Ông Tây mà lấy bà đầm/ thấy hàng kẹo kéo chạy ầm ra mua!
Tuesday, December 27, 2011 1:12:30 PM
Nhà sử học Lê Văn Lan:
Ký ức “độc bản” về vẻ đẹp đã tàn phai của những cái Tết Hà Nội
Thời xưa tấm lòng người ta thong thả hơn bây giờ
Nhà sử học Lê Văn Lan: Tết đến bao giờ cũng rất vui, vui theo lối rất…Hà Nội. Có điều là Hà Nội thời ấy rất khác với Hà Nội bây giờ. Xưa, ngày Tết người ta chỉ tập trung vào chuyện nhà chứ không phải chuyện phố phường, lại càng không phải chuyện thành phố. Ngày ấy có một quan niệm rằng chỉ những kẻ vô công rồi nghề, “sống vô gia cư, chết vô địa táng” thì ngày Tết mới lang thang ngoài đường, còn những người có gia đình dứt khoát là ở nhà. (Bây giờ thì người ta cứ ào ào ra phố, khiến đường đi lối lại tắc tị kéo dài). Ngay cả những người đi làm ăn xa cũng phải đánh đường, “lặn ngòi ngoi nước” làm thế nào để về nhà.
Hồi tôi còn niên thiếu, Hà Nội đón Tết tuyệt đối không có chuyện cộng đồng, nhà nước đứng ra tổ chức Tết. Chuyện tràn cả ra ngoài đường phố như bây giờ lại càng không. Hồ Hoàn Kiếm ngày ấy, Tết đến vắng tanh như chùa bà Đanh. Tất cả mọi người phải về nhà, thậm chí đóng cửa lại, vẽ cung tên, rắc vôi bột trước cửa để trừ tàvà được bảo vệ. Vì ma quỷ thường vào bằng lối cửa chính. nên phải vẽ cung tên rắc vôi bột cho chúng sợ. Cửa đóng lại, từng gia đình với nhau cho đến thời điểm quan trọng nhất là 30 Tết.
Vẽ cung nỏ và mũi tên bằng vôi bột trước cửa đã không còn nữa. Ngay cả lễ cúng gia tiên, hình như bây giờ người ta cũng thay đổi, cũng quan niệm khác đi mất rồi?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Bây giờ người ta lại cúng gia tiên nhầm vào buổi tối. Thực ra nguyên tắc cúng gia tiên là vào buổi trưa để dôi ra một khoảng thời gian từ trưa đến tối để làm giờ thiêng, giờ lành, giờ yên tĩnh; lúc ấy mọi thứ mới lắng xuống được. Còn lễ cúng gia tiên vào buổi tối thì cận giao thừa quá, người ta không còn dư dả thời gian nữa. Thời xưa hình như thời gian dài hơn bây giờ. Và tấm lòng người người ta cũng thong thả thế, thành ra cỗ gia tiên là trưa 30 Tết.
Tết đến, gia đình nào cũng phải có mía tím ở hai bên bàn thờ (phải là mía tím chứ không được là mía xanh). Bởi mía có các đốt gợi hình ảnh những bậc thang. Thiên nhiên ở ta lại không cây nào có đốt rõ mà kích cỡ lại vừa vặn như vậy. Đốt tre, đốt trúc cao quá, xa quá, tổ tiên dùng thang đó dễ trượt chân, mỏi chân quá có thể ngã. Nhưng đốt mía thì vừa bước chân của các cụ. Cây mía tím vừa là dấu hiệu của việc tưởng nhớ cội nguồn (sự du nhập của cây mía), đồng thời phát triển thành bậc thang, để những bước chân tổ tiên phiêu giáng đâu đó thì về ngự ở ban thờ. Cụ về nhà phải là ở nơi dành cho cụ, đó là ban thờ chính điện. Nhà ba gian hay năm gian cũng phải là là bàn thờ gia tiên ở gian giữa, có linh vị, bài vị của cụ. . Ý nghĩa của cây mía tím vừa là về nguồn cội, vừa là thực dụng; trong cái thực dụng ấy lại có một chút ngây thơ là bậc thang ấy vừa bước chân các linh hồn. Hai cây mía bắc ở hai bên châu phần ngọn vào chính giữa ban thờ là cầu thang để các cụ lên bậc thang bên này và lần xuống bậc thang bên kia. Chỉ cây mía thôi nhưng lại mang những ý nghĩa rất kỹ lưỡng.
Thời thuộc Pháp, Tết Hà Nội vắng lắm!
