Nỗi đau Thác Bà
Saturday, August 11, 2012 4:49:42 PM
Vùng tăm tối ở “trái tim thủy điện” Việt Nam
Phóng sự dài kỳ của Đỗ Doãn Hoàng
http://laodong.com.vn/Phong-su/Toi-den-o-trai-tim-thuy-dien-Viet-Nam/79282.bld
Khoảng năm 1959, những đợt vận động di dân nhường quê hương, đất đai, mồ mả, đình chùa miếu mạo cho công trình thủy điện đầu tiên của Việt Nam - Thủy điện Thác Bà, tỉnh Yên Bái - đã bắt đầu. Đó là một cuộc chuyển dân kỳ vĩ, hào hùng và đẫm nước mắt luyến lưu. Nếu tính mốc là năm 1962, từ đợt “bỏ nhà bỏ cửa” lên rừng hoang núi thẳm chặt cây san đất đá xây dựng “quê hương mới” đầu tiên ấy, thì đến năm 2012 này, đúng vừa tròn nửa thế kỷ đã trôi qua. 50 năm rồi, bây giờ, chúng tôi lại vẫn run rẩy, chết lặng, rơi nước mắt nghe tâm sự của đồng bào ly hương “vì dòng điện ngày mai của tổ quốc”. Trong số khoảng 5,3 vạn người ra đi năm đó, quá nhiều người đã chết. Nhiều cụ già tóc bạc da mồi ngồi khóc, rồi quay ra bất bình: chúng tôi bị bỏ quên trong xó rừng này. Chúng tôi như hạt thóc rơi trong kẽ cái hòm cũ. Hơn 40 năm Thủy điện Thác Bà phát điện, đem nguồn sáng cho cả nước, thế mà vẫn còn không ít đồng bào của hơn 50 xã đã hy sinh tất cả vì chính dòng điện ấy, đang ở sát mép mặt hồ đổ nước vào tuốc-bin phát điện ấy: thì lại vẫn sống trong cảnh đèn dầu leo lét. Điện, đường, trường, trạm… vẫn tạm bợ lều lán, trường mầm non vẫn dùng cái bếp cũ của nhà dân.
Vì đâu có chuyện bi hài về vùng tăm tối giữa “trái tim” ngành xây dựng thủy điện Việt Nam kia? Và, chúng ta có nên nhẫn tâm như vậy mãi không?
Bài 1: Nhiều nghìn người gánh con vào… rừng hoang
Bài 2: Xuống lòng hồ lặn tìm mồ mả!
Bài 3: Hơn 50 năm hy sinh vì thủy điện, vẫn chịu cảnh đèn dầu
Bài 4: Lương tri - lời giải cho một bài toán lớn hơn
Bài 1:
Nhiều vạn người gánh con vào… rừng hoang
Vừa nhặt thi thể người, vừa đưa dân ra khỏi “kho thóc của Tây Bắc”
Nằm cách Hà Nội chừng 150km, Thủy điện Thác Bà là niềm tự hào của những người đi tìm “vàng trắng” cho tổ quốc nói riêng và của toàn dân ta nói chung. Nó là thủy điện đầu tiên của Việt Nam, được xem như thành tựu vĩ đại của chúng ta, nhất là khi mà nó được xây ngay trong thời kỳ bom Mỹ oanh tạc cực kỳ ác liệt. Hồ Thác Bà, ngày nay vẫn là một trong ba cái hồ nhân tạo lớn nhất Việt Nam, với chiều dài mặt nước là 80km (!), chiều rộng khoảng 10-15km, tùy theo mùa. Bà Lương Thị Dư, 50 năm tuổi Đảng, nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Yên Bình trong thời gian xây dựng thủy điện Thác Bà (đập thủy điện xây cơ bản xong năm 1970), hiện đang sống ở TP Yên Bái, nhớ lại: ngoài việc xắn quần, cả ngày lẫn đêm đi vận động, thu xếp cho bà con di dời phục vụ lòng hồ thủy điện, tôi còn được cấp trên phân công theo dõi tội ác hàng ngày của Đế quốc Mỹ. Có hôm, 0h, tăm tối yên ắng, bỗng dưng Mỹ nó thảm sát bà con, tôi lại khăn gói lên đường. Hôm nào “hên” thì có anh liên lạc đi cùng. Có khi 12h trưa, mùa hè nắng chang chang, giặc nó đánh bom, khói lửa còn nghi ngút, người chết hàng đống mà tôi vẫn phải xông vào. Vào nhặt thi thể từng mảnh của người chết. Ngày 15/7/1965, hơn 50 học viên và cán bộ y tế bị bom Mỹ thảm sát cùng lúc ở ngay giữa trung tâm thành phố Yên Bái. Hàng trăm công nhân thi công thủy điện Thác Bà cũng bị chết vì bom đạn của “giặc trời đế quốc”.
Giữa bối cảnh lửa đạn quân thù, kèm theo sự khó khăn về kinh tế, những lúng túng trong lần đầu tiên di dân của 54 xã cho một đại công trình quá lớn như thủy điện Thác Bà, thật khó để tránh khỏi những bất cập. Tuy nhiên, những “sơ xuất nhẫn tâm” để rồi bà con tận khổ suốt 50 năm qua (tình cờ khi tôi viết những dòng này là đúng 50 năm đã trôi qua!), đến bây giờ những người đã trực tiếp (cùng lớp lớp con cháu họ) hy sinh biết bao quyền lợi, hạnh phúc cho thủy điện được “khai sinh” vẫn chưa được hưởng ánh điện do chính thủy điện đó sản sinh ra... - thì thật đáng trách, thật xót xa. Thật khó hình dung.
