My Opera is closing 3rd of March

Viết lăng nhăng khi Tết về.



Xứ sở của lòng mộ đạo vô biên…
Ký của Đỗ Doãn Hoàng
Trong những chuyến đi dài ấy, những người bạn ở nơi xa xôi bao giờ cũng khiến tôi nhanh chóng cởi lòng cởi dạ. Tôi luôn nghĩ, có thể chỉ được gặp họ một lần duy nhất trong một kiếp người. Đó là chàng trai ở Luang Prabang ngày nào cũng dậy từ 3 giờ sáng để nấu cơm nếp và đủ loại thức ăn đem ra một góc phố dâng lên cho đoàn sư áo vàng cam đi chân đất khất thực. Đó là một người đàn ông Thái Lan, một chị phụ nữ Myanmar, một cô bé Tây Tạng diễm lệ; (có lẽ) từ lúc biết nghĩ về niềm tin tâm linh cho đến khi nhắm mắt rời dương gian; ngày nào cũng vậy, từ sáng đến đêm, họ luôn đăm đắm một lòng với đức Phật, với Đấng Thiêng Liêng mà họ tôn thờ. Như bố mẹ ông bà họ đã dâng hết nhựa sống của mình lên để tôn thờ, không cần tìm một lý do.
Tôi đã điếng đi, lặng đi, hình như còn cả rùng mình lạnh ngắt nữa, khi chứng kiến người Tây Tạng dành cả đời mình để đi được đến thánh địa Ngân Sơn, lên các hồ thiêng như Namsto, chùa Đại Chiêu, tu viện Potala. Họ thực hiện thứ nghi lễ khổ ải nhất hành tinh, ấy là cứ “tam bộ nhất bái” để “ngũ thể nhập địa” (đi ba bước chân thì vái trời, Phật một lần; một lần vái là năm phần thân thể - trán, ngực, bụng, chân, tay…- cùng chạm xuống đất đá, bùn nước, tuyết trắng). Họ cứ lết như thế, có người lết cả một đời, có người hết phận số trần gian của mình rồi mà chưa bao giờ đến được đất thiêng, bởi đói, rét, thậm chí cả tai nạn, cướp bóc dọc đường đã lấy đi mạng sống của họ. Lịch sử Tây Tạng đã ghi lại, có vị thánh sư đã vừa đi vừa nằm sấp xuống vái liên tục như con sâu đo như vậy, vượt qua 2.500km đường đèo dốc lởm chởm, những đỉnh tuyết sơn vĩnh cửu trên nóc nhà thế giới… để đến được “thánh địa”.
Có người bạn Tây Tạng đã ý tứ hỏi tôi rằng, ở Việt Nam, anh theo tôn giáo nào. Dẫu trong bản khai lý lịch tôi vẫn nhiều lần viết: “Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Trình độ: Cử nhân”, nhưng nhìn tấm da cừu còn nguyên lông lá đã mòn vẹt mà anh bạn đang đeo trước ngực để liên tục mài thân mình xuống các đỉnh đèo tuyết phủ trắng xóa dọc đường hành hương, tôi buộc phải “nói giảm nói tránh”: tôi theo tín ngưỡng thờ tổ tiên. Mỗi tháng, vào ngày mùng một và rằm âm lịch, tôi đều thắp nhang trước ban thờ ông bà ông vải, rồi vái cả chư vị thần linh cai quản khu đất, khu nhà, cũng như sự bình an của gia đình tôi. Tôi có niềm tin vào các vị thánh thần, bất kể đó là chúa Giê Su, Thánh Ala hay Đức Phật... Song đó là niềm tin của một người biết “kính nhi viễn chi”, tôi trân trọng, nghiêm cẩn, thành kính trước tất cả những gì thuộc về các tôn giáo ở các miền đất mình đã đi qua. Nhưng tôi đã không làm được như những người bạn xa xôi tôi từng gặp kia. Lòng mộ đạo của họ tôi đã hơn một lần chứng thực rồi xúc động bái phục! Khi tôi bảo người bạn xứ Tạng, rằng: tôi theo tín ngưỡng thờ tổ tiên, anh ta bảo: chúng tôi cũng thờ những đấng sinh thành ra mình. Thảng hoặc có vài cộng đồng người ta quan niệm không cần nhớ phần mồ mả cha mẹ ông bà mình, cũng không lập bàn thờ và trưng bày di ảnh. Có tộc người thì đem xác phàm của người quá cố phanh nhỏ, thả xuống sông (thủy táng); hoặc băm thành muôn mảnh nhờ chim kền kền nuốt chửng bay lên bầu trời (gọi là thiên táng). Song, chẳng có ai là không thờ phụng trong lòng và không tưởng nhớ những đấng đã trực tiếp (bố mẹ đẻ) hoặc gián tiếp (ông bà hoặc bề trên nữa) đem mình từ cát bụi trở thành một Con người.