Hà Nội ngày ông còn nhỏ là thời chúng ta còn là thuộc địa của Pháp, Tết, chắc khác xa bây giờ lắm lắm?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Thời thuộc Pháp người Hà Nội về quê ăn Tết đông lắm. Những người trụ lại như gia đình tôi, là vì không có quê nữa, đã thành thị dân mất rồi. Vẫn là ăn Tết theo kiểu nông thôn giữa phố xá xây kiểu Tây; gia đình tôi cũng cúng gia tiên, cũng có tất cả những món ăn như ở quê. Ở nông thôn chẳng giàu sang cũng no say ba ngày Tết, các cụ già, các bà phụ nữ thường có câu cửa miệng “Giờ còn để sống thì thôi/ rồi ra có lúc no xôi chán chè”, tội nghiệp như thế! Nhưng ở thành phố có cái khác là rủng rỉnh tiền hơn nên cỗ bàn, rồi đặc biệt là thú chơi cầu kỳ hơn.
Gia đình tôi đến giờ vẫn giữ được món ăn mà chỉ ngày Tết mới làm Đó là món bún Thang. , Dù cỗ ngày Tết có đủ các sự sang trọng nhưng không được chém to kho nhừ mà phải trang nhã, tinh tế. Bún Thang cũng vậy, muốn dễ nuốt là phải có “thang” (nước dùng). Và bí quyết nước dùng mới là cái đặc sắc để nhà này khác nhà kia, rồi thành món gia truyền. .
Gà luộc lên, bóc chỗ lườn có thịt nạc màu trắng ra rồi xé thành những sợi càng nhỏ càng tốt; sợi thịt gà ở chỗ lườn trắng làm thành một món có màu trắng trong bát bún Thang. Da gà để riêng làm thành một món gà có màu vàng. Xương để nấu nước dùng phải là xương gà, ngày ấy chưa có máy xay như bây giờ nên toàn bộ chỗ xương sau khi đã bóc thịt phải cho vào cối giã nhỏ rồi lấy chính nước luộc gà để lọc. Bỏ thêm vào nước dùng ít tôm, cầu kỳ hơn thì thêm món sá sùng (giun biển) nữa. . Khi đun lên sẽ có bọt, lại phải dùng muôi hớt thật kỹ lớp bọt ra để nước dùng trong vắt. Làm thế vừa có đủ vị ngọt, lại thanh. Ngày Tết người ta ngán mỡ rồi, ăn bánh chưng lại hay nghẹn nên phải thêm món bún Thang có nước dùng là vì thế.
Những trò chơi đã khuất bóng trong dịp Tết
Tết, giờ đây Hà Nội đón năm mới giống như tất cả các thành phố khác, thậm chí như các vùng nông thôn đang vươn lên tiến kịp phố phường. Xin được hỏi ông, xưa kia, no xôi chán chè rồi, người Hà Nội chơi gì trong dịp Tết?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Dưa hành và pháo thì giống tất cả các vùng nông thôn. Nhưng ở Hà Nội thời đó còn các trò trèo pháo, thưởng pháo, rồi cướp pháo của cánh múa sư tử Tết. . Trò chơi cũng cầu kỳ, cũng thử thách nhau. Tôi ở nhà cao tầng, tôi treo một tràng pháo thật cao, anh phải công kênh nhau lên, phải trồng người thế nào để đốt được bánh pháo cho tôi thì anh mới có thướng thướng chứ không phải thưởng như cách gọi bây giờ. Người múa sư tử đi thành từng đoàn, mỗi đoàn lại có cạnh tranh, có cả đánh nhau nữa. Đoàn sư tử này chơi ở mấy phố này thì đoàn sư tử khác không được đến nữa, vì họ trông cả năm mới được thu tiền thướng vào ngày Tết. Đô thị có chuyện kiếm tiền theo kiểu đó.
Tết còn phải kể đến những người đi hát nữa. Bấy giờ có những nhà hát cô đầu ở Khâm Thiên, phố Hàng Giấy có cả một dãy chạy từ chợ Đồng Xuân lên đến phố Hàng Đậu. Đây là trò chơi không dành cho thanh niên mà chỉ dành cho ông già, cho người trưởng thành. Các ông muốn đi hát cô đầu ngày Tết cũng phải trốn vợ cho kheo khéo: Ta đi chúc Tết đây, mẹ nó ở nhà trông nhà đón khách nhé.