Theo tài liệu chính thức đang được lưu giữ tại Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Yên Bái: để xây thủy điện Thác Bà, tỉnh Yên Bái đã phải chuyển dân ở 54 xã với 8.913 hộ, chính xác là 53.500 người. Riêng huyện Yên Bình đã phải chuyển bốc 33.000 mồ mả, 23.000 căn nhà, với 35.000 nhân khẩu đi “xây dựng quê hương mới”. Bà Dư hoài niệm: Yên Bình gạo trắng nước trong tuyệt đẹp. “Nhiều tiền thì lên sông Cả, ít tiền thì về ngả sông Thao, mà không có xu nào thì vào sông Chảy”. “Yên Bình gạo trắng nước trong/ Ai lên đến đó thì không muốn về”. Lúc thuộc tỉnh Tuyên Quang, huyện Yên Bình chúng tôi là kho của nả với Tuyên Quang, lúc chuyển về Yên Bái, nó lại là miền đất làm giàu cho Yên Bái về mọi nhẽ. Đền thờ, miếu mạo, nhà thờ công giáo chi chít, vào những ngày trời trong, truyền rằng bà con vẫn trông thấy cả trăm di tích mến thương kia vẫn mờ ảo dưới đáy nước mênh mông. Ai lên Phố Cát, Đại Đồng/ hỏi thăm cô Tú có chồng hay chưa? Cái gì ở đây cũng đẹp. “Như thế là huyện Yên Bình trước khi chuyển dân đi nhé: cái vựa thóc gạo của Tây Bắc này, mỗi năm họ cung cấp 1.000 tấn thuế và nghĩa vụ cho nhà nước, đến lúc chuyển dân đi rồi đó thì tỉnh giao cho Yên Bình có 300 tấn thuế và nghĩa vụ thôi. Nhưng, toàn dân cũng chỉ làm được có 170 tấn. Nghĩa là, bao nhiêu bờ xôi ruộng mật mất hết. Cả 37 xã của Yên Bình, sau khi di dân, nước ngập hết, mấy xã còn lại toàn gò đồi cằn cỗi, dân chúng cũng còn quá thưa thớt (vì bà con thường tụ cư ở ven các thung lũng, nơi luôn bị ngập nước đầu tiên).
Hơn 5,3 vạn người gồng gánh ra đi. Đặc biệt, bấy giờ không có chuyện nhà nước dọn sẵn mặt bằng, xây sẵn nhà cửa, “đền bù” cho mỗi hộ vài trăm triệu đến cả tỷ đồng mà đến nơi ở mới - như cách làm của các thủy điện di dân tái định cư bây giờ. Bà con gồng ghánh con cái, tư trang, chút của nả ít ỏi mà ngậm ngùi trèo núi ra đi. Không có đường ô tô, không có xe cộ chuyển dân, nên cái gì quá sức đôi vai người đều bị rớt lại. Mà đi đâu? Bà Dư đi “ba cùng” với người dân, về xã Thái Nguyên (nay đã ngập) có khi đi qua 37 lần uốn lượn của một con suối lớn mới gặp được bản người thiểu số để vận động di dân. Bà mang theo suất gạo của mình, thời bao cấp, phải đưa gạo cho dân bản thì tối về mới có cơm mà ăn. Bà Phó Chủ tịch huyện ấy và ông lãnh đạo huyện ngồi ăn cơm bên ngoài, phía trong, đông đảo thành viên của gia đình người sở tại chúi mũi vào... ăn sắn. Khi phát hiện ra điều đó, bà Dư ứa nước mắt đem trộn cơm cán bộ và sắn của dân vào rồi vui vẻ cùng ăn với đại gia đình người bản xứ. Nhiều nhà ăn củ nâu bằng cách thái duôi nó ra, để vào cái rá ven suối, cắm ba cái cành tre ghim cái rá đó xuống lòng suối kẻo nước về sẽ kéo trôi hết đi. Ngâm cho nó bớt đắng rồi ăn với củ bố, củ cà nưa, ăn chống đói rồi say lặc lọe nằm ra bờ suối mà không tin là mình có thể sống tiếp...
Đói khổ thế mà lúc cán bộ vận động bỏ tất cả mồ mả, quê hương, bờ bãi ra đi vì dòng điện ngày mai của tổ quốc, người dân rất hưởng ứng, họ không đòi hỏi gì cả. Đoàn người nườm nượp. “Tôi nhớ mãi cái bà Úc. Bấy giờ xe đạp cũng hiếm lắm. Cái xe đạp bà ấy chưa đụng đến bao giờ, nên không biết dắt. Dựng thế nào nó cũng cứ đổ. Bà ấy cứ bỏ con vào hai bên quang gánh mà gồng gánh bước đi, cứ thế trèo núi mà đi, chứ làm gì có đường di dân”. Người vùng cao bỏ quê đi đã khổ, người ven sông thóc gạo đầy bồ, làm chơi ăn thật, nay bỏ miền đất trù phú ra đi còn tiếc nuối và đau đớn hơn. “Yên Bình giàu như thế nào nhỉ? Yên Bình giàu lắm. Tôi nhớ rõ: chỉ một xã với nghìn rưởi dân thôi mà họ đã làm ra 400 tấn thóc nộp nghĩa vụ cho nhà nước. Cái bà Thuộc, tôi nhớ lắm đó, bà ấy góa chồng ở vậy nuôi bốn đứa con lít nhít mà một mình bà ý gánh một tấn rưỡi thóc thuế và nghĩa vụ cho nhà nước. Đấy. Yên Bình giàu thế đấy”, bà Dư hân hoan hồi tưởng, rồi chua xót: “Bỏ đất ấy mà đi, dẫu là gỗ đá cũng thấy đớn đau”.