Nhân thế, đôi khi, tôi đã nghĩ mình có quá ít niềm tin tôn giáo, để chư vị ấy đứng ở tít cao xanh, xa thẳm giám sát, thúc giục, răn dạy mình trong mỗi đường đi nước bước giữa cuộc đời đầy cám dỗ và cạm bẫy. Tôi không nói mình nhất thiết phải theo một tôn giáo nào đó, bởi mỗi người có quyền lựa chọn và (như đã biết) chẳng ai có quyền cấm người khác theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Cũng chẳng khó khăn gì để trở thành một tín đồ mộ đạo. Cái mà những người bạn khiến tôi trăn trở hơn, ấy là: phải chăng, khi có một niềm tin đắm say, mãnh liệt vào một đấng tối cao chi phối tất cả, thì con người sẽ sống với nhau nhân ái hơn? Tất nhiên, hế giới đã chứng kiến không ít kẻ “tử vì đạo” mê muội, lầm lạc, đôi khi tàn độc khủng khiếp. Những vụ khủng bố đẫm máu nhất của lịch sử nhân loại, hình như đều có nguyên nhân từ cái gì đó giống như sự quá khích trong các kẻ cuồng tín. Biết vậy, tôi vẫn nghĩ, nếu có niềm tin thực sự vào Đức Phật kiểu như những người bạn xứ Lào, xứ Thái và xứ Tạng tôi sắp kể ra đây, thì thế giới sẽ tràn ngập tình yêu và lòng thương mến. Chuyện này tôi thấy đúng, thấy thấm thía, ít ra là qua những gì tôi đã tận tai, tận mắt, tận tâm can mà chứng thực.
Nhớ có một lần lang thang ở cố đô Luang Prabang (Lào). Bên dòng Mê Kông thơ mộng, những cây cổ thụ lá xanh non, thân cành đều phủ kín mượt các loại cây kí sinh quyến rũ. Dòng sông và những cái cây khổng lồ cứ êm đềm như bước ra từ trăm miền cổ tích. Mấy chục ngôi cổ tự đổ bóng thâm nghiêm bên thành phố cổ kính được vinh danh là “nơi bảo tồn tốt nhất Đông Nam Á”. Thành phố phát triển dọc hai bờ sông Mê Kông và Nậm U. Cả nước Lào, thanh niên cứ đến tuổi là được đưa vào chùa sống, học và tu tập. Họ tự nguyện gửi mình nơi cửa Phật với lòng thành kính vô biên. Giống như ở ta, thanh niên đến tuổi đi nghĩa vụ quân sự, thì ở bạn, dăm bảy tuổi đầu, các cậu bé nhất tề làm “chú tiểu” một thời gian. Ai ưa cảnh Phật thì ăn đời ở kiếp với chùa. Còn lại, các cháu cứ về nhà, đi học, lấy vợ đẻ con như thường. Người ta bảo, cả nước Lào mỗi người dân là một tín đồ của Phật, nơi này ít tội phạm, nơi này nề nếp dịu dàng được như thế là nhờ Phật. Nhưng, phải chứng kiến một lễ khất thực ở Luang Prabang - kinh đô nghìn tuổi của đất nước Triệu Voi, thì bạn mới hiểu thế nào là lòng mộ đạo của người dân nơi này.
