Núi Chẹ
Tuesday, March 6, 2012 10:29:21 AM
Hòn Chẹ - lăn vào… bi đát!
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
http://laodong.com.vn/Tin-tuc/Hon-Che--lan-vao-bi-dat/77699
Núi Đá Chẹ là một thắng cảnh tuyệt đẹp của nước nhà. Được sách, truyện, truyền thuyết cổ xưa của dân tộc “vinh danh” từ trong Truyện Sơn Tinh - Thủy Tinh, rằng núi Chẹ khổng lồ (rộng vài km2) đã được ông Sơn Tinh đứng trên núi Ba Vì, ném ra giữa dòng sông Đà để giết muôn loài thủy quái, chặn nước dữ cứu dân lành, bảo vệ Ngọc Hoa Công Chúa. Tiếng của người Việt Mường cổ, Chẹ tức là chặn. Núi cao, sáo đá, dê núi rồi khỉ vượn leo chèo đông đúc. Cây cổ thụ trùm phủ chon von. Hang ngầm xuyên từ núi ra sông Đà. Các Đầm Tôm rộng bát ngát. Nhà nước ta, từ nửa thế kỷ trước và mãi gần đây nữa, đều có kế hoạch bảo tồn, phát huy giá trị của di sản địa chất, địa mạo, văn hóa và tâm linh này.
Tuy nhiên, đến giờ phút này thì Hòn Chẹ linh thiêng đã bị những phu đá lao khổ hè nhau ẩy vào… bi đát. Núi trơ khấc tật nguyền, các phận người chết bất toàn thây, người sống thì hoảng loạn.
Một thế giới bước ra từ cổ tích
Núi Đá Chẹ (thường gọi là Hòn Chẹ) nằm ở vị trí giáp ranh giữa xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, Hà Nội và một xã của tỉnh Hòa Bình Nó là một phần dường như không thể thiếu được của “thế trận” tự nhiên nhằm chống nước lũ “năm năm báo oán đời đời đánh ghen” cho dãy núi Ba Vì và cả vùng dân cư rộng lớn. Núi đứng soi mình xuống sông Đà, ở vùng đất giáp ranh giữa 3 tỉnh - thành là Hà Nội, Hòa Bình và Phú Thọ. Một không gian văn hóa Việt Mường và miền tâm linh sâu thẳm ở đây đã trở nên nổi tiếng. Tích cũ ghi rõ: ông Cao Biền từ phương Bắc đến trấn yểm long mạch (nhằm làm hại nước Nam) ở vùng Chẹ này cả mười lần thì mười lần thất bại thê thảm. Bây giờ xã Khánh Thượng còn có “di tích” xóm Tôm ghi trong bản đồ hành chính. Chẹ Đùng 1 và Chẹ Đùng 2 (tên gọi khác của Núi Chẹ) án ngữ ở bờ sông, như cái tay ngai của Thánh Tản khi ngài ung dung ngự trên núi Ba Vì. Sông Đà dữ dằn đời đời kiếp kiếp gây chết trong ven sông Đà, nhưng khi gặp núi Chẹ, nước quẩn ra, và toàn bộ vùng Khánh Thượng, Minh Quang, Ba Trại, Thuần Mỹ, Cổ Đô được che chở.
Núi lớn, lại thò ra mặt sông, nên nhiều hiện tượng thiên nhiên kỳ thú đã xuất hiện. Khỉ có thể đi theo các thân cây bắc từ đỉnh đá tai mèo nọ sang đỉnh kia như người ta đi… cầu khỉ. Dê núi hoang dã đứng lố nhố trên đá xám. Núi Chẹ là cái vựa sáo đá nổi tiếng của dân chơi chim cảnh. Đặc biệt là các Hang Tôm, Hồ Tôm. Sông ngầm thông ra Đà Giang, nước sông lên là Hồ Tôm chan chứa, nhưng mùa sông cạn, xóm Tôm vẫn ăm ắp. Dường như núi là cái “van một chiều” lấy nước vào mà không bao giờ đẩy nước ra. Tôm từ Đà Giang kéo vào nhiều vô kể, vì núi đá vôi nước ấm, nhiều hang hốc. Bởi thế bà con đặt tên cụm dân cư dưới chân Đá Chẹ là Xóm Tôm. Vào những năm 1980, người Khánh Thượng, Minh Quang và người Phú Thọ, Hòa Bình vẫn thường phải… chống chọi với đàn khỉ hoang xuống phá hoa màu. Khỉ kéo thành đàn, chúng ranh ma buộc dây rừng quanh thắt lưng, rồi cài ngô, bí, khoai sắn của dân như chiến binh giắt đầy lựu đạn, cứ thế chí chóe cười phốc cả lên núi trêu ngươi.