Bát nhang một bên quang thúng, bên này là đứa con nhỏ: cất bước ra đi!
Hồi tưởng của những người bảy, tám, chín mươi tuổi còn sống ở Yên Bái về cuộc di dân xúc động và can trường đó đã khiến lớp hậu sinh đi “chép sử” như chúng tôi rưng rưng. Những hình ảnh bà Dư, rồi các cựu cán bộ như bà Lương Thị Lầm, ông Lương Hồng Thái (hiện sống ở xã Tân Hương, huyện Yên Bình) hồi tưởng, nó khổ sở, cảm kích và hào hùng, thật không bút mực nào tả xiết. Những chỗ màu mỡ thì dân cựu ở các vùng đất người “lòng hồ” di đến, dĩ nhiên họ chiếm cả rồi. Chỉ còn những cái dộc, những cái hủm, những quả đồi trơ cằn khốc hại thôi. Bà con quẩy đôi quang gánh. Bốc bát nhang đặt vào một bên, đồ đạc để bên cạnh, đầu thúng bên này thả đứa con thơ dại vào. Thế là đi đến khoảnh rừng mới. Đi dưới tán rừng rậm rạp tối thui, thích chỗ nào thì xin phép cho phát rẫy chặt cây dựng tạm cái lều, gọi đó là nhà cửa quê hương mới. Đặt bát hương tổ tiên xuống. Cuộc sống bắt đầu lại gần như từ con số không. Có người không thể chịu được đã bỏ bật về quê cũ. “Lúc đi thì gồng gánh, lúc bỏ rừng rú về lại quê hương (bấy giờ nước chưa kịp dâng lên) để đi tìm nơi khác hy vọng khả dĩ hơn, thì chỉ còn đeo ít đồ thôi. Đồi xách theo, con thì cõng trên lưng. Trước gánh, sau đội, sau bưng, phú quý giật lùi là thế”, bà Dư ầng ậng nước mắt. Khổ nhất là nhóm người dân xã Đồng Tâm phải di lên vùng Rãnh Cày của huyện Văn Yên rừng núi. Ông Đáp, bấy giờ Chủ tịch UBND huyện, cũng là người của xã Đồng Tâm, đã cùng bà Dư lên Rãnh Cày. Thấy rừng núi trập trùng, rừng nứa nó ken vào nhau như một đống nứa chặt sẵn dựng thành cọc chi chít án ngữ mọi lối đi. Dân dựng lều, trong thung lũng chỉ toàn những hòn đá cuội trắng to bằng cái ấm ủ, đụng vào là nó lăn ào ào. Cây sắn trồng lên, củ nó chỉ bé bằng cái ngón tay. “Chỗ ấy hoang vu không thể nào mà tưởng tượng được”, bà Dư đúc kết.
Ông Lương Hồng Thái đã qua cái tuổi thất thập cổ lai hy, nhưng đầu óc vẫn minh mẫn lắm. Bao năm làm kế toán, rồi công an xã. Lúc cuộc “thiên di” diễn ra, bỏ lại bao nhiêu mồ mả, gia đình ly tán, cả xóm làng “khóc như ri”. Ông Thái ở lại vì còn được tổ chức phân công giữ nhiều sổ sách ghi chép về cuộc di dân lớn. Ông coi đó là nhiệm vụ trọng đại, nên ông cứ giữ giấy tờ sổ sách mãi, đến gần đây, sau gần nửa thế kỷ không thấy ai hỏi, thấy người “ra đi” dường như bị bỏ quên, ông mới ngậm ngùi đem đốt đi. Vợ chồng ông nghĩ đơn giản, đi khỏi quê gạo trắng nước trong của mình, đi đâu cũng bạt ngàn rừng núi, cũng lập lán lập lều mà ở trong rừng, rồi trường học bệnh xá là những cái lều tạm bợ. Thôi thì cứ đi chỗ gần xã Đại Đồng quê mình thôi. Để đến nơi mới, còn ngóng được về cái vùng mênh mông nước từng là quê hương bản quán nghìn đời của mình và tổ tiên mình. “Tôi và bà ấy (vợ ông Thái), cùng 4 đứa con, vào tít trong hẻm núi của xã Tân Hương bây giờ. Ở đó heo hút, có cả beo, cả gấu. Lại hoang vu rậm rịt tột cùng. Chúng tôi hãi quá, mới bảo nhau chuyển dịch ra phía ngoài cho nó đỡ âm u, kẻo có ngày hổ nó bắt thì thành đống xương trắng giữa rừng (nay là ven quốc lộ 70). Ra đó, cán bộ xã lại nhắc: chỗ đó quang đãng, bom Mỹ nó hay đánh lắm. Nhà ông ở đó thì nhớ phải đào hầm kẻo có ngày thiệt thân. Tôi nghĩ, gớm, thị xã tỉnh lỵ Yên Bái với lưới lửa phòng không thế mà Mỹ nó còn thảm sát một lúc chết gần sáu chục người, thời loạn lạc chỗ nào chả nguy hiểm. Thế là di ra ngoài này”, ông Thái thở dài.
(còn nữa)
Vùng tăm tối ở “trái tim thủy điện” Việt Nam
Bài 2:
Lặn xuống lòng hồ bốc mồ mả!