Sáng sớm, khi màn sương còn ùa ập từ bờ Nậm U, vượt qua 40 ngôi cổ tự thâm u sang với bờ hữu sông Mê Kông rộng lớn, ông chủ khách sạn già nua có bộ ria bạc rất tay chơi đã gõ cửa phòng thúc tôi trở dậy. “Biết bao giờ con mới trở lại Luang Prabang, ra mà xem người Lào khất thực. Người Lào mộ đạo nhất thế giới!”. Ông chăm sóc chúng tôi đến tận nửa đêm, không chỉ vì dịch vụ du lịch, mà tôi đã hiểu, trước khi ông vỗ vai tôi gọi tôi là “con trai”, rồi ông nói say sưa về lẽ sống tử tế ở cuộc đời vừa dài vừa ngắn này. Tử tế bao giờ cũng cho con rất nhiều. Đường phố lặng ngắt, trời hửng đến đâu, tôi thấy người mộ đạo lặng lẽ đến các gốc cây, hè phố, các ngã ba đường ngồi ne nép đến đó. Dường như họ âm thầm dàn trận thế cho một kế hoạch tuyệt mật nào đó. Họ đi chân trần, có người mặc áo vàng cam như nhà sư. Có cô gái quàng khăn trắng như lọn mây bông trước cổ, áo trắng chẽn ngang hông, cô khép hai đùi, quặt chân trần sang một bên, cô ngồi lên chính hai bàn chân đang úp xuống mặt đất đẫm sương sớm của mình. Tay cô cầm giỏ xôi và thức ăn. Họ chỉ mỉm cười, rồi gật đầu chào chúng tôi. Họ không biết nói tiếng Anh, tôi không biết nói tiếng Lào. Ngôn ngữ chúng tôi nói với nhau ngọt lịm. Nhà họ ở cái cù lao nằm ở ngã ba sông Nậm U và sông Mê Kông. Từ trên bờ Mê Kông nhìn xuống chỉ thấy những ngôi nhà tranh, làng mạc xanh um, bóng dừa phủ kín mít. Hằng chiều đám trẻ tập tu mặc áo cà sa vàng rời các ngôi chùa cổ, xuống bến sông, cởi dây chạc buộc thuyền, chúng khua mái chèo lặng lẽ trở về làng. Bóng cà sa vàng vàng rực một sông Mê Kông, nơi vẫn được văn sách xưa nay gọi là “Dòng sông Phật giáo”.
Chợt có tiếng lật phật, như tiếng hân hoan dè dặt của những con chim non đập cánh mới ra giàng. Lật phật nhè nhẹ. Xa xa, loạt xoạt những bước chân trần của các nhà sư mặc áo vàng cam. Có đến mấy trăm nhà sư đi vàng các góc phố. Lúc này mặt trời đã nhè nhẹ nhô lên. Họ đi qua các gốc cổ thụ, các cổng chùa quét vôi hoặc vàng nhạt hoặc trắng toát, tạo nên một cuộc phối màu sặc sỡ. Họ đeo những cái giỏ đi khất thực, quai đeo vòng qua vai, giỏ để trước ngực. Chân trần đi lón nhón. Suốt năm, dù mưa dù nắng, ngày nào nghi lễ khất thực cũng diễn ra. Các nhà sư áo rộng buông chùng cứ lật phật theo mỗi bước chân. Tôi đã chứng kiến nhiều nhà sư dùng điện thoại di động, lái xe hơi sang trọng. Họ không coi việc tu tập, thiền định là việc làm giàu. Nhưng họ cũng chưa bao giờ thiếu ăn. Có lẽ, việc sáng nào họ cũng đi vòng quanh thành phố để khất thực là một nghi lễ, là một cách để họ và bà con cùng thể hiện lòng sùng kính Đức Phật, hơn là việc họ đi xin xôi, xin thức ăn về dùng bữa. Một bà lão dẫn theo cả chồng và đàn con ra vỉa hè ngồi dâng xôi và thức ăn cho nhà chùa bảo: Ngày bà đi làm, đi chợ mua đồ về, nửa đêm đã nấu nướng, sáng ra dâng “thức ăn” cho các vị sư. Không phút giây nào bà không nghĩ và làm việc vì các nhà sư, các ngôi chùa và đức Phật. Nhiều bức tượng mình vàng ở Myanmar và Tây Tạng, hàng trăm và cả nghìn năm qua, tượng cứ liên tục to ra, óng ánh hơn theo đúng nghĩa đen. Bởi Phật tử