My Opera is closing 3rd of March

Suốt 18 năm sống một mình trong hang núi...



Chuyện kỳ lạ về một “người rừng” kỳ lạ ở huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận:
Suốt 18 năm sống một mình trong hang núi...

Lời tòa soạn:

Chúng tôi từng có loạt bài dài kỳ về cuộc đời đáng sửng sốt, đáng rơi nước mắt, chưa từng thấy ở Việt Nam của Ma Seo Chứ. Từng là Phó Chủ tịch, Trưởng Công an xã ở Lào Cai, bỗng dưng gã trai người Mông Ma Seo Chứ bị hiểu lầm là “ma nhập”, bị trói, bị đánh, anh ta trả súng cho nhà nước, sợ hãi bỏ vào rừng. Đến lúc bị bắt trói, đánh đập, Chứ đã cướp súng AK, bắn thủng trần nhà ủy ban xã, bắn chết Trưởng Công an xã Thanh Bình (huyện Mường Khương, Lào Cai) rồi lẩn lút sống 20 năm ròng rã như người nguyên thủy trong rừng già hoang thẳm. Chuyên án chưa từng có, hàng trăm lượt người lùng tìm trong 12 năm đã kết thúc, Chứ bị tuyên án tù chung thân, hiện đang ở Trại giam Tân Lập, tỉnh Phú Thọ.
Còn câu chuyện sau đây, chúng tôi xin kể về một “người rừng” cũng không kém phần… khó tin. Ông Ha Rá vốn theo “phỉ” lầm lạc chống lại Cách mạng. Sau giải phóng miền Nam, Ha Rá trốn chạy đám tàn quân ful-rô vì sợ bị chúng thanh toán. Trong hoảng loạn lại hiểu lầm là về với “Quân cách mạng” thì sẽ cũng… bị giết, thế là anh ta bỏ vào trong rừng sống như vượn suốt 18 năm. Khi tôi viết những dòng này, gọi điện cho ông Bích, Chủ tịch UBND xã Lâm Sơn, nơi Ha Rá sinh sống, thì nghe tin ông mới chết do uống quá nhiều rượu, rượu nó phá gan. Vậy là tất cả đã khép lại, những dòng nay coi như một nén tâm nhang tưởng nhớ một phận người vừa nằm xuống, người mà tôi đã gặp và gắn bó. Người ấy quá đặc biệt.
Người đàn ông đang ăn thịt khỉ trong hốc núi
Khi công an huyện Ninh Sơn đưa tôi tìm vào bản Tầm Ngân gặp Ha Rá. Tôi vỗ vai ông mà rằng: “Đúng là một Rôbinsơn thời mới”. Ha Rá đã sống một mình, sống bằng săn bắn hái lượm như người nguyên thuỷ trong hang đá, không giáp mặt bất cứ một con người nào suốt 18 năm trời. Đến nỗi, ông trở về, bà vợ sau gần 20 năm “thờ cúng chồng”, đã tóc bạc da mồi, đã đẻ với người đàn ông khác... 2 đứa con. Đến nỗi, trong bản báo cáo về sự trở về của Ha Rá, cán bộ địa phương đã phải giải thích cặn kẽ cả những câu như thế này: “sở dĩ Ha Rá chưa mọc lông là vì...”; “sở dĩ Ha Rá chưa quên tiếng nói con người là vì...”.
Sau 18 năm biệt tích, Ha Léo là người đầu tiên nhìn thấy Ha Rá tóc dài tới khoeo chân, râu ria lởm chởm, quần áo tả tơi đang chạy trốn trong rừng... Ha Léo kể:
“Hôm đó, tôi và Katơ Khánh cùng hai anh nữa người Lạc Dương (Lâm Đồng) đi kiếm lan rừng và sợi mây về bán. Đi từ tờ mờ, đến 9 giờ sáng thì chúng tôi đến khu rừng nguyên sinh. Đang đi dọc núi Chirasara, cách suối lớn Cả Chum, bỗng nhiên, tôi phát hiện một cột khói nhỏ từ trong hang núi sâu bay ra. Tôi phát hiện có một ông già rách rưới ở miệng hang đang bỏ chạy, chúng tôi đuổi theo, thì nhận ra là Ha Rá. Tôi nhận ra người lạ mặt là Ha Rá vì ông là cậu, lại là hàng xóm, là người rất gắn bó với tôi...