Trong cuộc trò chuyện với ông Lương Hồng Thái, chúng tôi liên tục lặng đi, nhà báo không cất nên lời vì xúc động, còn vợ chồng ông Thái thì gạt nước mắt trân trối nhìn vào hư vô... “Quê tôi năm ấy, giờ không biết ở khúc hồ nào, nhưng chắc chắn là xa lắm, không bao giờ còn được gặp lại cái nhà sàn, cái đình, cái chùa và gốc đa sum suê đó nữa”. Ông Thái, suốt 50 năm qua, chưa bao giờ có được một giấc mơ nào mà bối cảnh và câu chuyện của nó lại không phải là quê cũ - miền đất đã nửa thế kỷ ngập dưới mặt hồ dài 80km và bụng nước 3,9 tỷ mét khối nước kia. “Tôi chưa bao giờ mơ về cái xã Tân Hương này, dù nó là quê hương thứ hai tôi cũng rất yêu mến. Thời gian tôi ở nơi này đã dài gấp đôi thời gian ở quê cũ Đại Đồng, nhưng...”. Ông Thái im lặng lâu quá, bà Tuyên,, vợ ông vuốt những nếp nhăn trên gương mặt nám nẫu đi vì tuổi tác bèn quay ra kể về cuộc làm hình nhân thế mạng, chiêu hồn nhập mộ, tạ lỗi với ông bà ông vải bị mất mộ phần; rồi cả cuộc chồng mình cùng cha chú lặn xuống hồ Thác Bà, đào khênh tiểu quách lên bờ...
Lúc nào cũng khóc lóc như nhà có đám ma
Hồi đó, năm 1959, khi ông Thái mới 24 tuổi đầu. Bỗng dưng có chủ trương xây đập thủy điện, quê hương Yên Bình gạo trắng nước trong sẽ biến mất vĩnh viễn, nhường bạt ngàn bờ bãi, nhà cửa, đất đai cho lòng hồ rộng gần 20.000ha sắp sửa dâng lên. Nếu ai từng đi xuyên qua vùng hồ với 1.300 hòn đảo lớn nhỏ của khối nước hơn 3,9 tỷ mét khối của Thủy điện Thác Bà, thì sẽ hiểu sự hy sinh của đồng bào năm xưa nó lớn lao tới mức nào. Mỗi đợt chuyển dân diễn ra, là tiếng khóc rền vang. Người đi cũng khóc, người ở lại cũng khóc. “Lúc nào bản làng cũng buồn bã, khóc than như có đám ma”, ông Thái đay đả đúc kết. Ngay gia đình ông Thái, mỗi anh chị em đi một hướng tái định cư, biết bao giờ mới gặp lại nhau, khi mà nhìn đâu cũng thấy bịt bùng rừng núi. Bố ông Thái ôm lấy con trai, con ơi, đi đến nơi ở mới chả biết thế nào, nhưng rừng rậm thế kia thì chắc chắn không bằng đôi bờ sông Chảy” sờ đâu cũng thấy sản vật”, tôm cá, gạo trắng nước trong quê mình. Con đi đi. Bố có bài thuốc chữa gẫy chân tay, truyền cho các con để mà sử dụng khi gặp điều chẳng lành, để cứu bà con mình trên quê hương mới nhé. Tiếng khóc rền rĩ. Xóm làng cũng khóc, già cũng khóc, trẻ cũng khóc, người đi và người ở lại đi đợt sau đều khóc. Phố Cát, Đại Đồng gạo nếp gạo tẻ đều nức tiếng miền Bắc, chợ Ngọc tuyệt sắc, bích ngọc rồi hồng ngọc như “hạt máu của trời đất” kia đã vĩnh viễn chôn trong bụng nước bạc. Câu chuyện về một số hộ dân sống trên ngọc quý, cứ dùng các khối đá chứa ngọc đỏ tươi làm ông đầu rau kê chân kiềng nấu bếp, nghe thì cứ tưởng tiếu lâm, nhưng nó từng là sự thật ở Yên Bình. Ngẫm cảnh trù phú đó, ai cũng xót tiếc.
Vì nghĩa cả, bà con dứt áo ra đi.
Chủ trương di dân được thực hiện khá tốt, nhưng ngặt vì điều kiện eo hẹp, núi rừng hiểm trở, nên người nào ra đi bấy giờ cũng lao khổ đủ bề. Đoàn người quê ông Thái ngược lên Văn Yên xem đất. Đất ở đó không có. Đụng đâu cũng rậm rịt mịt mù cây rừng. Đẵn cây mà mở lối, vạch rừng mà đi tìm đất. Lúc đầu, kế hoạch là đi cả làng đến một khu vực, khai hoang dựng lán, vỡ đất làm ruộng rẫy, quy hoạch theo lối tụ cư xưa ở đôi bờ sông Chảy. Nhưng rồi đất không đủ. Thế là đổi hướng di cư... tự do. Ai đi đâu thì đăng ký mà đi. Khổ nhất là những người quá lưu luyến quê hương, họ cứ hy vọng là quê mình chưa chắc nước hồ đã ngập đến nơi. Cứ lần lữa, nấn ná. Đến lúc gấp rút rồi, thì mồ mả ông bà cũng không kịp chuyển đi. Thế là khóc càng to. Càng thê thiết. Bản thân gia đình ông Thái, nhiều mồ mả cũng chẳng kịp chạy nước. Lúc chuyển lên, khai hoang lập lán ở tạm rồi. Quay trở lại thì nước hồ đã dâng ngập hết mộ. Ông Thái bấy giờ ngoài hai mươi tuổi, chả biết rõ ràng lắm chuyện mồ ông mả cụ. Thế là phải mời ông bác già đi chỉ điểm, hướng dẫn. Rồi anh chàng Thái cùng vị trưởng lão lên thuyền, bơi ra ngoài hồ, dò áng chừng chỗ nào là nghĩa địa để tìm mộ. May là nước lên từ từ, bấy giờ nước mới cao tới ngực người trưởng thành thôi. Ông bác ngoài bảy mươi ngồi trên thuyền chỉ đạo, Lương Hồng Thái hì hụi đào. Dùng thuổng đào từng tí đất. Bẩy lên. Nước lớn, may mà mộ đã sang cát, nên bới cái tiểu sành cũng không quá khó khăn so với bới cái quan tài. Đào một tí, lấy chân dò dẫm tìm kẽ cho cây gậy lớn vào bẩy. Nước đục ngàu, hai ông cháu lại đợi vài tiếng cho nước nó trong trở lại mới nhìn thấy mộ để mà bẩy tiếp. Nước lớn, mộ ở sâu, lặn mà đào trong nước đục, lại thêm mộ ở đất đồi dưới đáy hồ nên khi bẩy nó rất dít nước. Nặng như chì. Ì oạp, đến tối, thì mấy cái tiểu sành mới được đưa lên thuyền. “Tôi rong thuyền chuẩn bị về, thì ông bác già, có lẽ do quá xúc động, đã rơi bòm xuống hồ. Tay giữ thuyền và tiểu quách, tôi ngụp xuống bế ông cụ lên, giữa trời gió lạnh hiu hiu. Trên bờ, khói hương vẫn nghi ngút. Cảnh ấy nó thảm sầu vô cùng, không bao giờ tôi quên được, không lúc nào tôi không bị ám ảnh...”, ông Thái hồi tưởng trong nước mắt.