Ở các nhà hát cô đầu có 2 loại: một là đào hát và một là đào rượu. Cùng là cô đầu (đào và đầu là một) nhưng các cô đào hát chỉ biết hát thôi. Rất nghiêm chỉnh, họ rèn luyện giọng hát, các khổ hát và điệu hát. Nhưng đông hơn đào hát là đào rượu. Họ là các cô đào rượu đến để hầu rượu những ông khách đến nghe hát. Cô đào đào hát hát nghiêm chỉnh từ lúc khách uống rượu cho đến tận lúc khách ra về sau khi đã rủ các cô đào rượu vào buồng trong…
Tết cũng là dịp để nam thanh nữ tú được “tháo khoán”
Phụ nữ Thăng Long Hà Nội thời trước ra đường du xuân chắc là nề nếp lắm?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Những năm bốn mấy tôi mới độ 7, 8 tuổi. Bà chị ruột tôi hễ đi chơi ở đâu là phải áo dài, giày muyn, tóc tai cẩn thận lắm. Rồi gọi anh xe từ nhà ngang lên chuẩn bị xe kéo để bà ấy đi chơi phố. Bao giờ bà cũng kèm theo thằng em trai là tôi để làm lính bảo vệ. Những công tử lúc ấy đã bắt đầu có xe đạp, đặc biệt là xe đạp “cuốc” (xe đua), các chàng kèm bên này kèm bên kia đuổi theo rồi ném thư vào trong thùng xe kéo. Chỉ đến mức ấy thôi nhưng bao giờ bà cũng để thằng cu là tôi trừng mắt nhìn đám thanh niên kia.
Còn ở nơi làng quê, chắc là nam nữ thanh niên sẽ vui vẻ hồn nhiên hơn, thậm chí cả “linh tinh tình phộc” như lễ hồi thờ âm vật và dương vật được mang ra trình diễn ở lễ hội tối cổ tại Tứ Xã, Phú Thọ nữa chứ?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Ví như cái trò bắt chạch. “Bỏ con bỏ cháu không được bỏ mồng Sáu hội Dưng”, các cụ đã thề đến mức ghê gớm thế kia mà. Khi làng Văn Trưng mở hội ngày mồng Sáu (tên gốc là làng Dưng, xã Tứ Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc), bao giờ cũng có trò quàng vai bắt chạch.
Một cái chum miệng nhỏ đổ đầy nước, thả vào một con chạch. Nam nữ thích nhau thì kết đôi lại. Trước sự chứng giám của thần linh, công khai đàng hoàng, họ quàng vai cùng nhau bắt chạch. Nhưng có phải quàng vai nhè nhẹ đâu, anh con trai thò cả tay sâu xuống…ngực người nữ. Với động tác quàng vai, anh được tự do làm động tác “kích dục”; trong khi mỗi người còn một tay kia thò vào bắt chạch, làm sao mà bắt được, thành ra “quàng, ôm” càng lâu càng tốt, càng kéo dài thời gian biểu diễn càng hay. Nhưng cuối cùng cũng phải bắt được con chạch để còn lấy thưởng.
Thật lòng, chúng tôi chưa từng có cơ hội nghe nói đến các nghi lễ phồn thực ở Thăng Long, Hà Nội xưa?
Nhà sử học Lê Văn Lan: “Văn hóa phồn thực” ở Hà Nội được làm thiêng hơn. Ví như làng Hồ Khẩu ở khu Bưởi cũng có trò quàng vai bắt chạch, nam và nữ cũng được kén chọn nhau, cũng mỗi người thò một tay vào chum nhưng anh không được quàng vai mà chỉ được nắm tay cô gái. Khi chấm giải, người ta còn kiểm tra cổ tay cô gái, tay anh mà để lại dấu đỏ là anh bị trừ điểm, thậm chí còn bị mắng. Đó là sự thanh nhã hóa của những trò chơi Tết.
Ông Tây mà lấy bà đầm/ thấy hàng kẹo kéo chạy ầm ra mua
Là một người sắc sảo lại hóm hỉnh, chàng công tử học đủ đàn hát, võ nghệ từ nhỏ như ông chắc có nhiều chi tiết ngộ nghĩnh lắm về những trải nghiệm Tết thời thơ bé?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Chắc chắn là thích nhất tiền mừng tuổi. Thích nữa là cái anh kẹo kéo, có một khối trắng trong bụng thôi mà kéo thế nào dài dằng dặc, rồi thành một cây kẹo nhỏ mà bao giờ cũng có lạc ở bên trong. Mỗi đồng xu Bảo Đại mua được một cái. Tôi đặc biệt thích thú khi anh kẹo kéo để tay thế nào mà bẻ đến “cấc” một cái, không cần đến động tác thứ hai. , tiếng kêu rất giòn nữa. Tiếng bẻ kẹo như thế chỉ cần trông thấy cái kéo của người bán là đã sướng rồi, lần nào cũng mong người ta bẻ nhầm để cho mình một khúc dài hơn mà chẳng bao giờ được.
-Xin chân thành cảm ơn nhà sử học Lê Văn Lan, chúc ông thêm một tuổi mới sức khỏe và niềm vui!












