người Tây Tạng có nhiều biến thể gene thích nghi với cuộc sống ở trên cao, họ còn có gene xử lý ô xy một cách khá là “chuyên trách”. Vì thế, tôi hầu như không gặp cảnh người Tạng đội mũ để tránh mưa tránh nắng. Thường là cứ “đầu đội trời chân đạp đất”. Chân họ đôi khi cũng có đi giày dép, nhưng chắc chắn đầu thì… tóc vờn trong gió quanh năm. Da cháy xám đi, thiếu nữ nhiều khi má quá hồng, trẻ con má bong tróc ngoang nguếch vì gió, nắng to và cái lạnh thấu xương. Vẻ đẹp ấy nó hoang dã, đỏ đắn, yêu yêu. Tóc họ có cảm giác như đã khô khét tự bao giờ. Tôi không ngạc nhiên khi nghe nói người Tạng có tục đẻ con ra nhúng vào nước lạnh xem cháu bé có đủ sức đề kháng chống chọi với cam khó để tiếp tục sống trên nóc nhà thế giới không. Cũng không lạ khi họ tích trữ, ngào và ném từng cục phân trâu yak lên bờ tường hoặc xếp thành “núi” để làm chất đốt sưởi ấm khi mặt sông cũng đóng băng như các đỉnh tuyết sơn. Họ ở gần thiên nhiên nhất trong chừng mực mà một người văn minh có thể hình dung. Và, người ta cứ mỉm cười cảm thông khi thấy du khách ai cũng bẻ những ống thuốc nước màu tím sẫm đựng trong hệ thống lọ hình con thoi bằng thủy tinh trắng (dịch ra tiếng Việt là: trưng cất nước hoa hồng – dùng để khắc phục chứng bệnh choáng ngất do độ cao). Họ thương hại khi thấy du khách dùng bình ô xy, uống sữa trâu yak pha bơ với trà nóng để tiếp thêm sinh lực. Hiếm có ai không bị hội chứng độ cao hành hạ, nhất là những kẻ lười biếng muốn lên nóc nhà thế giới, muốn chớp nhoáng lọt vào thủ phủ Lhasa bằng phi cơ! (nếu đi đường bộ hay đường sắt, trong vài chục tiếng, thậm chí nhiều ngày, leo dốc nghỉ ngơi tăng dần độ cao, cơ thể người ta sẽ dần thích nghi và bớt bị sốc hơn là đi máy bay).
Tôi đọc khá nhiều tác phẩm văn học, báo chí, phim ảnh, ký sự bằng hình về Tây Tạng, đúng là người ta có nhắc đến việc không khí loãng gây đau đầu buồn nôn, chảy máu cam, ngất xỉu dọc đường. Cả trong các sách về du lịch, các lời khuyến cáo trong đơn vị tổ chức, cũng có nhắc đến điều này. Song, tôi xin khẳng định: nếu ai cũng nói đúng tầm của nỗi kinh sợ hội chứng độ cao, thì sẽ có rất nhiều người phải nghĩ lại với ý đồ lên nóc nhà thế giới của mình. Tôi không có ý định quan trọng hóa hay dọa dẫm hóa… vấn đề, cũng không có ý bảo người ta đừng có léo lên “nóc nhà” rồi kêu là cao quá, dễ sa sẩy quá. Nhưng đúng là, nhóm chúng tôi, không ai là không kiệt sức, phải tập nói bằng tiếng Anh với hướng dẫn viên: tôi không ăn, không ngủ, không…bài tiết, không tình dục, không dám tin mình còn có thể thở tiếp sau khi trình bày câu này với anh (chị). Trên ô tô bao giờ cũng có đủ mỗi người một bình thở ô xy. Trong khách sạn, cũng vậy. Đặc biệt, ở bảng hướng dẫn nội quy khách sạn, người ta cũng không quên dán danh mục các loại thuốc hoa hồng, thuốc đặc trị chứng bệnh độ cao. Họ cũng niêm yết khắp nơi số điện thoại của phòng y tế để ngay lập tức họ có mặt đo huyết áp, cấp cứu từng bệnh nhân một. Nói không ngoa, một nửa số người trong nhóm chúng tôi phải nhờ đến sự can thiệp của bác sỹ, dẫu họ phần đa trai tráng cơ bắp ác liệt, từng chinh đông chinh tây đang mặt dân “giang hồ tứ chiếng” cả. Người yếu thì máy bay ở phi trường Lhasa vừa mở cửa đã nằm bất tỉnh nhân sự. Một cặp vợ chồng còn hãi hung đứng giữa khoang máy bay, chưa kịp nhòm thấy núi tuyết hay bát ngát thủ phủ Lhasa một lần, đã đòi máy bay “liệu có thể quay đầu” về Việt Nam được không? Bởi họ không chịu nổi. Họ ngay lập tức đòi tôi phiên dịch đặt vé máy bay rồi “hạ thấp” độ cao, rút lui xuống Tứ Xuyên du ngoạn, thay vì “giời hành đi vào nơi không thể nào thở được”.
