“Một cơn gió bụi vừa tan…”
Sunday, December 25, 2011 3:37:39 PM
Tết no ấm nhớ 2 triệu đồng bào chết đói năm 1945:
“Một cơn gió bụi vừa tan…”
Nước ta cơ bản không còn người bị đói rạc rày theo đúng nghĩa đen, trong cả ngày thường và ngày Tết. Chúng ta đã tự tin treo khẩu hiệu “Xóa đói giảm nghèo” ở khắp mọi nơi. (Mà dễ gì không xóa được đói cơm ở một cường quốc xuất khẩu gạo đứng ở tốp nhất nhì ba trên thế giới 7 tỷ người!) Và dường như guồng quay của cuộc sống ngày càng tăng tốc. Người ta đang dần ít có thời gian ngoái lại hay dành những giây phút cho cảm giác sống chậm để có thể bớt nông cạn và hồ đồ. Người ta bây giờ, ưa bàn đến chuyện giảm béo, chống các bệnh của nhà giàu hơn là lo cho sự gào réo của cái dạ dày. Giữa bối cảnh đó, có ai chợt chạnh lòng nhớ đến năm Ất Dậu 1945, trong bối cảnh lầm than thiên tai khắc nghiệt, rồi “một cổ hai tròng” của cú diều xâm lăng Đế quốc Pháp và Phát xít Nhật, nước ta đã có tới 2 triệu đồng bào bị chết đói. Một phần mười dân số Việt Nam đã chết vì đói, đói giơ xương, thóp đỉnh đầu, đói đến mức xếp hàng ra để chết, cướp xé nhau, cắn đứt cả tình ruột rà máu mủ để được…ăn. Trong ngàn vạn cái chết trên thế gian này, người ta bảo, chết dần vì đói là cái chết đáng sợ nhất. Người ta có thể biến thành quỷ trước khi chết. Mà lại chết tới 2 triệu người chỉ trong thời gian ngắn, chết cả làng cả xã, cả tổng cả huyện; có khi cả nhà, cả họ hàng hang hốc “xóa sổ” vì đói.
Từ những tác phẩm bất hủ của nghệ sỹ Võ An Ninh và GS Vũ Khiêu
Có hai nghệ sỹ, trí thức, kẻ sỹ lớn của dân tộc ta được biết đến rất nhiều với các tác phẩm lừng lẫy liên quan đến…vụ chết đói năm 1945. Đó là GS Vũ Khiêu và nghệ sỹ nhiếp ảnh Võ An Ninh. Họ đã sống sót qua những ngày thảm họa tồi tệ bậc nhất lịch sử Việt Nam và họ đều sống rất thọ.
Người thứ nhất là nghệ sỹ nhiếp ảnh Võ An Ninh. Nếu ai đó từng hoài nghi và có cảm giác về cái phù phiếm của không ít người chơi ảnh èo uột và màu mè hiện nay thì chúng ta nên nhắc họ: hãy thay đổi cách nhìn về giá trị lớn lao của nhiếp ảnh bằng cách xem các tấm hình Võ An Ninh chụp chết đói năm 1945. Không ai đặt hàng, chỉ sững sờ và đau buốt trước thảm họa của dân tộc, chàng trai trẻ Võ An Ninh đã bí mật xách máy làm bộ ảnh trác tuyệt và thống thiết ấy. Ông giấu rất kỹ chiếc máy ảnh cũ, vì quân đội Nhật trông thấy là nó “bòm” hoặc đánh chết ngay. Mỗi ngày ông phải thay một bộ quần áo vì mùi tử khí, vì tiếp xúc với hàng trăm thây người và những “bóng ma đói khát” vơ vào mồm bất cứ cái gì mà họ nghi ngờ là có thể ăn được để sống làm người. Có người bị đưa lên xe cải tiến đi chôn tập thể, vẫn ngóc đầu dậy tôi chưa chết đâu.
Cố Tổng Bí thư Trường Chinh từng đánh giá bộ ảnh này của Võ An Ninh là “tài sản vô giá của loài người”. Đây, những cháu nhỏ gầy giơ xương, mắt sâu hoăm hoắm. Những đống thi thể người chồng chất không ai kịp đem chôn. Đây, người đàn bà rách rưới với đôi mắt kinh hoàng đang cầm một con chuột lên ăn. Kia là cả “núi” xương người, trong khi những chiếc xe cải tiến vẫn ọt ẹt chở cả đống thây người đi chôn rấp tạm bợ đâu đó, người kéo xe có khi cũng gầy đen như quỷ đói và sắp phải vùi xác trong những hố chôn người tập thể kinh dị nhất. Viện Sử học và chuyên gia nước ngoài, sau này đã kỳ công điều tra, công bố về con số 2 triệu người chết đói với cả kho tư liệu khổng lồ và chi tiết. Nhưng đúng là không có bút mực nào diễn tả được nhiều điều như các bức ảnh. Những bức ảnh có thể làm thay đổi nhận thức của người ta về lịch sử, về giá trị đích thực nhất của…nhiếp ảnh.