vẫn hằng mua vàng lá trực tiếp dát lên tượng. Với các Phật tử, làm như thế là lẽ sống, đó là hạnh phúc của họ và cả gia đình họ. Bà cụ dâng thức ăn ở Luang Prabang có cô con gái trẻ măng, cậu con trai cũng trẻ măng. Ở quê tôi, tuổi đó, các em thường vẫn tí toáy điện thoại di động, có khi chát chít trên mạng thâu đêm, đầu xanh đầu đỏ ai trông thấy cũng ngại. Ở Luang Prabang, các em theo mẹ đi dâng thức ăn cho người nhà Phật. Hết coóng (giỏ đựng xôi đan bằng tre) này, họ phóng xe máy về nhà lấy nồi xôi khác. Cả gia đình họ, cả thành phố của họ sống trong nghi lễ linh thiêng diễn ra hằng ngày! Họ thành tâm nghĩ và làm điều đó tự đáy lòng, không cần ai tán thưởng hay trả công, họ không khoe với ai, cũng chẳng giấu giếm ai. Đường về, họ tiếp tục “dâng” cơm, xôi, thức ăn cho những người ăn xin đang quỳ xuống, giơ dụng cụ chứa thức ăn ra, mắt nhìn chăm chắm xuống lòng bát hay lòng khay đang hy vọng có ai đó bố thí. Không xin xỏ hay kêu gào, níu kéo, họ quỳ một chỗ, im lặng tuyệt đối, thậm chí nép mình ở các gốc cây dọc phố. Dường như không khí khất thực linh thiêng, thành kính cũng khiến những “cái bang” xứ này nền nã hơn. Đặc biệt, người Lào có thói quen dâng cơm cho các cái cây. Họ coi cây trong vườn nhà, trong thành phố cũng có linh hồn, cũng là thành viên trong cộng đồng người. Và họ buộc dây vải đỏ rồi đặt những nắm cơm nhỏ lên các cành, hốc cây. Nhiều du khách đã ngộ nhận người Lào “bôi” cơm xôi lên cây để… nuôi chim là vì thế.
Đi xe ở Lào, ở miền Bắc Thái Lan, suốt cả tháng trời tôi không gặp một người lấn đường, lạng lách, hay bấm còi toe toe. Trong khi ở Hà Nội, hiếm có khi nào đi tới 300m mà tôi không phải đinh tai nhức óc kéo còi một lần, điều này khiến tôi rất xấu hổ. Nhưng suốt bao năm vẫn không biết làm cách nào để không phải “khủng bố màng nhĩ” người khác như vậy nữa. Bởi vì người Việt đã không làm được cái việc mà người Lào, người Thái ở miền Bắc đã làm. Ấy là cẩn trọng, tuân thủ để không bao giờ đi quá, đi trái phần đường mình được đi. Những ngày tự lái chiếc xe biển số Việt Nam, chạy với tốc độ 160km/h, xuyên các quốc gia để đến Tam Giác Vàng, giữa rừng hoang núi thẳm, đi nửa ngày không gặp xe đi ngược chiều, chúng tôi liên tục trắc nghiệm: thử xem chiếc xe mình sẽ gặp đầu tiên, rồi thứ hai trong ngày, nó có thấy đường quá vắng mà lấn vạch lấn làn hay vượt tốc độ không. Tôi không có lý do gì để bịa ra điều này. Xin thưa, câu trả lời là: Không. Không bấm còi bừa bãi, không bao giờ lấn làn, vượt tốc độ. Không bao giờ thấy xe sau nháy đèn hoặc xi nhan mà không nép vào rệ đường nhường nhịn. Có lần ở thủ đô Viêng Chăn, tôi theo thói quen mấy chục năm tham gia giao thông Việt Nam, trót bấm còi một tiếng. Thấy tất cả đoàn người xung quanh chĩa mắt về phía mình. Có người khó chịu, có người thương mến mỉa mai, có người cười cảm thông. Và tôi xấu hổ đến tận bây giờ. Còn cái hôm tìm tiệm cơm ở bờ sông Mê Kông giữa cố đô Luang Prabang nghìn tuổi. Sau khi đỗ xe, chiếm gần hết mặt tiền quán ăn. Gọi món không quá nhiều ớt cay (no spicy). Ăn thử, một chút, chúng