Tôi cảm giác rõ như nguồn sống cạn dần cạn dần từng khoảnh khắc. Chúng tôi cứ bò ra sàn khách sạn bốn sao, thỉnh thoảng mộng mị hỏi nhau, bạn đỡ hơn chưa, tai ù đặc, cũng không cần nghe “đồng bệnh tương lân” giả lời nữa, bởi biết chắc là cũng như lần hỏi trước, đồng đội đều đang như… mình cả. Càng uống thuốc chống hội chứng độ cao, cơn choáng dường như càng nặng. Lúc xuống khỏi cái chuồng gà sân bay Lhasa (bà con bên này thường ví như vậy, bởi thung lũng bốn bề quây kín núi cao với phần ngọn trắng toát băng tuyết, nhô lên một cái phi trường có kiến trúc giống hệt cái bu úp gà, các tòa nhà kinh đô này cũng xám xịt túm tụm một góc với 200.000 dân), người ta còn đi lại đĩnh đạc, ăn uống ngon lành, khoa chân múa tay đầy hứng khởi, nhưng chỉ 2 tiếng sau, tất cả đều gục ngã lả tả. Các tua du lịch bắt buộc phải mua ở Tây Tạng (kể cả bạn là khách tự bay sang, muốn tự khám phá), dù tiết kiệm thời gian hết sức, họ vẫn phải có quỹ thời gian một hai ngày cho du khách nghỉ ngơi hy vọng sẽ quen tí nào đó với bệnh không khí loãng (nhưng khó khăn thay!). Khoa học giải thích: không khí ở trên cao loãng, lượng ô xy vào máu quá ít so với bình thường, dẫn đến rối loạn cân bằng nội mô tế bào, thiếu máu cục bộ của tế bào, gây nhiễm a-xít, giảm tổng hợp protein và ngưng trệ các hoạt động sống của cơ thể. Đấy là chưa kể, nguyên nhân của việc người ta vinh danh Tây Tạng là cực thứ 3 của trái đất (cùng với Nam Cực và Bắc Cực), bởi lý do là nơi này quá khắc nghiệt: nhiệt độ trong ngày có thể dao động đến hơn 30 độ từ trưa nắng đến đêm khuya đầy tuyết. Có khi, 20h30 phút rồi, mà nắng vẫn chan hòa ngoài đường đi. Đối với người Việt Nam, đây quả là một điều không thể tưởng tượng. Người ta gọi Tây Tạng là thế giới của ánh sáng - nơi gần… mặt trời nhất thế giới, là vì thế. Số giờ nắng trong một năm ở nơi này, vào diện cao nhất nhì quả đất.
Trở lại chuyện kinh sợ hội chứng độ cao. Hậu quả phổ biến với đoàn chúng tôi là: bữa đến, đại yến và tiểu yến đều bỏ ế toàn phần, ai nấy nhìn nhau không nói, không cười, không kêu rên. Môi tôi nứt nẻ như cái ruộng cấy gặp đại hạn, khóc hay cười đều đau nhói. Cảm giác những bộ phận trên cơ thể mình không phải của mình, mà nó cũng cứ trôi tự do không muốn theo ý mình nữa. Đầu óc vừa đau nhức lại vừa trôi tự do, có khi mộng mị cả khi chưa nhắm mắt. Mặt ai nấy bạc đi, không thiết một cái gì trên đời. Bỏ mấy chục triệu đồng (tối thiểu) leo lên vùng đất mái nhà thế giới, miền đất chư thiên chư thánh ước mơ cả đời, nhưng đúng là đến tu viện cổ nhất Tây Tạng ở gần thành phố lớn thứ hai đất nước này Shigatse, mái điện rát vàng ròng nghìn năm tuổi, tôi vẫn phải nằm bẹp