Núi Chẹ từng được nhiều người lịch lãm biết đến và tôn sùng bởi ở đó có một “di tích” nổi tiếng: đỉnh Hàm Rồng. Rồng là linh vật đã ám vào suy nghĩ của người Việt trên mọi vùng và mọi thế hệ, khắp nơi có di tích Hàm Rồng. Ba Vì là với chiều cao của núi chỉ hơn 1.200m so với mực nước biển, núi không cao nhưng có “Tối tú tối linh thượng đẳng thần” Tản Viên Sơn thánh trị vì. Đây là núi tổ của toàn bộ các mạch núi Trời Nam. Và, Hàm Rồng ở Đá Chẹ từng được Chính phủ đề nghị lập hồ sơ công nhận là thắng cảnh quốc gia. Mỏm đá thò ra mặt sông, đá nhúng mình vào sông đen nhưng nhức. Lúc nước cạn, các gò đá nhô lên y hệt một cái hàm rồng, có cả trán rồng và những chiếc răng rồng oai dũng. Nước sông Đà đến đây, húc phải Hàm rồng, cuộn xiết ào ào. Thuyền bè đi lại phải vững tay chèo lắm mới dám qua. Người sông nước bao giờ cũng bỏ mũ, bái chào mỏm Hàm rồng để cầu bình an trước dòng nước bạc. Dân trong vùng cung kính trước miếu thiêng trong núi Chẹ. Cạnh Hàm Rồng là mỏm đá hình phổ phục uy nghi. Núi rộng lớn, hình dáng đẹp, trong núi có các dãy phiến đá bằng phẳng có thể trải nhiều manh chiếu mở tiệc được. Trên bệ đá cao có bát nhang, ban thờ thờ thần núi, thờ Tản Viên Sơn Thánh và các “quan ngài”. Có một lối mòn đi ngang qua khu thờ tự, các mái đá từng trở thành “hang ổ” của những người ăn mày, kẻ lỡ độ đường. Có người ốm o đói khát từng chết rục xương trong đó. Giữa rừng già, dây leo, khỉ vượn và những bộ xương trắng, trong lòng Núi Chẹ càng trở nên huyền bí.
Từ sau Hòa bình lập lại, khoảng năm 1956, người ta đã kéo nhau lên thành lập Xí nghiệp khai thác đá Chẹ để lấy đá phục vụ công trình thủy lợi, làm đường sắt, đường bộ khắp nơi. Lúc cao điểm cả nghìn người đến quai búa quai tròng phá đá. Vài chục năm sau, núi Chẹ vẫn uy nghi, đền thờ vẫn u tịch, khỉ vượn vẫn nhảy nhót, hồ Tôm vẫn trong xanh và đôi lúc phải vén tôm cá ra thì mới sờ thấy nước. Bởi núi quá lớn, sức con người như hạt cát giữa biển đá tai mèo sừng sững. Những người yêu núi Chẹ bắt đầu thấy lo lắng, khi từng mảng núi trắng lốp trên nền trời, bởi người ta nổ mìn ẩy đá suốt đêm ngày. Rồi họ thuê thợ đến chụp ảnh kỳ quan quê mình về treo ở nhà để… tưởng nhớ. Bây giờ, nhiều hiểu ảnh ở Ba Vì, nhiều gia đình ở Khánh Thượng vẫn không ai bảo ai, tự thương nhớ rồi treo ảnh thế giới cổ tích núi Chẹ năm nào.