Chúng tôi cùng vào hang thì thấy Ha Rá đang nấu một nồi con nít (nồi nhỏ) toàn thịt khỉ, một nồi nữa gồm toàn cây đủng đỉnh. Ha Rá mặc áo bà ba màu nâu, cộc tay, rách nhiều chỗ. Quần nhuộm màu nâu đen cũng rách nhiều chỗ, rách lòi cả quần đùi ra, quần đùi cũng rách, hở cả thịt đen nhẻm. Cái miệng hang Ha Rá ở cao khoảng 1m, bề rộng chừng hơn 2m, sâu cũng chỉ... 2m. Trong hang có một vũng nước nhỏ, không thấy có cái gì giống cái giường hay là chỗ rải lá khô để nằm cả. Ha Rá nhìn chúng tôi thì tỏ vẻ sợ hãi, tôi bảo:
- Ông già ơi, về bản đi, ở mãi trong rừng làm gì!
Ha Rá bảo:
- Gia đình tao chết hết cả rồi, có còn ai đâu mà về. Tao về sợ bị đi tù, bị bắn chết lắm!
Tôi bảo Ha Rá:
- Gia đình anh vẫn còn sống và khoẻ mạnh cả. Cách mạng có bắt tội anh đâu mà anh cứ chạy trốn mãi. Gia đình cũng tưởng anh chết lâu lắm rồi. Anh chuẩn bị thu xếp để về với buôn làng thôi...
Chúng tôi thu xếp đồ đạc, gồm một cái gùi, một xà gạc (dao rừng), một con dao thóc, hai cái nồi nhôm và hai cái chai 65ml. Tôi dẫn Ha Rá về chỗ lán trại chúng tôi làm để ngủ khi ở lại rừng. Thấy Ha Rá rách rưới bẩn thỉu quá, tôi nấu cơm cho anh ăn no rồi cho anh một cái áo thun màu xanh, một cái quần tây màu sẫm, một đôi dép nhựa, một chiếc khăn. Chúng tôi dẫn Ha Rá đi hết một buổi chiều thì về đến làng. Về làng, vợ con, làng xóm vui quá...”.
Tại sao Ha Rá bỏ vào rừng sống suốt 18 năm?
Ha Rá, tên đầy đủ là Chamaléa Ha Rá, còn có tên gọi thân mật khác là Đak KaMi, là người dân tộc Răcgrây, sinh năm 1946, tại bản Tà Cột, xã Phước Hoà, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Là một thanh niên mù chữ, không biết đọc biết viết, cha mẹ mất sớm. Năm 1961-1964, Ha Rá từng được ta giác ngộ vận động tham gia đoàn dân công vận tải gạo cho chiến trường. Sau đó, Ha Rá bị địch bắt, tra tấn dã man rồi đưa về sống cùng gia đình ở Tầm Ngân. Tại đây, Ha Rá sống với vợ là Sa Ao Ka Rế (sinh năm 1943), sinh được 4 đứa con. Đến năm 1968, Ha Rá đi theo một tổ chức phản động, gọi nôm na là đi làm “phỉ” chống lại quân cách mạng. Đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Ha Rá tích cực học tập cải tạo tại địa phương. Sau này, vì sự lôi kéo của một số phần tử xấu, Ha Rá đã tham gia vào một nhóm tạo phản fulrô, hoạt động trong toán do các tên Ha Kiên, Ha Phát cầm đầu. Nhóm này gồm 8 tên, sau bị ta tiêu diệt 3 tên, còn 5 tên là Ha Thiết, Ha Hơi, Ha Mang, Ha Phức và Ha Rá. Tài liệu của công an địa phương cho biết đại ý như vậy.