ngoài xe. Ngủ trong khi trời nắng chang chang, nhiệt độ ngoài trời vẫn 4 độ C, tuyết vẫn trắng các dãy núi. Tôi thì nai nịt như phi hành gia mà vẫn giá buốt, chỉ dám hếch mắt nhìn bác tài khỏe vâm váp mặc áo may ô đang cười ái ngại. Chĩa ống kính vào tu viện thở dài bấm vài kiểu ảnh cho khỏi tủi thân. Đến đỉnh đèo tuyết trắng và con hồ xanh kỳ ảo kỳ vĩ đó; sững sờ khi biết đèo cao 5.190m so với mức nước biển, trong khi đỉnh Phan Xi Păng, nóc nhà toàn cõi Đông Dương ta chỉ có hơn 3.143m. Tôi dò dẫm đi lên cột mốc đỉnh đèo cao nhất thế giới. Gió bay người. Không ai được phép đi nhanh, và phải đeo bình dưỡng khí. Bởi vận động mạnh tay mạnh chân một cái là hết sức lực, quỵ ngã giữa con đường 100m từ ven đường nhựa lên điểm “bất đáo đỉnh đèo phi hảo hán”. Xin thề có giời đất và con người Tây Tạng, tôi - gã trai vẫn tự hào leo gần hết các đỉnh núi cao nhất Đông Dương, từng đi nhiều nước trên thế giới - cũng không đủ sức leo qua 100m lên cột đá đánh dấu đỉnh đèo “tử thần” kia. Chân nặng trĩu, đầu đau như búa bổ, mắt díp lại, suy nghĩ lơ tơ mơ. Dẫu biết chắc đời mình thật khó có lần thứ hai quay lại vùng đất thiêng này, nhưng tôi đã thất bại khi cảm giác sinh khí trong mình cạn kiệt. Có lẽ, khi 99 tuổi, tôi cũng chỉ bước đi nặng nề và run rẩy đến thế thôi. Và, tôi còn muốn mở ngoặc điều này nữa: sách về Tây Tạng, nhiều học giả thời trước, đặc biệt là những người từng tham gia tu luyện ở miền đất thánh thần đều kể: ở trạng thái không khí loãng, hội chứng độ cao dễ làm người ta sống trong mộng mị. “Nạn nhân” hay mơ về quá khứ xa xôi, đặc biệt là những người thân đã chết. Và mỗi khi các giấc mơ kia rõ ràng cụ thể thì khả năng thời tiết thay đổi, mưa giông sẽ xuất hiện. Những người du thám Tây Tạng thời hoang sơ đi ngựa và lội bộ, họ phải dựa trên những giấc mơ kiểu đó của mình để thu xếp công việc và tránh mọi tai ương do sự khắc nghiệt từ “cực thứ ba của thế giới” gây ra. Những ngày ở Tây Tạng, tôi (người viết bài này) cũng đã trải nghiệm cảm giác lạ lùng này, mới thấy “các cụ” viết thật chí lý. Có cái gì hoang đường và hoang mang ở đây chăng? Không, chuyện đó rất thật, và khoa học đã lý giải rồi, nhưng ta sẽ bàn về nó ở một dịp khác vậy.
Lúc cả đoàn nằm thiêm thiếp, nốc thuốc vượt nhiều lần chỉ dẫn của nhà sản xuất mà bệnh tình vẫn… nặng như đá đeo, tôi đã đặt dấu hỏi: dường như người tổ chức chuyến đi đã không khuyến cáo đầy đủ sự kinh hãi này cho các thành viên. Họ chỉ nói chung chung, thiếu ô xy sẽ khó thở, tức ngực, với những người già quá 68 tuổi hoặc có tiền sử bệnh tim bệnh huyết áp là nguy hiểm. Hay ngành du lịch sợ nói ra sự thật thì không ai dám lên Tây Tạng?