Đổi báu vật lấy vài đồng bạc lẻ
Sau gần 4 thập kỷ hoạt động, Xí nghiệp đá Chẹ giải thể vào khoảng năm 1990, bấy giờ núi Chẹ vẫn sừng sững. Bởi trước đây, người ta mới chỉ khai thác rất thủ công nhằm phục vụ nhu cầu cấp thiết của các công trình quốc gia. Sau này, nhiều tổ hợp, hợp tác xã, công ty, đơn vị lớn đã tìm cách “xâu xé” Núi Chẹ với tốc độ kinh hoàng. Họ mua kíp mìn và đủ loại vật liệu nổ trôi nổi, tự do phá núi, bất chấp các kiến thức và quy trình nổ mìn phá núi. Tai nạn liên tiếp, nhiều người chết thê thảm. Núi Chẹ bị gọt đẽo tang thương. Trong vài năm, người và máy móc đã “gặm” mòn vẹt, cụt nhiều ngọn của Núi Chẹ. “Hiện nay có 4 công ty, đơn vị cùng ầm ầm ra tay phá núi, chỉ có một đơn vị là có quy trình khai thác tương đối an toàn. Riêng Công ty Ao Vua đã có hơn 100 lao động. Trong vài năm vừa rồi, người ta chặt phá núi Chẹ với “sản lượng” bằng hơn 40 năm năm Xí nghiệp nhà nước kia đã khai thác”, ông Nguyễn Xuân Trường, Chủ tịch UBND xã Khánh Thượng thở dài. “Tôi sinh ra dưới chân núi, giờ vẫn ở dưới chân núi, thấy người ta phá núi rồi tai nạn thảm khốc, đau lắm. Mà người dân ở đó không được hưởng lợi gì, trong khi họ gánh chịu toàn bộ hậu quả của tiếng nổ mìn, bụi khói, nứt nhà cửa, tan nát đường xá. Cái phí môi trường ấy ai trả cho dân? Các kỳ họp HĐND huyện và thành phố vừa rồi, bà con cũng nêu nói nhiều về nguyện vọng là Nhà nước cần khẩn trương giữ lấy núi Chẹ. Nó là lá chắn bảo vệ cả vùng dân cư mênh mông trước nước lũ. Bây giờ giữ vẫn còn kịp. Đấy là chưa kể nhiều người có uy tín còn lo lắng về ý nghĩa tâm linh khi núi Chẹ, mỏm Hàm Rồng nổi tiếng bị phá…”, ông Trường tiếp.
Không một ai chúng tôi từng phỏng vấn (kể cả nhà sư trụ trì chùa Tản Viên lẫn người dân, cả cán bộ lãnh đạo địa phương lẫn người trực tiếp nổ mìn phá đá…) là không nói về những hậu quả tai hại của việc phá núi Chẹ. Số người chết do tai nạn và do những nguyên nhân mà người trong cuộc rất hoang mang cứ tăng dần. Chủ tịch Trường kể về từng trường hợp bị chết thê thảm trong quá trình phá núi Chẹ kiếm ăn. Nhiều bô lão ở khắp mọi miền tổ quốc về xí nghiệp đá Chẹ từ những năm 1960, đã hơn nửa thế kỷ sinh sống dưới chân ngọn núi huyền thoại này cũng thì thầm liệt kê tên từng nạn nhân, từng thảm cảnh một. Đơn cử: suốt 40 năm Xí nghiệp khai thác đá Chẹ phải trèo núi, lăn, vác từng viên đá xuống thuyền, xuống xe rất vất vả, họ không hề dám phá một “huyệt địa”, một mỏm núi thiêng nằm ngay dưới mép sông Đà như Hàm Rồng. Bởi họ tin, đó là một địa chỉ văn hóa tâm linh được nhiều đời trân trọng, chuyện ông Cao Biền thừa sống thiếu chết khi động vào linh địa linh sơn này thì ai cũng đã biết. Trong sách và trên mạng còn viết rõ.
Nhưng rồi, vì miếng cơm manh áo và một chút “anh hùng rơm”: ông Tô Hồng Thông (Thông “cụt”, ông này bị cụt tay bẩm sinh) và anh Nguyễn Thống Nhất ở xóm Tôm đã vác mìn đánh tan mỏm Hàm Rồng. Anh ta nghĩ: chỗ ấy, các vỉa đá ở gần, quá “ngon”. Tự dưng có vài xà lan đá. Sau khi “đình đám” với vụ phá Hàm Rồng, anh Thông cũng làm bát xôi, khẩu thịt vào đền thờ trong núi xin lỗi sơn thần thổ địa. Tuy nhiên, ít lâu sau thì anh Thông bị khối đá lớn lao thẳng vào, thi thể nát nhừ, cái đầu gần như… cụt. Điều rất lạ là chính người bạn phá núi của anh Thông, là Nguyễn Thống Nhất đã vô tình nổ mìn gây ra cái chết cho Thông. Chưa hết, ít lâu sau, cũng tại khu vực đó, anh Nhất bị ngã từ vách đá cao xuống, chết bất toàn thây. Con anh Thông thì bị cụt tay y như bố.