Người thứ hai mà khi nhắc đến nạn đói năm Ất Dậu không ai có thể quên, đó là GS Vũ Khiêu. Bấy giờ, dịch bệnh, mất mùa, vỡ đê, mưa gió não nùng càng như xúc tác khiến cho cái đói vì chính sách tàn độc của xâm lăng như được “chắp cánh”. Năm 1945, ở tuổi hai mươi chín, chứng kiến những hãi hùng của nạn chết đói hủy diệt nhiều xóm làng, nhiều vùng quê rộng lớn ở miền Bắc, ông đã thảng thốt viết một bài “Truy điệu những lương dân chết đói”, mở đầu như sau:
“Một cơn gió bụi vừa tan
Hai triệu sinh linh đã mất
Khí oan tối cả mây trời
Thây lạnh phơi đầy cỏ đất”.
Tác phẩm bi tráng của GS Vũ Khiêu, giờ được khắc vào bia đá dựng tại khu tưởng niệm những nạn nhân chết đói năm 1945, trong con ngõ nhỏ bé và khuất nẻo đến tội nghiệp ở giữa lòng Hà Nội sầm uất thời mới. Ông Vũ Khiêu dường như đã khóc, đã chua cay quá chừng khi viết những lời lẽ này nữa:
“Có những quán: hàng bao xác lạnh,
bỏ ruồi bâu bọ khoét chửa ai khiêng.
Có nhiều nơi: một nắm xương khô,
từng nắng giãi mưa dầu không kẻ nhặt.
Mỗi người manh chiếu bó bó chôn chôn.
Từng đống trên xe chồng chồng, chất chất.
Ôi nói ra những toát mồ hôi
Mà nghĩ lại thêm tràn nước mắt!”.
“Dây thân ái cũng nghiến răng dứt đứt”
Tiếng là chết 1/10 trong tổng số 20 triệu người dân Việt Nam bấy giờ, nhưng chết đói không diễn ra ở khu vực từ Quảng Trị hắt vào phía Nam (tức là khoảng 1 nửa số tỉnh thành bấy giờ). Thế nên, từ chết mang tên đói khát lùng sục khắp hang cùng ngõ hẻm Bắc Bộ, với mật độ người chết dày gấp đôi tỷ lệ 10% kể trên. Đói đến mức bà con phải chế biến đất mà ăn để đánh lừa dạ dày, phải nhặt phân ngựa của lính Nhật về đãi lấy những hạt ngô chưa kịp tiêu hóa mà ăn. Ăn hết rau cỏ, cây có chất rau kể cả củ ráy ở ngoài đường, ngoài đồng; bà con ăn nốt mùn cưa, rơm rạ và bắt cả gián cả chuột mà ăn. Thậm chí có văn bản đã công bố rộng rãi, nói rõ về đoàn người chạy đói kéo dài bất tận lên Hà Nội, chợt có người thành phố ghê tởm nôn ọe trước các tử thi, một hình nhân đói rạc xông ra bốc bãi nôn mà ăn…
Tài liệu của Viện Sử học Việt Nam chép rõ: ở xã Tây Lương (huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình), có xóm Bối Xuyên chỉ 51 hộ thì 40 hộ có người chết đói, 18 gia đình chết không còn một ai. Dòng họ Tô và họ Lại ở Bối Xuyên hết sạch người. Có xóm như xóm Trại cùng xã bị xóa sổ, vì 82 nhân khẩu chết không còn một ai. Cùng ở Thái Bình, nhiều nơi người lớn chết hết, trẻ con sống sót bị chó đói kéo vào ăn thịt hết sạch. Ở Thanh Hóa, nhiều khu vực chết đói lắm quá, cả gia đình cùng chết, bà con chỉ biết kéo sập các khu nhà để vùi lấp luôn. Sau này khai quật, nhiều bộ xương vẫn có dây thép buộc quanh cổ, bởi năm 1945, không còn chiếu để mà bó thây, tuần đinh cứ buộc dây thép vào kéo xác quẳng đi cho gọn. Nhiều hào phú đầy nhà của nả, nhưng có tiền mà không có gì ăn, lương thực rau cỏ cạn kiệt khắp nơi, ông ta mặc áo the khăn xếp ra gốc cây phi lao nằm chết cùng đông đảo người làng. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình ghi rõ: năm 1945, địa phương bị chết đói mất 25% dân số (!), riêng xã Tây Ninh ở Tiền Hải, 171 gia đình chết không còn một ai.