Rất nhiều chùa, miếu, đình, nhà thờ còn nằm dưới đáy hồ
Vẫn là bà Lương Thị Tuyên, vợ ông Thái góp chuyện trong cái khoảng lặng quá lâu của chồng: đấy là phía nhà ông ấy (ông Thái), phía họ hàng nhà tôi, cũng bị mất nhiều mộ lắm. Ngày giỗ chạp, ai còn nhớ, cứ ra bờ hồ mà thắp nhang “vọng” xuống đáy nước thôi. Lúc di chuyển vội, mộ được tập kết ở nghĩa địa ngoài bìa rừng. Thế rồi cỏ mọc lên, lợn rừng nó húc tan hoang, nước cứ dâng lên thêm mãi. Không tài nào tìm thấy mồ mả nữa, mới năm ngoái, 2011, chúng tôi phải mời “thầy phù thủy” về làm phép cầu an. Chúng tôi dùng một cái gáo dừa làm đầu lâu, một bó chỉ đỏ làm quần áo, rồi cả mấy khúc cây núc nắc làm xương cốt... Thầy phù thủy làm hình nhân thế mạng. Gọi hồn. Chiêu hồn nhập mộ... giả. Cầu an cho ông bà ông vải nhà tôi, những ngôi mộ chìm sâu dưới lòng hồ. Cả những ngôi mộ bị thất lạc trong nghĩa địa giữa rừng. “Đấy là chúng tôi còn mò được mộ. Chứ nhà ông Tr., ông T... ở xóm này, họ đã bao giờ tìm được mộ của cha ông đâu. Ra đi là mất tất cả. Hy sinh tất cả, rồi thiệt thòi đủ đường. Chả được cái gì” - vẫn là giọng ông Thái.
Vợ chồng ông Thái gánh con chạy dọc bờ suối, ngược lên đỉnh núi, vừa đi vừa dè chừng máy bay Mỹ tấn công. Đói họ chịu được, rét họ không quản ngại. Cái đau đáu trong lòng chính là mồ mả, đình chùa miếu mạo bỏ lại phía sau. Đi bộ men theo các quả núi. Mà ai dám khênh đình chùa đi cơ chứ? Đồ đạc cá nhân còn không gánh nổi để trèo non chạy nước, ai mà khênh nổi cột đình vài con trâu kéo chưa suy chuyển đó đi. Đình làng Khoang nổi tiếng toàn bộ miền Bắc, vì sự cổ kính và vẻ đẹp kiến trúc độc đáo. Bà con ra đi, không mang được di sản bao đời gắn bó với cha anh mình kia theo, họ đau lắm. “Chúng tôi bảo nhau, xếp toàn bộ các bát hương, các quầy đựng cỗ, những cái ngai thờ, chuông, chiêng, trống, gươm, giáo, kiệu và đòn khiêng kiệu... tất tật để vào một cái nhà. Lúc ấy gần đình có cái nhà, chúng tôi dỡ ván ở đình xuống đóng quây bốn xung quanh lại, xếp các vật thiêng vào đấy. Thế thôi, mặc cho trời đất, thần thánh làm gì thì làm. Nước dâng lên, tất cả đã biến mất vĩnh viễn”. Thế nên, bây giờ nhiều người vẫn kể, những ngày trời trong, bà con nhìn thấy nhiều ngồi chùa, tòa đình và những gác chuông nhà thờ dưới đáy nước hồ Thủy điện Thác Bà. Có lần đi dọc 1.300 hòn đảo của hồ nước nhân tạo lớn thứ 3 Việt Nam đó, tôi còn nghe các lái thuyền kể về những ngày nước cạn, đỉnh tháp chuông của một nhà thờ còn chọc cả vào đáy thuyền người đánh cá. Vừa qua, nước hồ cạn, bà con khai quật được hàng chục di tích, đình chùa miếu mạo dưới đáy hồ thuộc hai huyện Lục Yên và Yên Bình của tỉnh Yên Bái. Nhóm làm phim khám phá của VTV2, Đài Truyền hình Việt Nam, do đạo diễn Hoàng Lâm phụ trách, vừa rồi cũng dành nhiều ngày lặn dưới lòng hồ Thác Bà, làm người nhái quay các “thắng cảnh”, “di tích” đã 50 năm phủ mờ xác rêu trong bụng nước.