Năm 1977, khi bộ đội ta tiến đánh dữ dội, toán của Ha Rá cực kỳ hoang mang. Đến lúc, hai tên ngoan cố và cáo già nhất bị "vô hiệu" (một tên bị bắt sống, một tên bị tiêu diệt) thì Ha Rá ngoan ngoãn về hàng Cách mạng vào tháng 3/1977. Khi về hàng, y khai, toán của y còn hai khẩu súng, một Đại liên và một AR75 đang giấu trong rừng sâu. Ha Rá dẫn cán bộ Cách mạng vào rừng tìm súng nhưng không thấy, có thể là toán fulrô của y đã kịp thời tẩu tán vũ khí khi được tin Ha Rá bị bắt.
Bấy giờ, Ha Rá bị nghi là “nói dối”, bị ta giam 5 ngày tại đồn công an Sông Pha. Sau đó, y đã tẩu thoát vào rừng tiếp tục theo nhóm fulrô. Nhưng, ngay trong bản thân lực lượng fulrô của Ha Rá lúc ấy cũng đã nghi ngờ lòng “trung thành” của y. Lại thêm, trong thời gian y bị giam, bộ đội ta liên tiếp đánh hai trận quyết liệt khác làm toán fulrô táo tác. Vì thế, khi Ha Rá trở lại với toán “phỉ”, chúng càng nghi ngờ y đã khai báo làm "chỉ điểm" cho Cách mạng, là người do Cách mạng “cài” vào hòng tương kế tựu kế tiêu diệt toàn bộ bọn chúng. Chúng định bụng sẽ giết Ha Rá để “thanh toán nợ nần”. Ha Rá sợ quá bỏ trốn, nhưng cũng không dám về nhà mà chỉ sống lẩn quất ngoài nương rẫy gần đó. Không theo fulrô được nữa, lại đã từng trốn khỏi đồn công an, vì thế, khi ta mở các đợt vận động quần chúng bóc gỡ cơ sở phản Cách mạng bên trong, Ha Rá cũng không dám ra trình diện. Lại có một số kẻ xấu bụng phao tin rằng, những đối tượng như Ha Rá mà ra trình diện Cách mạng thì sẽ bị bắn chết, hoặc bị tù đày suốt đời, y lại càng sợ. Cuối cùng, Ha Rá quyết định bỏ vợ con, làng bản vào sống hẳn trong rừng sâu, "không theo bên nào cả".
Theo hồ sơ mà Ha Rá khai với chính quyền địa phương khi trở về thì: suốt 18 năm đằng đẵng ấy, từ 8/1977 đến tháng 5/1995, Ha Rá hoàn toàn sống trong hang đá giữa các cánh rừng, không dám gặp bất cứ người nào. Nơi đầu tiên y ở là một hang đá lớn trong khu vực làng cũ nơi y đã sinh ra và lớn lên, làng Gụ Ca Ra, xã Phước Hoà, huyện Ninh Sơn cũ (nay là huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận). Sống ở đây được 3-4 thì nhận thấy sự bất ổn, có thể “bị phát hiện và bị bắn chết”, y lại chuyển xuống khu vực phía nam dãy núi Chuẩn. Tóm lại, y di chuyển “hang núi” tất cả 7 lần trong suốt 18 năm ấy. Riêng khu vực núi Chirasara là y sống lâu hơn cả (6 năm trời, cho đến khi bị phát hiện vào năm 1995).