Đói, đôi khi người ta không còn là con người nữa. Đã có chuyện được đăng báo, được Viện Sử học sưu tầm với tên tuổi hẳn hoi: bố ném con trai 4 tuổi xuống sông vì đói. Con bóp cổ bố đến chết để dành ăn nồi cơm một mình. Thảm cảnh máu mủ tình thâm bị cái đói nuốt chửng này, cũng được GS Vũ Khiêu tế trong áng văn bi thảm bất hủ đã dẫn:
“Ngẫm thủa trước, cảnh nghèo cũng lắm,
chữ cương thường còn giữ dạ đinh ninh.
Mà ngày nay nỗi khổ không cùng,
dây thân ái cũng nghiến răng dứt đứt.
Mẫu tử tình thâm,
ôi một mái tơ xanh nào đã tội,
bỏ u ơ cuối chợ đầu đường.
Phu thê nghĩa nặng,
hẹn trăm năm đầu bạc cũng sai lời”.
Đói sinh ra cướp bóc, giết chóc nhau. Nhiều người tìm cái ăn bị Phát xít Nhật mổ bụng, chém chết mà chúng chán không cần…ngoái nhìn. Vì sợ cướp, nhiều cửa hiệu ở Hà Nội bấy giờ phải trưng bày bánh bằng…đất, ai chắc mua, đưa tiền rõ ràng thì mới mang bánh thật ra trao. Nhiều nhân chứng kể rõ: có khi sáng ra, mở cửa nhà, họ thấy vài xác chết đổ ập về phía mình. Các sử gia có sưu tầm và lưu giữ được một bức thư của Vespy (người nước ngoài) viết tháng 4 - 1945, diễn tả lại những gì mắt thấy tai nghe xung quanh dòng người kéo về Hà Nội hy vọng kiếm cái ăn độ đói ấy: “Họ đi thành rặng dài bất tuyệt, người nào người ấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc giơ xương, ngay cả những thiếu nữ đến tuổi dậy thì đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế. Thỉnh thoảng họ dừng lại vuốt mắt cho một người trong bọn đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột một miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng để che thân người đó. Nhìn những hình người xấu hơn con vật xấu nhất, nhìn thấy những xác chết nằm co quắp cạnh đường chỉ có vài nhành rơm vừa làm quần áo vừa làm vải liệm, người ta thật lấy làm xấu hổ cho cái kiếp con người”.
Cũng cần phải viết “văn tế” sự vô tình của chúng ta!
Tính đến xuân con Rồng 2012 này là đã 67 năm trôi qua kể từ khi nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu 1945 hành hoành khiến 2 triệu đồng bào ta thiệt mạng. Thời gian đủ dài để đứa bé sơ sinh sống sót năm ấy đã bạc phơ mái đầu, đã lên ông lên bà được gần hai chục năm. Đi dọc miền Bắc Việt Nam trù phú, san sát phố sá nhà cửa, rồi nhà cao tầng và siêu thị hôm nay, không dễ gì các sử gia (chứ đừng nói người dân, người trẻ) hình dung được mức độ thảm họa tiêu diệt 10% dân số nước nhà năm xưa. Đúng như ước nguyện của chàng trai trẻ Vũ Khiêu đầy khí phách đã viết năm 1945: “Hận kia rồi trả phân minh/ Oan thác nọ sẽ đền chu tất/ Cho ai chín suối ngậm cười/ Để khách năm châu tỏ mặt”. Cách mạng Tháng Tám đã nổ ra, lật thốc bỏ mọi đau thương đói khát. Nếu nhìn thấy sự sung túc về vật chất thế hệ tiếp nối hôm nay, chắc 2 triệu đồng bào xấu số kia cũng ngậm cười nơi chín suối.
Vui thì vui vậy, ngẫm mới thấy xót xa cho việc người sống ứng xử sao cho nhân văn và tử tế với câu chuyện không thể nào quên của lịch sử. Những khu mộ tập thể, những kho xương bạt ngàn đau đớn của các nạn nhân dường như rải kín một góc khổng lồ của Hà Nội (và nhiều tỉnh thành). Năm 1951, tức là 6 năm sau sự kiện động trời hồi Ất Dậu, người Hà Nội đã bước đầu quy tập các kho xương, núi xương cốt vào, dựng tấm bia với dòng chữ đắp nổi: “Nơi an giấc ngàn năm của đồng bào chết vì oanh tạc và nạn đói 1944-1945” ở địa chỉ ngách 86, ngõ 559, đường Kim Ngưu (Quận Hoàng Mai, Hà Nội) hiện nay.