Xúc cảm thiên đường ở những viên ngọc hồ xanh cao nhất thế giới
Đúng. Trong cơn tuyệt vọng nhìn bữa cơm và những cung đường dằng dặc qua hoang mạc xám lạnh, núi tuyết u u và những đỉnh núi thiên tang xẻ xác người ném cho kền kền mang đi - tôi đã hơn một lần buồn bã oán than như vậy. Nhưng, bù lại, tôi đã phải vận công bật dậy như con tôm mắc cạn gặp dòng suối trong, khi đến trước hồ nước ngọt cao nhất của quả đất. Đây là một trong bốn cái hồ thiêng của toàn cõi Tây Tạng: hồ Yamdrok-sto. Cách thủ phủ Lhasa hơn 100km, từ trên đỉnh đèo kỳ vĩ Kapala cao 5.190m, ai nấy sững sờ thấy mình bị bủa vây bởi hàng vạn cờ phướng sặc sỡ sắc màu đang rung rinh trong gió. Người Tạng viết điều ước và những nguyện cầu thành tâm nhất của mình lên các lá cờ bé xíu như cờ đuôi nheo ở ta, rồi gắn nó lên các sợi dây dài bắc ngang đường quốc lộ, chăng dọc các dãy núi, quấn quanh các đỉnh núi, hàng vạn lá cờ như vậy đã nhờ gió mang lời mật chú đi xa. Gió kiêu hãnh làm việc ấy. Cờ nối người và trời. Trên đèo Kapala, rợn ngợp trong vẻ đẹp các dãy núi tuyết trắng nhức mắt, mịn màng như bột pha lê ai vừa êm đềm phủ xuống núi trắng cho da trời thêm xanh, cho nước hồ uốn lượn thêm xanh vô cùng tận, xanh hư ảo, xanh như không có thật trên đời. Có người muốn ném hòn đá xuống mặt hồ dài như con rắn xanh mấy chục cây số luồn giữa các dãy núi tuyết trắng kia xem, xem cái màu xanh gọi là hồ Yamdrok-sto kia có thật phải là nước không. Hay nó là một miếng ngọc bích khổng lồ?
Cao nguyên chỗ này, nhiều đoạn cứ lan man tuyết rạn vỡ phủ lên các đỉnh núi vàng ươm, xám ngoét khô cằn, không một loài thảo mộc nào sinh sống nổi. Hoang mạc ấy, có một con đường xuyên qua, nó vắt chùng chình từ lòng chảo lên đỉnh trời, nó vắt qua mép hồ, hồ xanh rộng 600km2 (!) nhưng cứ trải dài bất tận, như miếng ngọc bích ai vừa nung chảy rồi đổ tràn khắp sơn hệ Kapala của dãy Himmalaya (xương sống và nóc nhà thế giới). Ở nhiều góc hồ, có thể nhìn thấy đỉnh núi hùng vĩ Nojin Kangtsang cao 7.191m soi bóng nên thơ. Bùa chú, các gò manidoi, cờ phướn, xương và đầu lâu động vật “trưng bày” khắp nơi như một nghi lễ bí ẩn. Chó ngao Tây Tạng lừng lững đứng chờ, bò Yak cũng rủ bộ lông dài thượt cả mét đứng chờ. Chờ để du khách chụp ảnh chung rồi trả tiền cho ông bà chủ người Tạng. Một kỳ quan nữa ở Tây Tạng, mà ai đến đó cũng phải quỳ lạy sự bí ẩn của Tạo Hóa, đó là hồ nước mặn cao nhất thế giới Nam-sto.. Ai đến đây cũng có thể thấy nước hồ mặn như nước biển, bạn có thể nếm thử xem nước ở Biển Chết chắc gì đã mặn hơn thế; và sách nào cũng nói nó là cái biển trên nóc nhà thế giới đích thực, nhưng thật khó để người ta không khỏi ngạc nhiên, tại sao nơi tột cùng hoang vu và cao vọi này lại có “cái biển” với diện tích mặt nước lên tới 1960km2!? Hồ nằm trên cao nguyên, nó từng được gọi là Thanh Hải, bởi Thanh Hải tức là biển xanh, hồ rộng như biển và nước xanh như nước biển, ngày xưa người ta cứ tưởng đây là biển. Tưởng thế giới không phải chỉ có bốn biển như bây giờ! Trong hồ còn có 5 hòn đảo nhỏ, tượng trưng cho Ngũ Phương Phật. Nếu như ở Yamdrok-sto, quanh hồ chỉ cỗi cằn xám ngoét hoang mạc, thì ở Nam-sto, giữa mênh mông “biển xanh” đó, cỏ mọc xanh, trâu yak, cừu và ngựa chạy thung thăng. Tuyết trắng tan ra thành các dòng suối, suối nước ngọt đổ vào hồ, hồ lại có nước mặn. Mùa đông, mặt hồ đóng băng toàn bộ. Đấy là chưa kể các hồ thiêng mỗi bước chân mỗi huyền thoại khác, ở đó thiên nhiên mở ra những kho tàng kỳ bí không thể lý giải tiếp nữa, như: hồ Lhamo La-tso, rồi hồ Manasarovar. Hồ mặt trăng, hồ mặt trời, hồ của Quỷ, hồ của Thánh thần (Thiên Hồ).