Qua nghiên cứu hồ sơ và qua tiếp xúc khá kỹ càng với Ha Rá, tôi nghĩ rằng: sở dĩ suốt 18 năm trong hang đá như thế, không gặp người, mà y vẫn đã sống được, sống không bị ai phát hiện là bởi vì y có kinh nghiệm từ những năm... theo “phỉ”. Người ta bảo, hồi đó làm phỉ thì cũng gần như ăn lông ở lỗ rồi, Ha Rá đã quen. Và, những bài học không mấy tốt đẹp này đã thật có ý nghĩa trong cuộc chạy trốn có một không hai của y (!?). Ha Rá có một nguyên tắc sống trong hang: dù cả ngày đi trong ruộng rẫy của bà con, y cũng không được phép bẻ bắp, đào củ mỳ của dân. Thấy người ta bỏ đồ đạc, lương thực vung vãi khắp rừng (ở đó thỉnh thoảng mới có bóng người, nên không ai đề phòng kẻ trộm), thì y cũng không ăn trộm. Bởi đụng vào rẫy, vào đồ đạc của người ta, lập tức người ta sẽ phát hiện có người lạ, và khi ấy, y sẽ bị “bắn chết”. Y đi nhặt những con dao rừng bị bỏ quên, đẽo cây rừng thành dụng cụ đào bới khoai mỳ, củ mài làm lương thực. Y tự làm bẫy săn bắt chuột, khỉ, chồn; hoặc dùng dây rừng đan thành chài lưới đánh bắt cá dưới suối; dùng bùi ngùi đánh lửa đốt ong rừng lấy mật và nấu nướng. Y không gặp ai, không lấy của ai cái gì; y đã vượt qua cái chết nhiều lần trong hang đá cô quạnh cho đến 18 năm sau...
Thực tế thì nỗi sợ hãi của Ha Rá chỉ là một sự “tự kỷ ám thị”, là trò “có tật giật mình”. Ha Rá nói với tôi rằng, suốt gần 6.500 ngày sống khắp các hang đá như thế, y không hề nghe thấy tiếng súng đạn, không có một ai rượt đuổi y cả, y sợ hãi và chạy mãi, trốn mãi cũng... chả để làm gì. Vấn đề là không ai truy sát y như y tưởng tượng ra. Và, rõ ràng là, theo nguồn tin của chính quyền, từ năm 1992, bà con đã phát hiện nhiều dấu vết đào củ rừng rất lạ trong cánh rừng Chirasara, đó là dấu vết của con người, chứ không phải thú. Người bản xứ bảo, có nhìn thấy người đàn ông lạ thoắt ẩn thoắt hiện, râu tóc dài, áo quần tơi tả. Người ta đã nghi ngờ đó là Ha Rá, vì sau giải phóng, đột nhiên y mất tích, ai cũng nghĩ là y đã chết trong rừng, nhưng chưa ai trông thấy xác hay xương của Ha Rá cả. Ngay cả khi đã về trình diện chính quyền, Ha Rá vẫn nguyên tâm trạng “thời fulrô” của 18 năm trước. Trong một biên bản của cán bộ địa phương viết về “đối tượng Ha Rá”, có ghi: “Tinh thần (Ha Rá) sợ hãi hoang mang, lầm lỳ ít nói. Ngồi im, miệng hay bẹp bẹp liên tục... Có dấu hiệu của bệnh kinh phong mà cả em gái và con gái y đã mắc phải...”.
Cuộc trò chuyện khản giọng với Robinson của hang đá ở Ninh Sơn
Cán bộ nhắc tôi rằng, Ha Rá có dấu hiệu hoảng loạn và rất cục tính khi bị kích động, nhưng tôi vẫn cứ phải gào lên, vì Ha Rá điếc nặng. Ông ta đội một cái mũ lưỡi trai rách bươm, ngồi bần thần nhìn tôi như chờ đợi. Tôi quan sát bàn tay để trên bàn có hai chữ mờ mờ viết bằng mực tàu: "Sát Cộng". Xung quanh là nhiều vết sẹo cả cũ lần mới khá tơ tớp và ủ mủ. Có vẻ như chủ nhân của bàn tay này đã rất kỳ công để tẩy xoá hai chữ một thời lầm lỡ này đi...
Tôi hỏi:
- Ông xăm hai chữ này khi nào vậy?