Không dị đoan đâu. Nhưng bà con đúng là rất để ý câu chuyện “khó tin” kia. Liên tiếp sau đó, các xóm lân cận, toàn thanh niên đột nhiên chết trẻ. Cứ anh nọ chết vừa tròn 50 ngày hoặc 100 ngày thì anh khác ra đi. Anh Bốn bị đá đè cụt cả hai chân, anh chàng Sơn bị đá ném đến phát bệnh tâm thần. Vừa rồi chúng tôi đến thăm, Sơn vẫn ngơ ngẩn nhặt bã mía ngoài chợ để… hít lại, vợ thì bị tai nạn chết, con gái ngã hố vôi chết nốt. Anh Trần Quang Nam sức tàn lực kiệt sau ca ngã núi làm kinh động đất Khánh Thượng. Có vụ sập cả ngọn núi, hai thi thể (anh Tú và anh Trung, đều SN 1975) bị vùi mấy ngày chưa tìm thấy. Có vụ, người xấu số đem chôn, cả chục ngày sau người ta mới tìm thấy mảnh sọ vùi tạm gần mộ cho đỡ tủi hờn. Có vụ đá đè xong, người thân phải múc cả bát óc nạn nhân bỏ vào khoang sọ vỡ. Có cô bé Lan 20 tuổi tự dưng chóng mặt rồi chết. Có anh Phong, rõ lực lưỡng đang quay nổ công nông, đứng ngẩn ngơ vài phút là “đi” luôn. Có anh Công nhét giẻ vào miệng mình, buộc dây điện trần quanh thân rồi… cắm phích vào ổ - tự vẫn.
Trước “thảm họa” của những cái chết trẻ liền kề đó, bà con sợ lắm. Họ truy tìm nguyên nhân bằng đủ kiểu, trong đó có mê tín dị đoan. Lại thêm người ta phá núi lấn mãi vào, đến nỗi các cụ không còn lối đi an toàn để ngày rằm mùng một vào thắp nhang trong miếu. Không còn cách nào khác, họ phải xin phép chính quyền, lập đền miếu mới, mời nhà sư về làm lễ di dời miếu ra phía ngoài, mời thần núi ra chứng giám. Cụ Hồng gần 90 tuổi được giao trông nom “di tích”. Bà Nguyễn Thị Hoan, một công nhân 70 tuổi với hơn nửa thế kỷ gắn bó với sự nghiệp phá núi Chẹ chủ trì hầu như mọi chuyện, bà cầm rá đi vận động mọi người góp gạo, góp tiền, có khi góp vài xe đá để dựng đền chùa cầu an. Chính con dâu bà Hoan cũng chết trong vụ đắm đò trước mũi Hàm Rồng làm 19 người vùi thây trong bụng nước. Ít lâu sau, con trai bà cũng chết, để lại 2 đứa cháu mồ côi. Em trai bà là Nguyễn Thanh Hải cũng chết trên núi Chẹ. Người ta “gửi” bát nhang của những người phá mỏm Hàm Rồng, chết vì đá núi đè hay sông Đà sâu hoẳm… ra ngồi “đền-chùa” mới lập. Bà Hoan đọc tên từng người chết thảm có bát nhang trước mặt mình: Nguyễn Văn Tâm, Tô Hồng Thông, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Thống Nhất, Nguyễn Thị Thanh Trà… Bất giác tôi lạnh xống lưng.
Nhìn những bát nhang lạnh lẽo, nhìn bức tranh sơn thủy Núi Tản Sông Đà trên đất Chẹ tang thương, lại thấy các nhà sư, các cán bộ, nhà khoa học và nhiều bô lão cùng dâng đơn xin bảo vệ Hòn Chẹ, bức bình bảo vệ xóm làng, di sản thiên nhiên, văn hóa, tâm linh quan trọng…, tôi không khỏi nghĩ đến cái tê tái của việc phá hủy kho báu để đổi lấy vài đồng bạc lẻ thấm đầy… máu của các nạn nhân đá đè. Hòn Chẹ lăn vào bi đát như hôm nay, dù thế nào, thì việc ấy vẫn thật bất nhẫn và đáng để xót xa.
Đ.D.H
Kèm chùm ảnh