Nhiều người tỏ ra đặc biệt sững sờ với màu xanh kỳ lạ của hồ Yamdrok-sto. Nhưng theo lý giải của tác giả người Đức (người mà tôi coi là đã viết kỹ và có tình có lý bậc nhất về Tây Tạng, bởi ông này từng sống nhiều năm rồi theo học tu của các thiền sư Tạng), ông Anagarika Govinda, trong cuốn “Con đường mây trắng”, thì: hồ nước xanh chẳng qua là “có nhiều chất magnesium” khiến cho “nước hồ cũng chẳng uống được” dẫu bạn bị khát đi qua đó (bản dịch của Nguyễn Tường Bách). Ông này viết: “(chất magnesium) là lý do sinh ra độ trong và màu sắc lạ lùng của hồ. Mặc dù bản thân magnesium vô sắc nhưng nó làm cho nước không thể chứa sinh vật, dù thực vật hay động vật rất nhỏ cũng không. Thế nên nước trong vắt, những ngày lặng gió không sóng, đứng sát bờ, ta không phân biệt được đâu là nước, đâu là bờ. Tôi vẫn nhớ rõ cái hoảng sợ trong ngày mình đến gần bờ và chân đạp vào nước lạnh ngắt lúc nào không hay. Những viên sỏi nọ với màu sắc đáng yêu, không khác gì những viên nằm trên bờ, vậy mà chúng lại nằm trong nước. Nước trong không màu hệt như không khí. Chỉ có nơi nào khá sâu thì nó mới mang một màu xanh lục, sâu hơn thì chỉ một màu xanh ngắt, chính màu này biến hồ thành một sự kỳ diệu”.
Đến Potala, “ngũ thể nhập địa”, tôi mới thấy mình “vô đạo”
Cùng với thiên nhiên đáng kiêu hãnh, Tây Tạng còn ám ảnh tôi bởi thế giới tâm linh và bề dày văn hóa chứa chất nhiều lớp lang bí ẩn khả kính khác. Với 16.000 tu viện lớn nhỏ, Tây Tạng không hổ danh khi được loài người gọi là miền đất chư thiên. Không phải là việc phục dựng nghi lễ sinh hoạt để thu hút và kinh doanh du lịch, mà ngay ở thiên niên kỷ thứ 2 này, những câu chuyện như huyền thoại vẫn hồn nhiên diễn ra trong sự ngạc nhiên tột độ của nhiều người. Tu viện dày đặc. Nếu bạn thực sự là khách du lịch, thì đúng là ngoài ngắm 4 cái hồ và vài đỉnh đèo ra, đất Tây Tạng đón khách với chủ yếu là tu viện và đền đài. Có ngôi đền xây từ thời công chúa Văn Thành (thời nhà Đường, năm 618 đến năm 907) nhập Tạng làm vợ vua Tùng Tán Cương Bố. Chùa Đại chiêu linh thiêng và nổi tiếng nhất Tây Tạng, đây là nơi mà, tương truyền, khi xây, Công chúa Văn Thành phải ném chiếc nhẫn tuyệt bích của mình vào rồi sai dê thần đổ đất khắc chế yêu nữ quấy nhiễu những người thợ cũng như bao đời lương dân. Theo tiếng Tạng, con dê là “ra”, chiếc nhẫn là “sa”. Từ đó, nơi này mang tên Ra Sa, dần dần âm bị biến thành Lhasa, giờ là tên của thủ phủ Tây Tạng và đôi khi cả miền đất Tạng rộng lớn hiện nay. Hoặc như cung điện Potala (được xây dựng năm 1645), di sản văn hóa thế giới ở nơi cao nhất quả đất, một kỳ quan của nhân loại vừa là nơi thờ tự vừa là nơi làm việc hành chính của các vị Phật sống nhiều đời Đạt Lai Lạt Ma. Cung điện rộng tới hơn 1000 phòng, cao 137 tầng, hơn 10.000 bàn thờ các vị Phật, 20.000 bức tượng, nhiều vị rát vàng khổng lồ và hằng ngày hàng tháng phật tử vẫn cúng vàng vào để các nhà sư tiếp tục thếp bồi vào tượng. Tượng mình vàng linh thiêng nơi này vẫn hằng lớn lên theo đúng nghĩa đen. Như ở chùa Đại Chiêu, suốt 1.300 năm qua, tượng Phật thỉnh thoảng lại được rát thêm vàng.