- Xăm lúc nào tôi cũng không nhớ nữa. Chỉ nhớ ông bảo tôi xăm là Trung tá Nh., còn người xăm thì cũng "lính nghĩa quân" như tôi. Thì thời buổi ấy, "trời hô ai người ấy dạ" mà, chúng tôi bị ép đi lính cho bọn phản động, không đi người ta hại mình - Bỗng dưng, ông Ha Rá không biết chữ lại nói một câu đầy thân phận, rất chữ nghĩa - Ông Trung tá bắt tôi xăm trên tay, để mỗi khi gặp ông hay chấn chính hàng ngũ, tôi giờ tay phải lên chào thì hai chữ dọc cánh tay này "soi" lên trời, để ông nhìn thấy! Tôi xoá mãi mà không sạch, nó cứ bám lấy tôi như một bóng ma ấy...
- Lúc ở trong rừng, ông có nhớ vợ con không?
- Không nhớ đâu, vì tôi sợ quá mà. Tôi sống một mình, tôi sợ Cách mạng "làm khó khăn" cho tôi đó. Sợ người ta bắt cải tạo đó, tôi mới chạy vô rừng chớ...
- Ông làm thế nào để có lửa nấu ăn?
- Tôi dùng hai hòn đá đánh vào nhau rồi dùng lá cỏ tranh vò nát ra, dùng cây bông gòn khô "châm" vào. Đóm của tôi rất nỏ, làm bằng gỗ và nhựa cây ngò (nhựa cây thông).
- Thời gian ông ở trong hang đá, có "đồng đảng" tiếp tế lương thực cho ông phải không?
- Không, tôi không gặp ai cả, thấy người ta ở bên này, thì tôi đã chạy sang bên kia núi. Không ai nhìn thấy tôi. Xoong nồi là tôi lượm (nhặt) của người đi rừng bỏ lại. Tôi thỉnh thoảng cũng có gạo ăn, đó là những hạt gạo người ta bỏ lại trong rừng, nó gặp mưa đã trương lên và bắt đầu mủn ra. Cứ khi người ta đi khỏi rẫy thì tôi ra tìm kiếm. Thường xuyên tôi phải đào của mài (củ hoài sơn-TG) để ăn, củ ấy nó nằm sâu trong đất lắm, lúc chưa có dao, tôi bẻ cây lồ ô (một loại tre to, thân thẳng, mọc ở trong rừng-TG) chọc xuống đất mà đào.
- Có phải ông thường xuyên ăn cắp thú rừng trong bẫy của thợ săn?
- Tôi cũng làm bẫy để bẫy thú chớ, tôi bẫy được khỉ, chồn, nhím chớ. Nhưng đúng là tôi có gỡ thú từ bẫy của người đi săn, bởi bắt khỉ xong, tôi lại cài bẫy trở lại như cũ, người ta đến cũng không biết là... bẫy của họ từng bẫy được thú!?
- Tổng cộng suốt thời gian sống trong hang, ông đã nằm chờ... chết tất cả mấy lần?
- Nhiều lần, tôi bị ốm, bị ho, bị sốt. Nhưng sợ nhất là lần tôi bị ngã từ trên cây cao xuống, khi đang hái quả trong rừng. Không có ai cứu tôi, tôi ngất rồi tự tỉnh lại. Tay bị gẫy, xương sống lưng đau như bị gẫy nốt. Tôi đã dùng lá cây ráp (cây giống như cây ớt-TG) cuốn lại với nhau, hơ trước lửa, rồi cứ thế bóp vào tay, nóng như thuốc ngâm rượu để nắn chân ấy. Ba bốn ngày trời tôi bị đói liên miên, người tôi đau muốn chết. Tôi nằm im, ngủ li bì, tôi muốn chết mà "nó" không chết cho. Con thỏ nhảy loạt xoạt bên cạnh búi tóc dài trải trong lòng hang của tôi làm tôi tỉnh dậy. Tôi cứ thế vơ lá lẩu xoà trước mắt mà ăn, tôi ăn đến vãn lá trong lòng hang thì tỉnh lại. Tôi đi đào củ mài, nổi lửa nấu canh rau đủng đỉnh ăn tiếp. Thế là tôi sống lại.
- Ông có buồn, có sợ không?