tôi không sao nuốt nổi cái phần ớt bà con bỏ sẵn từ khi chế biến món ăn. Vả lại có mấy món đặc sản muốn thưởng thức của Lào thì quán đó lại không bán. Thế là chúng tôi ăn nếm, xin phép trả tiền và đi quán khác. Bà chủ, ông chủ vui vẻ tiếp chuyện, không lấy tiền. Họ đưa đến tận quán khác có món đặc sản mà bạn phương xa muốn ăn. Cái xe ô tô cứ đỗ ở đó, quán chúng tôi sẽ trông coi cẩn thận. Từ hôm đó, đến tận khi viết những dòng này, tôi vẫn chưa hiểu tại sao có người tử tế thế. Tôi bèn gọi họ là người của lòng mộ đạo, Đức Phật đã cho họ niềm tin để tử tế cả một đời, tử tế từ trong trứng đến khi lìa đời. Tôi nói ngay lúc đó và đến giờ tôi vẫn muốn nói: ở Việt Nam, các chủ quán cơm hầu hết đều chua ngoa. Tôi chưa gặp một người nào ở thành phố nào trên đất Việt, để khi tôi đỗ xe ở quán của họ, thậm chí trước nhà của họ mà họ lại không đuổi như đuổi tà. Dẫu có người, nhà họ chẳng kinh doanh mặt tiền gì cả. Dường như họ cho mình cái quyền được đuổi, đuổi trong hoàn cảnh đó là người được tiếng hiểu biết, oai oách hoặc yêu công lý (?). Càng ngẫm nỗi chua xót càng dậy lên.
Lại nhớ chuyện Tây Tạng. Tôi đã thẫn thờ nhìn anh bạn mới quen, khi anh tách khỏi đoàn người kìn kìn đi bộ suốt ngày đêm quanh tu viện cao nhất thế giới để cầu nguyện liên tục. Tu viện Potala, di sản văn hóa của nhân loại, nơi có tới 1.000 phòng và cao tới 137 tầng, nơi được xem là linh thiêng nhất nóc nhà thế giới. Họ cứ đi xuyên ngày xuyên đêm, cứ ngưỡng vọng lên các vị thần linh, bất chấp mình ăn mặc thế nào, đói khát thế nào, bất chấp ống kính soi mói của những du khách như tôi. Niềm tin mãnh liệt khiến họ thấy cái gì ngoài niềm tin kia cũng nhỏ bé và… nực cười. Anh bạn người Tạng mới quen của tôi dừng lại. Anh đến từ Segatse, cách Potala gần 300km, qua những đỉnh đèo cao nhất thế giới, nơi triệu triệu năm qua và đến tận bây giờ lúc nào cũng trắng xóa tuyết. Vì chặng dài và nhiều năm ngũ thể nhập địa nên trán anh vồng lên, u bướu và xám xịt với các vệt sẹo, vệt chai sần đen thẫm, quần áo anh rách bươm tơ tướp. Như những người khác, bụng anh chàng ấp một tấm da cừu, da ngựa còn cả lông lá đã sờn rách vì mài xuống núi, xuống gạch đá dọc đường đi không biết bao nhiêu lần. Hai tay họ có khi được “đơn giản hóa thủ tục” ngũ thể nhập địa một chút bằng cách đeo hai cái guốc mộc có quai da để khi “nhập” đánh cộp một cái đủ “ngũ thể” xuống đất thì hai bàn tay là nơi chịu lực chính nó sẽ không chảy máu. Cả xứ sở Tây Tạng, từ bờ hồ, ven đường quốc lộ, dọc các đỉnh đèo cao nhất quả đất, nơi nào cũng tràn ngập đồ tín ngưỡng, có khi là cờ phướn xanh đỏ bạt ngàn, ở đó chứa triệu triệu câu mật chú người ta muốn nhờ gió kiêu hãnh mang lên trời xanh. Có khi đó là da lừa, da ngựa, lông thú, đầu xương sọ súc vật được trưng bày để cầu nguyện. Có khi là các gò đá xếp cao chất ngất (gọi là manidoi) (Ấy là chưa kể tới 1.600 tu viện và chùa chiền) Nơi nào cũng có tượng Phật, có các chuyển luân chung quay đều, quay từ tu viện, chùa chiền, đến mỗi người hành hương đều liên tục quay một chuông chuyển kinh vù vù trên tay.