Lòng mộ đạo của người Tạng, sau khi đọc trong sách, trên mạng, trong sử, và xem phim discovery (khám phá), tôi từng nghĩ nó có cái gì đó là huyền thoại, là si sản trong… phim tài liệu. Tức là có thể người ta phục dựng thêm để nói về một “sản phẩm văn hóa tôn giáo” quá ư độc đáo chăng? Song, đến khi nhập Tạng, tôi chợt thấy cần phải đứng trước hồ Thánh thần và các tu viện cổ lừng danh để tạ lỗi… suy nghĩ báng bổ. Càng đi tôi càng thấy mình trở thành kẻ tục trần thật sự, có cái gì hơi vô thần trước lòng tin tôn giáo tột độ đắm đuối của bà con nơi này. Tôi hiểu, niềm tin đó làm cho người Tạng gốc họ an nhiên tự tại hơn, có trách nhiệm với mình và với đời hơn. Tử tế hơn. Họ nằm dài trên các nền đá, gạch trước chùa, đền, tu viện. Ai chụp ảnh họ mặc kệ hoặc có khi cau có, xua tay giống như “sao mi lại lấy việc ta lễ chư thiên là thứ để… vẽ vời bày đặt” (?). Nhiều người đã đi hàng trăm cây số để đến “ngũ thể nhập địa” trước cửa đền Đại chiêu, dưới chân cung điện Potala hay hàng trăm đền đài ở ngay thành phố Shigatse, ngay rìa thủ đô Lhasa. Họ không nhìn nhau, cũng chẳng nhìn du khách, chỉ chăm chắm hướng lên bầu trời và về phía bạt ngàn thành quách của Niềm tin vào đấng tối cao. Đi ba bước (tam bộ) là ngũ thể gồm chân, tay, ngực, trán… của họ lại một lần chạm xuống đất (nhập địa). Các nhà nghiên cứu nói, đây là cách vái lạy khổ sở, đau đớn nhất thế giới. Trán họ vồng lên, u bướu và xám xịt với các vệt sẹo, vệt chai sần đen thẫm, quần áo họ rách bươm tơ tướp. Bụng họ ấp một tấm da cừu da ngựa còn cả lông lá đã sờn rách vì mài xuống núi xuống gạch đá dọc đường đi không biết bao nhiêu lần. Hai tay họ có khi được “đơn giản hóa thủ tục” một chút bằng cách đeo hai cái guốc mộc có quai da để khi “nhập” đánh cộp một cái “ngũ thể” xuống đất thì hai bàn tay là nơi chịu lực chính nó sẽ không chảy máu. Họ cứ “hành xác” như thế hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn cây số, có khi đứng một chỗ ngoài cửa đền, trong một đêm họ vái như vậy hàng nghìn hoặc cả vạn lượt. Có khi, suốt cả một đời người, đi từ quê hương mình đến miền đất Thánh, người ta phải vượt qua bão tuyết, cát vùi, thiên nhiên khắc nghiệt và kẻ cướp giết chóc. Nhưng họ quyết tâm đi, tự nguyện đi. Họ coi đó là việc cần làm, đáng làm nhất trong cuộc đời mình. Có người vĩnh viễn không bao giờ đến được miền đất tâm linh, bởi họ bị kẻ xấu giết dọc đường. Tôi vẫn thường kính trọng ngồi xuống quan sát những ông già bà cả, đấm lưng, vặt cổ, lòng khòng đi từng bước nặng nhọc quay các khối “chuyển luân chung” (chuông chuyển kinh từ cõi người lên cõi của Chư Phật) khổng lồ nằm như cái bom bia hay hũ rượu vang làm bằng đồng vàng ươm xếp la liệt ven tu viện đền đài, trong khi tay họ vẫn không ngừng quay vèo vèo một cái vật tròn có tua rua như đồ chơi trẻ con trên tay (cũng là một vật cầu nguyện kiểu pháp luân chung), trong khi miệng họ không ngừng cầu nguyện bằng tiếng Tạng, phiên âm ra tiếng Việt là “úm ma mi bát mê hồng”. Trong mỗi khối chuyển luân chung tròn linh thiêng đúc bằng đồng có trục dọc để lúc nào cũng quay tròn đó, chứa đến 10 nghìn câu kinh kệ.