- Tôi không sợ, tôi sợ nhất là cái chết, mà trong hang thì tôi vẫn được sống. Tôi không buồn vì tưởng vợ con đã chết sạch rồi. Mà không gần vợ thì đâu có buồn!
- Thế ông nấu nướng, tắm rửa làm sao để không bị phát hiện?
- Tôi ở không xa suối lắm, nhưng không bao giờ tôi tắm vào ban ngày. Vả lại, hồi đầu tôi không có quần áo cơ mà. Tôi nấu nướng vào ban đêm, vì ban đêm, trong hang, lửa không lộ ra bên ngoài, còn khói thì bay thoải mái, không ai trông thấy. Hôm bị phát hiện là vì đói quá, tôi phải nấu thịt khỉ để ăn giữa ban ngày, bị Ha Léo trông thấy khói đó, chớ...
Kết thúc câu chuyện, ông Ha Rá chợt cười khơ khớ, có vẻ ông vui lắm. Ông thụt cẳng tay có hai chữ "Sát Cộng" vào hộc bàn, rồi thò lên mặt bàn bàn tay trái, có đeo một chiếc đồng hồ mới cứng. Đó là loại Senko 5 từng một thời là niềm ước mơ của các gã choai choai chúng tôi. Ha Rá khoe, đồng hồ này mua những một trăm sáu mươi nghìn ở dưới thị xã Phan Rang-Tháp Chàm cơ đấy. Tôi bảo, "không khéo ông già xuống phố bị nó lừa", ông cười móm mém, hàm răng chiếc còn chiếc mất, "mười tám năm sống một mình trong rừng mà sống được, thì khó bị lừa lắm". Ô hay, hoá ra, ông cũng là người vui tính và... thông minh lạ. Căn nhà ông chìm trong ruộng rẫy, nhưng được chính quyền địa phương giúp đỡ xây dựng, giúp đỡ điều kiện làm ăn, giờ cũng chả đến nỗi nào. Nhà xây gạch, lát gạch đàng hoàng. Ông đã có 1 mẫu ruộng, 8 con bò cả bò mẹ, cả bò con, ông có hai con lợn nái cũng đang ụt ụt chăm đàn con. So với ở Tầm Ngâm, thế này là giàu rồi.
Tôi nhớ mãi ánh mắt đẹp và buồn của Ka Loái, cô bé sinh năm 1989, là con riêng của vợ... Ha Rá. Bà vợ ông cũng đẻ với người khác một lần, sinh đôi, thế là một lúc được những hai đứa con riêng. Người đàn ông "nối sợi dây gàu" (tục lệ của người Răcgrây) cho ông (vì tưởng ông đã chết rục trong rừng) chả ai xa lạ, mà chính là người đã và đang lấy em gái của... vợ ông. Ông này tên là Han, nhà ông có sẵn 7 đứa con rồi, thêm hai con với vợ Ha Rá nữa là 9 đứa. Ha Rá về, mọi chuyện vẫn vui vẻ, hai chị em gái nọ cũng là thương nhau...
Tôi nói với Ka Loái rằng, ở Việt Nam, cũng chưa có sách vở nào viết về một người đàn ông 18 năm sống cô độc, tuyệt vọng, sống bằng săn bắn hái lượm trong rừng hoang như bố em đâu. Cuối cùng thì bố em đã hiểu, về với "cộng sản" là không bị đi ở tù, không bị bắt chết như những kẻ xấu rêu rao. Và, bố em đã cố lập thêm kỳ tích về một ông già móm mém có nhiều bò, nhiều lợn, nhiều ruộng rẫy ở Tầm Ngân. Thế là hạnh phúc lắm rồi. Ka Loái vẫn úp mặt vào bờ tường vôi không nhìn khách lạ, không nói một câu. Ha Rá tự hào: "Nó xấu hổ đấy, con gái đến lứa ấy mà!". Rồi ông cười khơ khớ.

Het

Kèm chùm ảnh chân dung và các trang hồ sơ “độc” về Ha Rá do cơ quan công an cung cấp.

Mẹ không nhớ đường về nhà…Tới. Cao Bằng.

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28