Khó có ai đến đây mà không phải sửng sốt trước lòng mộ đạo vô biên của người Tạng. Nhiều người còn giật mình tỉnh ngộ khi thấy mình quá vô đạo và bao năm tuổi đời đã qua, mình đã hành xử quá xôi thịt. Sử sách còn chép rõ, vị Thánh tăng Hư Vân (1840-1959) đã thực hiện chuyến hành hương về thánh địa theo quy cách Tam bộ nhất bái rồi ngũ thể nhập địa từ Phổ Đà Sơn về Ngũ Hành Sơn, với chiều dài 2.500km, kéo suốt nhiều năm trời. Xin hãy đọc lại những gì mà cuốn “Con đường mây trắng” (của tác giả Anagarika Govinda, người Đức, một người đã bỏ nhiều năm nghiên cứu và tập tu với các đạo sư nổi tiếng ở Tây Tạng) đã diễn tả lại. Bản dịch của Nguyễn Tường Bách (NXB Trẻ năm 2009) viết: Người hành hương đến núi Ngân Sơn, giữa đỉnh trời mây và tuyết trắng linh thiêng bậc nhất Tây Tạng. Và, “(…) họ lên đường mà không có gì bảo vệ chống lại mưa gió và không ngại cả chết đói hay chết cóng, những người đó đáng cho ta khâm phục. Họ không ngại sống chết, cướp bóc hay đói khát vì họ biết cách tự thể nhập mình thống nhất với sức mạnh thần thánh của vũ trụ. Nhiều người hành hương như thế đã không bao giờ trở lại quê hương mình; thế nhưng ai trở về, người đó đã là sự minh chứng lòng nhiệt thành cao nhất và niềm tin kiên định nhất. Họ trở về với ánh mắt long lanh, tâm hồn được làm giàu bằng một sự chứng thực mà suốt đời họ sẽ là nguồn năng lực và cảm khái, vì họ đã đối diện với cái vô cùng và đã tận mắt nhìn xứ sở của thánh thần”. “Giờ đây khách không cần ai bảo vệ, vì mình vừa là rồng, vừa là kẻ cưỡi rồng, là kẻ cúng tế vừa là vật tế lễ, là ma quái vừa là thượng đế. Và khi người hành hương cúi đầu cho trán đụng đất thiêng và ném vài viên đá vào nơi mà những người đi trước đã ném vào thành đống để nói lên lòng biết ơn và niềm vui mừng thì niềm mơ ước của mình nay đã thành sự thực. Khách nhắc lại trong tâm như lời cầu nguyện: “Mong sao tôi đừng quên phút giây này. Mong sao nó hiện diện mãi trong tôi”.