Ven hồ, dọc núi, các lối đi, bao giờ cũng tràn ngập các gò đá lớn nhỏ do người Tạng xếp lên khi cầu kinh, gọi là các manidoi. Có khi họ xếp cả đầu lâu, sừng động vật to kềnh càng lởm chởm ở ven hồ, ven núi. Có khi cắm cả những cái cọc buộc sù sụ từ đất lên gần chạm mây toàn lông cừu, lông trâu yak, lông ngựa trùm xòa quái dị. Khi thì họ lại viết điều mình cầu nguyện lên các lá cờ, treo chúng xanh đỏ tím vàng rợp kín các dãy núi, để gió vạm vỡ muôn phương sẽ mang những mật chú cõi trần gian của họ đi xa hơn, đi đến miền đất đích thật của chư thiên. Sử sách còn chép rõ, vị Thánh tăng Hư Vân (1840-1959) đã thực hiện chuyến hành hương về thánh địa theo quy cách Tam bộ nhất bái (ba bước lại một lạy) rồi ngũ thể nhập địa từ Phổ Đà Sơn về Ngũ Hành Sơn, với chiều dài 2.500km, kéo suốt nhiều năm trời. Cũng khó có ở đâu, cái chết trong quan niệm lại nhẹ bồng và hân hoan như nơi này. Người ta ước ao sẽ chặt xác mình làm muôn mảnh bởi một nghi lễ pháp sư khai đao được xem là rùng rợn không nơi nào… sánh kịp. Trên đỉnh núi thiêng, đỏ đọc và be bét xương thịt của chính cái con người vừa nằm xuống, người ta đốt hương liệu thơm nồng dụ đàn kền kền đến ăn, mang xương cốt thịt da trần tục của Con Người lên Trời. Cũng có khi lễ thiên táng (còn gọi là điểu tang, chôn vào bụng chim kền kền) rùng rợn này biến thành thủy táng, thịt người quá cố xẻ ra thả xuống nước cho cá của dòng sông ở nơi cao nhất thế giới (thượng nguồn của sông Mê Công chảy qua 5 nước rồi về Việt Nam ta) mang đi. Suốt dọc con đường từ Lhasa, vượt 140km đèo dốc rợn người đi Shigatse, chúng tôi liên tục gặp trắng toát những cái thang vẽ bằng chất liệu như vôi hoặc sơn công nghiệp, thang vẽ “dựng” dọc vách đá, thang nối từ sông lên đường, vượt qua quốc lộ lên vách núi. Ý là cái thang dẫn linh hồn người chết ngược qua núi tuyết về với đỉnh trời ngăn ngắt xanh kia. Anh Cường, người bạn đồng hành mộ đạo Phật đến kỳ lạ của tôi ngồi mở máy tính xách tay, cho xem những thước phim khủng khiếp mà anh và cộng sự đã quay về lễ thiên táng đỏ rợn người cảnh băm xác rồi kền kền nanh vuốt kéo đến bầy hầy một đám xâu xé nhau... Phim đã hoàn thành, anh Cường là nhân vật trải nghiệm, những người thực hiện trên tinh thần thiện nguyện của đạo pháp, họ đã chính cống phát hành rồi ngắt khúc ra tải một cách lành mạnh lên Yotube (mang tên “Ký sự Tây Tạng”). Điều đáng nhấn mạnh ở đây là: người Tạng coi thủy táng hay thiên táng là một nghi lễ thiêng liêng, lành lẽ, nó hân hoan như hóa giúp người khác từ kiếp bụi trần nặng nhọc sang một cõi sáng láng siêu nhiên vậy. Được thiên táng là một vinh hạnh của một đời người, nghe nói, ai “đẳng cấp” kém hơn thì mới tính đến thủy táng.
Sao phải hẹn gặp trong kiếp khác?
Trở lại câu chuyện của những người “hành xác” “ngũ thể nhập địa” suốt bao tháng năm bò lê kéo càng để đến được thánh địa của mình ở Tây Tạng. Xin hãy đọc lại những gì mà cuốn “Con đường mây trắng” (dẫn ở trên) đã diễn tả lại. Người hành hương đến núi Ngân Sơn, cái rốn của vũ trụ, ở giữa đỉnh trời mây và tuyết trắng linh thiêng bậc nhất Tây Tạng như sau: “Khi khách hành hương ra khỏi vùng này (tỉnh Purang) thì họ trở thành miếng mồi cho giặc cướp rình rập cướp bóc những kẻ cô đơn hay các đoàn người không có vũ khí (chuyện ở thời điểm sách viết). Các chuyện cướp bóc đáng lo ngại đó đến tai người đi chiêm bái, họ cũng phải e dè và chỉ có ai có niềm tin lớn hơn nỗi sợ mới lên đường đi, còn những kẻ khác ở lại đợi nhiều người đi cùng hay đành phải đi Purantal, cũng là một chốn hành hương khác gần biên giới Nepal.