Những ngôi chùa bằng đá, những mái đình cong vút, những cái kiệu thiêng biết “bay” bồng bềnh trên lưng các tráng đinh ven sông Chảy... đã nằm lại đáy hồ. Người làng Khoang chua xót bảo nhau mang sắc phong (thờ danh tướng Vũ Công Nhật làm thành hoàng) của đình ra đi. Bây giờ, cháu ông Thái, là anh Lân, người ở thôn Đoan Thượng, xã Tân Hương, huyện Yên Bình còn giữ tờ sắc phong có số phận khá kỳ lạ này. Ngành văn hóa Yên Bái đang có kế hoạch phục dựng ngôi đình này trên quê hương mới của đồng bào tái định cư. Tương tự, hiện nay, quả chuông rất đẹp của ngôi chùa ở Yên Bình “đã chìm” 50 năm trước vẫn đang được lưu giữ ở một nhà thờ của huyện Yên Bình “thời mới”. Bấy giờ không ai dám đem quả chuông đi, vì bà con sợ làm vậy “thần linh” sẽ quở trách. Các nhà thờ tuyệt kỹ như Vực Lẩm, Mỹ Đức, Đồn Điền, Đồng Lạng; các chùa danh tiếng chùa Bắp, chùa Chấu; rồi đền mẫu Thác Bà, cũng chung số phận nằm rong rêu đáy nước suốt gần nửa thế kỷ qua. Theo thống kê chưa đầy đủ từ một tài liệu tương đối đáng tin cậy, riêng huyện Yên Bình, có ít nhất 30 nhà thờ, 40 chùa miếu dọc hai bờ sông Chảy, cùng hơn 3.000 mồ mả của 37 xã đã bị vùi trong lòng nước.
Thế rồi, mỗi lúc phóng mắt ra mặt nước hồ mênh mang, ông Thái lại thấy đau buốt trong lòng. Ông nhớ nhiều đến những ngày hội làng. Hai hàng thiếu nữ thắt lưng xanh, dáng mềm mại đứng trước ngôi đền cổ, dưới bóng cây đa cổ thụ. Ông Thái nằm trong danh sách trai tráng được tuyển chọn để khiêng kiệu. Ngoài giọt gianh của đền, là các ngọn đuốc, chiêng trống tưng bừng, bà con đông đảo lắm. Chiếc kiệu bay qua cửa đền, bay qua khu giọt gianh, tràn xuống đám ruộng mượt mà. “Tôi không bao giờ tin là kiệu có thể bay. Thế mà hôm đó, các khối gỗ đặc quánh nặng trịch trên vai tôi nó bay. Cây đa như quay mấy vòng trong tầm mắt tôi. Đoàn người đám trên đám dưới cùng nhảy múa tưng bừng. Hai cây đèn hai bên kiệu, hai bát nước thờ trên kiệu cùng sóng sánh nhưng tuyệt nhiên... không hề đổ khi kiệu đang bay trên bốn bờ vai lực lưỡng. Tôi thấy mặt tôi nóng bừng, thấy bốn cô thắt lưng xanh lềnh kềnh ra chào khi chúng tôi “bay” kiệu đến gần khu Miếu Bà, dưới gốc những cây gạo đỏ rực hoa đang độ tháng ba...”, ông Thái dùng bàn tay già nua như dày vò khuôn mặt mơ màng hồi tưởng của mình. Ông khóc một cách không giấu diếm.
Rồi ông im lặng cho đến lúc chia tay chúng tôi.
Những chiếc giấy báo tử bị lạc đường
Cuộc di dân hào hùng với nhiều chuyện chua xót trên còn gây ra những hệ lụy nữa. Thời chiến tranh, trai tráng ra trận đánh đế quốc Mỹ cả, người ở nhà tổ chức di dân, các gia đình chỉ toàn người già và trẻ em. Phổ biến là cảnh đàn bà dùng quang gánh gồng đưa đàn con men theo suối, vượt qua núi đến chỗ hoang vu lập lán san nền, đẵn cây khoét núi mà “bới tìm” nhà cửa ruộng vườn. Thế rồi, khi nước đã dâng lên, quê cũ không còn trông thấy gì nữa. Bộ đội từ chiến trường mới gửi thư về thăm gia đình vợ con. Thư dồn ứ ở bưu điện huyện. Làm gì còn cái xã cũ nữa mà thư tìm về? Thư tín lạc đường, bà Dư cùng cán bộ lại ngồi ngẫm xem người xã Đại Đồng cũ thì có bao nhiêu thôn, chuyển đi những “mũi” nào ở các tỉnh, huyện, xã khác. “Ngay gia đình tôi cũng thế. Thời chiến, tất cả ra tiền tuyến mà. Nhà tôi có 3 cậu em thì lúc di dân, chả có ai ở nhà đâu, đây này, em dâu tôi (bà Dư chỉ vào bà cụ ngồi bên cạnh mình) lụi cụi đi “chuyển nơi ở mới” thì cậu ý đánh giặc ở tít mãi ngoài đảo xa cơ. Đến lúc trở về, có biết cửa biết nhà mình đang ở chỗ nào đâu. Đến lúc giải thể xã nhé, tôi nói cho anh biết, bao nhiêu thư của bộ đội gửi về, thì đã tên xã đó không còn trên bản đồ nữa. Bao nhiêu giấy báo tử gửi về, đích thân tôi phải đi tìm địa chỉ mới của người ta để... làm lễ truy điệu. Mãi gần đây, năm 2012, tôi ra xã lĩnh lương hưu, cán bộ vẫn túm lấy tôi, bảo bà ơi, bà ra giúp chúng con, giờ đây nhiều người đi tìm mồ mả, họ hỏi về cái xã chìm dưới đáy hồ năm xưa, đây bà xem...”, bà Dư thẫn thờ kể.