Trước niềm tin cháy bỏng, lòng mộ đạo vô biên đó, đúng là mắt người hành hương đã long lanh, họ đã có nguồn năng lực và cảm khái vĩ đại vì được tận mắt nhìn thấy cái vô vùng, đã đến được xứ sở của thánh thần. Cái chết với họ cũng không còn đáng sợ nữa. Giữa cái vô cùng, giữa không gian linh thiêng và niềm tin thần thánh đó, họ sống bằng niềm tin vào một đấng quyền năng nhiệm màu chi phối toàn bộ cõi sống, cả quá khứ hiện tại và tương lai của họ. Ở họ, không có lời nói dối, không có việc làm vô đạo. Và, họ nói với tôi, rằng: cái việc niềm tin thánh thiện vào quyền lực vô song của Đấng Tối Cao kia đã là cái lý do để người ta luôn luôn sống đẹp. Dù chết vẫn sống đẹp. Tôi nghĩ, với họ và với nhiều người, sống đẹp cũng đã là một tôn giáo. Nói khác đi, từ niềm tin tôn giáo đến một lối sống đẹp và nhân ái như đã viết ở trên, là một con đường đáng để suy ngẫm và cảm khái nhất. Giá mà ai cũng có một Đức Phật trong tâm. Giá mà lòng mộ đạo kia cứu rỗi được nhiều phận người khỏi tham sân si hơn.
(Viết đến đây, tự dưng tôi nhớ đến một số người sống vô vị dẵm lên người khác đế sống mà tôi có quen biết, vì công việc nên đôi lúc có giao du. Ví dụ như một anh cán bộ phòng quản lý nhà đất cấp quận. Từ ngày làm viên chức đến khi gần về hưu, “sáng cắp ô đi, tối cắp về”, anh ta chỉ làm một việc và nghĩ hầu như chỉ một điều. Đó là xét duyệt hồ sơ nhà đất, rồi nghĩ xem phải “ăn” bao nhiêu tiền vụ này, ăn bằng cách nào cho kín kẽ, nói bóng gió hay dùng quy định “hành là chính” thế nào để họ hiểu và “nôn” tiền, quà ra. Có lần tôi bảo, đất và nhà của người ta, người ta làm hồ sơ để nhà nước cấp giấy chứng nhận nhằm phục vụ việc nhà nước quản lý cái đất đó. Anh là công bộc của dân, nhà nước giao cho anh thực thi công việc này. Lẽ ra anh phải cảm ơn, tưởng thưởng cho người có ý thức giúp cơ quan công quyền làm “chứng chỉ” để quản lý họ được quy củ và dễ dàng hơn chứ. Anh ta cười nhạt: việc dễ mà không làm cho nó khó, thì làm gì có thị chó mà ăn! Anh ta liên tục nghĩ đến tiền, từ tiền đút lót, đến tiền bôi trơn, dù cả anh ta và người đem tiền đến chẳng ai nói thẳng ra điều đó. Mà họ nói những cái khá cao siêu, vòng vo tam quốc. Khi có nhiều tiền rồi, anh ta mở quán kinh doanh karoke, nghĩ cách ăn chơi và lo lót hoặc nịnh người hoặc hại người để thăng tiến… Tự dưng, khi ở nóc nhà thế giới Tây Tạng, khi đằm mình trong không gian đầy những cái chắp tay và lời cảm ơn dịu dàng của những người suốt đời sống mộ đạo và tràn ngập lòng vị tha ở Thái, ở Lào, tôi hay nhớ đến anh bạn làm cán bộ nhà đất và nhiều người tương tự khác. Tôi không dám chắc ở nơi mệnh danh là “miền đất của những nụ cười” kia không còn tồn tại những gã như chàng quản lý nhà đất bạn tôi. Nhưng, tôi vẫn hằng ao ước, giá mà có chút Đạo trong người anh chị ta (và không ít người tương tự), giá mà có một ngày họ giác ngộ để thoát khỏi cơn mê đắm vật chất bằng con đường bỉ ổi để có thể đến với những xúc cảm, lý lẽ và niềm tin đáng ngưỡng vọng nhất của nhân gian này…).
Đ.D.H
Kèm chùm ảnh về lòng mộ đạo ở Luang Pra Băng, Thái Lan, Myanmar và Tây Tạng.





Ba Bể và câu chuyện rồng trắng hiện hình (?)Rắn già rắn lột/ người già người chui tọt vào săng.

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28