Thế nhưng (…) họ lên đường mà không có gì bảo vệ chống lại mưa gió và không ngại cả chết đói hay chết cóng, những người đó đáng cho ta khâm phục. Họ không ngại sống chết, cướp bóc hay đói khát vì họ biết cách tự thể nhập mình thống nhất với sức mạnh thần thánh của vũ trụ. Nhiều người hành hương như thế đã không bao giờ trở lại quê hương mình; thế nhưng ai trở về, người đó đã là sự minh chứng lòng nhiệt thành cao nhất và niềm tin kiên định nhất. Họ trở về với ánh mắt long lanh, tâm hồn được làm giàu bằng một sự chứng thực mà suốt đời họ sẽ là nguồn năng lực và cảm khái, vì họ đã đối diện với cái vô cùng và đã tận mắt nhìn xứ sở của thánh thần. Ai đã từ đèo Gurla hìn thấy vùng Ngân Sơn - Manasavar, người đó biết nói như thế là không hề quá đáng”. “Giờ đây khách không cần ai bảo vệ, vì mình vừa là rồng, vừa là kẻ cưỡi rồng, là kẻ cúng tế vừa là vật tế lễ, là ma quái vừa là thượng đế. Và khi người hành hương cúi đầu cho trán đụng đất thiêng và ném vài viên đá vào nơi mà những người đi trước đã ném vào thành đống để nói lên lòng biết ơn và niềm vui mừng thì niềm mơ ước của mình nay đã thành sự thực. Khách nhắc lại trong tâm như lời cầu nguyện: “Mong sao tôi đừng quên phút giây này. Mong sao nó hiện diện mãi trong tôi”.
Lòng mộ đạo vô biên và đáng ngỡ ngàng và kính trọng ấy. Vẻ đẹp choáng ngợp của hồ xanh, núi tuyết mênh mang vĩnh cửu và nhiều nghìn đền đài tu viện cổ kính ấy. Lại còn cả nỗi ám ảnh hội chứng độ cao hãi hùng, thập tử nhất sinh kia. Với tất cả ngần vẻ đẹp, sự sợ hãi, niềm kính trọng ấy, liệu có ai dám ưỡn ngực hứa chắc là mình sẽ gặp lại Tây Tạng trong một ngày không xa? Tôi có anh bạn đã đi Tây Tạng đến lần thứ 13. Riêng tôi, nói giữa vùng đất chư thiên, với tất cả lòng ái mộ và xúc cảm dâng trào của mình, tôi không dám hẹn ngày tái ngộ. Bởi đó là chuyến hành hương tuyệt vời nhất nhưng có lẽ cũng khổ ải nhất. Vẻ đẹp và trải nghiệm thiên thần kia, hãy nâng niu và thờ phụng nó như “cái thủa ban đầu lưu luyến ấy”. Gặp lại lần sau, chắc gì ta đã còn là ta, mà chắc gì con đường sắt kỳ vĩ cao nhất thế giới xuyên từ mặt đất lên đỉnh trời Tây Tạng kia đã cho phép miền văn hóa tâm lịch sặc sỡ trên lưng trâu yak, trên đỉnh núi tuyết của Hy Mã Lạp Sơn, trên đỉnh hồ xanh Nam-sto kia còn là chính nó? Thôi, thế giới còn gần hơn 150 quốc gia vẫy gọi, mấy chục năm tuổi trời, cố mà đi thêm vài chặng đáng nhớ nữa, chả dám mơ gặp lại Tây Tạng đâu.
Xia, Monday, cô gái Tạng thiện chiến như một con báo lửa, đành lỡ hẹn kiếp này với em. Giữa đỉnh trời tuyết trắng, em vẫn hằng kiêu hãnh vén mây nhìn xuống những người sống cách em cả vạn cây số, sống sâu dưới mặt biển hơn em những 5.000m đúng không? Em vẫn thường mỉm cười ái ngại cho những kẻ ở ngang mực nước biển như chúng tôi, khi thấy ai cũng bị hội chứng độ cao luôn miệng kêu “tôi không ăn gì đâu, tôi chết mất” đúng không? Phải rồi, cái hội chứng ấy, người sinh ra, lớn lên ở tít trên “nóc nhà thế giới” như em chưa bao giờ gặp phải. Được, bây giờ anh sẽ mail cho Xia, nói rằng khi chia tay em, trong cái bao la và hữu hạn của trời/kiếp người, anh đã khóc như một đứa trẻ chớm bạc đầu ra sao. Tây Tạng, vừa gặp đã nghĩ rằng nếu chia tay thì sẽ nhớ lắm lắm. Tây Tạng, chưa chia tay đã biết rằng chỉ có thể tái ngộ trong kiếp sau.
Tây Tạng, Hà Nội ngày 5/1/2011.