Sự hy sinh quá lớn đó, bao kiến nghị thống thiết lên các cấp như thế, vừa rồi một số xã từng hy sinh cho việc xây dựng thủy điện Thác Bà đã có điện (ngoài ra còn nhiều xóm làng vẫn 100% đèn dầu). Nhưng, ông Lương Hồng Thái thở dài: chúng tôi chả được gì, thiệt đủ đường. Xã tôi có điện, họ chả ưu tiên gì. Dân tự mua dây mắc điện về nhà. Họ bán với giá quá đắt: 1.900 đồng/ 1 “số” điện. Họ bảo, dân tôi ở xa công tơ tổng thì phải chịu thiệt thòi thôi, người giàu mới đến, họ ở gần công tơ, lại được mua... rẻ hơn. Cột điện thì mạnh ai nấy dựng. Con rể tôi là Trần văn Thanh, vừa rồi có 3-4 con trâu đi qua cột điện đều bị điện giật chết. Nó làm đơn kiến nghị xin hỗ trợ, vì cột điện nhà nước hở điện làm chết “sức kéo” của dân. Nó ra tận Sở điện lực, họ bảo, cứ về rồi sẽ tính. Rồi đến lúc họ trả lời: trâu bò đi qua cột điện bị giật chết,, đó là chuyện của dân với nhau, tự giải quyết với nhau thôi. Cột điện là do dân vùng lòng hồ tự dựng ra để kéo điện mà. “Lạ thế đấy”, ông Thái chán không buồn nói thêm câu nào.
Bài 3:
Nửa thế kỷ hy sinh vì thủy điện, vẫn chịu cảnh đèn dầu
Bà Lương Thị Lầm, năm nay ngoài 70 tuổi, nay sống ở thôn Đoan Thượng, xã Tân Hương, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Khi nhà nước bắt đầu có chủ trương di dân xây dựng thủy điện Thác Bà, năm 1959, bấy giờ bà Lầm đang là cán bộ Đoàn của HTX mua bán Làng Đán (cũ, nay đã ngập hết). Cán bộ dân chính Đảng đi vận động, bản thân bà Lầm cũng kêu gọi, rằng: hy sinh cho công trình lớn, khi điện thắp sáng, mình sẽ được dùng điện đầu tiên, sẽ thoát cảnh đèn dầu tù mù khổ sở. Ông Tình, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc còn nói rất rõ: đến lúc ấy, điện đường trường trạm khang trang, người già được nhà nước nuôi dưỡng toàn bộ, không còn phải thoi thóp sống trong đói nghèo nữa nhé. Bà Dư còn nhớ, cán bộ đi vận động dân vất vả lắm, vì đường xá xa xôi, Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND huyện đều lăn lộn khắp các làng bản suốt tháng. “Cùng lắm mỗi tháng chỉ có vài ngày ở nhiệm sở thôi. Lúc đi bản thì ăn sắn với dân. Lúc khát, đi qua cái mương dẫn nước bằng tre của dân bản, nhấc hai thanh tre ra, hứng miệng mình vào giữa mà uống. Uống xong lại “nối ống” trả cho dân. Lúc qua suối, có thể ngắt cái lá cây, cuốn nó thành cái phễu múc nước lã mà uống”, bà Dư đinh ninh. Rét thì đốt lửa sưởi, muỗi vắt như ong. Bù lại, bà con bấy giờ rất có tinh thần cách mạng, cán bộ nói gì là dân nghe tăm tắp. Vì thế, bây giờ ngẫm lại, bà Lầm đôi lúc cũng ái ngại cho cái việc: đến tận bây giờ mà nhiều xóm làng hy sinh vào rừng xanh núi đỏ hiến đất cho thủy điện vẫn phải chịu cảnh đèn dầu. Mỗi hộ được mấy trăm đồng gọi là tiền công điểm phát rừng san đất dựng lều lán cho mình. Mỗi nhà có mồ mả chuyển đi thì được hỗ trợ 1 đồng mua tiểu quách. Không có cảnh “di dân đến nơi ở mới phải tốt hơn nơi ở cũ” như bây giờ.
Phải nói, đó là một cuộc hy sinh quá lớn sự vì “hưng vong” của toàn dân tộc.
Cán bộ đi vận động di dân cảm thấy mình đã... nói dối!