Nhưng rồi ruộng vườn và những cam khó của người sống cứ tràn lấn dần. Họ có khi bới mấy chục bộ hài cốt quẳng đi để đào một móng nhà. Nhiều nhà đào được tới 50 cái tiểu và bia mộ mang vứt đi để lấy không gian sống. Hầu hết họ xuất thân khốn khó, nếu không đuổi “ma” đi mà liều sống trên kho hài cốt, núi tiểu sành thì cũng chẳng còn biết làm sao nữa. Nhà sử học Dương Trung Quốc dường như đã gạt nước mắt, khi thống thiết kêu gọi: “Không lẽ chúng ta chấp nhận cơn sốt đất đai, công cuộc đô thị hóa Hà Nội và sự thờ ơ của chính chúng ta hủy hoại chứng tích cuối cùng của một sự kiện trọng đại trong lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, chúng ta hãy dành một nơi xứng đáng hơn tưởng nhớ đồng bào chết đói năm Ất Dậu để không ai bị lãng quên (…). Đó cũng là cách chúng ta đối xử công bằng với một quá khứ đau thương và những thế hệ sau không trách chúng ta là vô ơn, bạc nghĩa”.
Đúng là chúng ta đã quá bạc bẽo và chậm chạp. Bởi, dù rất nặng lòng với sự kiện, nhưng mãi 45 năm sau ngày bấm những tấm hình cực kỳ ám ảnh cho lịch sử dân tộc, nhà nhiếp anh Võ An Ninh mới có dịp cùng chuyên gia Nhật Bản và cộng sự trở lại nấm mồ tập thể lớn nhất Việt Nam ngay giữa lòng Hà Nội để làm một cái gì đó cho xứng tầm tưởng niệm. Viện Sử học cũng phải nửa thế kỷ sau mới kết thúc điều tra, chính thức hóa, số liệu hóa phần nào các ký ức kinh hoàng về nạn đói năm 1945. Khu tưởng niệm nhỏ bé được dựng vào tít mãi năm 2003, tức là gần 60 năm sau khi 2 triệu đồng bào ta nằm xuống vĩnh viễn. Bây giờ vào thăm, khu vực tưởng niệm nó bé đến thê thảm. Đường vào hun hút, một cái xe đạp và một cái xe máy tránh nhau còn chật vật. Người Hà Nội gốc tìm đến thắp nhang cho 2 triệu đồng bào xấu số của mình còn khó, chứ nói gì đến người ngoại tỉnh hay khách nước ngoài. Với chiếc máy ảnh đời (tương đối) mới, chúng tôi loay hoay mãi mà vẫn không thể bấm được kiểu ảnh toàn bộ phần bia và chút không gian của khu tưởng niệm. Rộng chừng trăm mét vuông với di vật và kiến trúc quá sơ sài, gồm: một tấm bia khắc bài văn tế người chết đói của GS Vũ Khiêu, một cái toen hoẻn gọi là bể xương, một vài bệ đặt bát nhang, một người trông coi tự nguyện vốn là cư dân có tâm nhà gần đó. Tất cả san sát, bé xíu. Thậm chí xấu xí. Khu tưởng niệm eo xèo này bị khuất lấp, băm vụn kiến trúc và tầm nhìn bởi các ngồi nhà to lớn lộn xộn xung quanh.
“Một cơn gió bụi vừa tan/ Hai triệu sinh linh đã mất/ Khí oan tối cả mây trời/ Thây lạnh phơi đầy cỏ đất”. Mỗi lần đọc những câu văn tế ngút trời sầu thảm này, tôi lại có mấy so sánh (nhắc lại): 32 tỉnh thành, chủ yếu từ Quảng Trị trở ra Bắc của nước ta hồi đó bị nạn đói gây chết người hàng loạt, xóa sổ nhiều gia đình, dòng họ, xóm làng. Tức là một nửa số tỉnh thành của ta bị “nạn”. Nạn này làm chết 10% dân số cả nước, thì tính ra, nội trong trong 32 tỉnh thành từ Quảng Trị đổ ra kia sẽ có những 20% dân số bị xóa sổ. Cho dễ hiểu hơn: cứ 5 người ở các tỉnh đó thì có 1 người phải chết vì đói năm Ất Dậu 1945.
Khi khu tưởng niệm các nạn nhân bom nguyên tử ở Hirosima được công nhận Di sản thế giới
So sánh tiếp: các “cảm tử quân tử” của Thánh Ala lao máy bay vào Tòa tháp đôi bên Mỹ giết chết khoảng 3.000 người. Đó là một hành động không thể chấp nhận được. Cả thế giới phải chấn động, thậm chí nhân sinh quan, thế giới quan của nhiều người phải vì thế mà…thay đổi. Và, với hoạt động tưởng niệm và tiêu diệt bọn khủng bố nhân thế mới rầm rộ chưa từng thấy. Người ta dâng hoa, đốt nến, viết sách, làm phim, tái dựng tòa nhà chọc trời, nhiều thước phim và bức ảnh hầu như cả địa cầu ai cũng biết. Ba nghìn người chết, ở góc độ nhân văn thì con người ai cũng như ai và không được phép đưa ra bất cứ so sánh nào; nhưng về số lượng thì 3.000 người tử nạn ở Tòa Tháp Đôi hồi 11/9 so với 2.000.000 người xấu số ở Nạn Chết Đói năm 1945 nó… quá ít ỏi.
Hay như thảm họa hạt nhân mà thế giới vĩnh viễn nhớ, vĩnh viễn tưởng niệm từng ly từng tý, từng chi tiết nhỏ nhất, từng hình thức công phu và nhân ái nhất tại Nhật Bản năm 1945. Số lượng người chết ở cả hai thành phố Nagasaki và Hirosima là khoảng 214.000 người. Vụ việc cũng xảy ra vào năm 1945, cùng thời điểm với nạn đói Ất Dậu ở nước ta, nhưng số người chết bằng khoảng 1/10. Vậy mà nước Nhật đã cho bao nhiêu thế hệ dân chúng của mình, rồi cả thế giới tưởng niệm xúc động ra sao. Người ta thành lập cả “Khu tưởng niệm Hòa Bình Hirosima” (còn gọi là “Vòm bom nguyên tử”) tại đúng nơi chịu hậu quả nặng nề nhất của quả bom tàn độc khiến cả thế giới lên án kia. Công trình thậm chí còn được vinh danh là Di sản thế giới. Nó được xem như là lời lên án đanh thép nhất với quả bom nguyên tử đầu tiên chống lại loài người. Nó là lời kêu gọi loài người tiến bộ hãy đuổi bom nguyên tử ra khỏi cuộc sống của mình. Tiếng chuông nguyện cầu cho sự siêu thoát của những người xấu số, cho hòa bình của thế giới vẫn hàng năm vẫn vang lên, triệu triệu con hạc giấy đã được gấp và trưng bày nơi đây, như cái cách để người đã chết tham gia “mở mắt” cho người đang sống hiểu thế nào là giá trị của hòa bình và sự sống, của lòng nhân ái và lương tri.
Trong no đủ hôm nay, bất giác nhớ đến nạn đói tiêu diệt 2 triệu đồng bào mình năm ấy, ngắm khu tưởng niệm nhỏ bé và đơn điệu nằm tủi hổ trong góc buồn của con ngõ ngoắt ngoéo kia, không ai có thể thoát khỏi cảm giác se thắt, bẽ bàng. Thấy xấu hổ, thấy có lỗi với sự thiệt thòi quá lớn của cha ông mình năm ấy. Chúng ta có thiếu đất nền, có thiếu bê tông cốt thép hay tri thức đến mức không xây được một khu tưởng niệm xứng tầm cho 2 triệu đồng bào đã chết vì đói khát kia không? Tôi nghĩ ai cũng biết rõ câu trả lời. Hãy để lịch sử lên tiếng. Khu tưởng niệm, các hình thức tưởng niệm, nó không chỉ là tâm linh, mà còn là văn hóa - lịch sử; không chỉ vì người đã khuất, mà nó còn vì cả người đang sống và người sẽ sống không chỉ trên mảnh đất này. Khu tưởng niệm ra đời, nó không chỉ thay thế cho khu tưởng niệm èo uột tạm bợ đã có, mà hơn thế nó còn mở lối cho chúng ta hiểu rằng: không một ai là vô danh cả, hãy công bằng với lịch sử; và những người nằm xuống vẫn tham dự một cách duy vật vào cuộc sống có tri thức có văn hóa của tất cả chúng ta. Khu tưởng niệm bao giờ chúng cũng có sức mạnh riêng của mình.
Het.