Bà Lầm bấm đốt ngón tay, “các khe “vùng ba” khó khăn của xã chúng tôi còn nhiều quá. Khe Móc, Khe Mây, Khe Đồi Hồi, Khe Gáo, Khe Mạ”. Anh Nguyễn Trung Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã Bảo Ái thì thì kêu trời: xã tôi có tới 200 hộ dân của mấy thôn bản, họ ở sát mép hồ thủy điện Thác Bà, mà chưa bao giờ họ có điện cả. Anh Sơn dẫn chúng tôi vào bản Ngòi Ngần, đường núi non, lầy thụt, trường tạm bợ, điện chưa bao giờ vào đến với bà con, người mù chữ tràn ngập. Trong lịch sử dài đằng đẵng của Ngòi Ngần, tính đến năm 2012, chỉ mới có duy nhất con gái trưởng thôn Lê Thế Vinh là mới vừa tốt nghiệp cấp 3. Nhiều thôn bản mới tấp tểnh có điện, nhưng điện không đủ tải, nó yếu đến mức, “thắp sáng được thì không xem tivi được, xem tivi được thì thôi không thắp sáng. Mà điện yếu, nên tivi lúc “chiếu” phim nó cứ bị co màn hình lại, có khi hình ảnh chỉ bằng nắm tay. Điện yếu đến mức sờ tay vào không thèm giật!”. Vì sự vô lý và nỗi đau những sự hy sinh dường như bị quên lãng kia, mà bà Lầm thốt lên: hóa ra tôi đi vận động năm ấy, nghĩa là tôi nói dối, nói phét với dân ư? Chúng tôi bảo là nhà máy hoạt động thì sẽ có điện cho bà con, bà con được dùng dùng đầu tiên. Vậy mà chừng nửa thế kỷ trôi qua, điện vẫn phát, bà con vẫn tăm tối. Bà con kêu ca mỗi lúc họp dân, các ý kiến được chuyển lên xã, huyện, tỉnh, tới các đoàn đại biểu Quốc hội về tiếp xúc cử tri, các cuộc họp hội đồng nhân dân - họ muốn đề đạt nguyện vọng được sử dụng điện lên Nhà nước. “Nếu có điện thì bảo gì dân tôi cũng nghe. Chưa có điện, thì cán bộ vận động đóng tiền nong, quỹ kiếc, chúng tôi không hưởng ứng nữa đâu”, một cán bộ xã nhớ lại sự phàn nàn của bà con. Kêu mãi, rồi gần 50 năm trôi qua, vẫn chưa có điện. Nhiều người sống biệt lập cả xóm mấy chục hộ giữa lòng hồ, hàng ngày tắm táp, bơi thuyền, kiếm cá trên chính lòng hồ hàng tỉ mét khối nước sinh ra nguồn điện hòa vào lưới điện quốc gia đó; phía dưới đáy hồ là quê hương, mồ mả tổ tiên, di tích lịch sử văn hóa của họ - nhưng bản thân họ thì chưa bao giờ được hưởng thụ một “tia” điện nào. Bà Lầm bảo: Bí thư Đảng ủy xã cùng thế hệ cán bộ với bà Lâm, là ông Đặng Văn Quân, Chủ tịch Ủy ban là ông Nguyễn Văn Liệu, cả hai ông ấy đều chết rồi. Chỉ còn mình bà Lầm sống để nghe dân trách móc. “Chồng tôi cũng là Đảng viên, nên ông ấy không nói gì, song thật ra ông ấy cũng nghĩ và trách móc lắm việc thất hứa, bỏ quên này lắm”, bà Lầm thật thà.
Anh Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã Bảo Ái đi mượn mấy cái xe máy cho chúng tôi tự leo dốc cực cao, đường cực bùn nhão để vào thăm các thôn bản hy sinh vì lòng hồ thủy điện 50 năm qua, đến giờ vẫn chưa bao giờ có điện lưới. Mất cả tiếng đồng hồ đánh vật với các cung đường rợn tóc gáy, chúng tôi nhìn thấy rất rất nhiều hòn đảo xanh soi gương xuống mặt nước hồ thủy điện Thác Bà. Bảo Ái có hơn 9.000 dân, là xã đông dân thứ nhì của huyện Yên Bình (chỉ “thưa” dân hơn thị trấn huyện lỵ). Thôn Vĩnh An có kéo dây “xin xỏ” được ít điện cho vài hộ. Còn Ngòi Ngần thì 100% chưa bao giờ có điện. Riêng Bảo Ái có 4 thôn chưa có điện. Xã, huyện, tỉnh chả có dự án đưa điện vào. Ngành điện thì họ kinh doanh, đầu tư hệ thống dẫn điện vào góc rừng đó thì... lỗ tan thây. Thế là bên cái ngành “độc quyền” kia họ cứ bỏ mặc bà con. Chúng tôi liên lạc với ông Giang, Giám đốc Thủy điện Thác Bà, ông cho biết: ông cứ tưởng 100% bà con di dân năm xưa đã có điện. Nhiệm vụ của đơn vị là sản xuất điện, chứ không phải kéo dây điện hay trích quỹ phúc lợi ra lo cho những người chưa có điện kia. “Cái này các anh phải về hỏi Sở Điện lực Yên Bái ấy”, anh Giang nói. Một lãnh đạo tỉnh Yên Bái thì khuyên nên gặp ông Thực, Giám đốc Sở Công Thương Yên Bái mà hỏi.
Chuyện khó tin ở xã có 4 thôn 100% đèn dầu
Với 110 hộ dân, với 565 khẩu, thôn Ngòi Ngần chiếm tới 90% dân số là người có nguồn gốc từ dưới đáy lòng hồ thủy điện Thác Bà “ngoi lên”. Trưởng thôn Lê Thế Vinh là người Tày, xốc vác lắm. Anh vốn là công an viên, ngay từ năm 1996, lúc mới “nhận chức”, thấy thanh niên rượu chè, đánh lộn quá mức, anh rà soát rồi vạm vỡ xông pha bắt tất. “Họ sợ tôi đến mức, có xô xát gì, chả ai dám báo với tôi nữa. Như thế lại không tốt cho công tác an ninh. Nhưng vì bắt nhiều người quá, tôi mới nhận ra hầu hết họ không biết chữ. Tôi bèn dạy họ cách vẽ tên mình to như quả trứng gà, gọi là ký biên bản. Có khi họ đánh vật khoảng 7 phút mới vẽ xong một cái chữ là tên của họ”, anh Vinh chua xót.
“Bà con thấy tôi nhiệt tình, bầu luôn làm trưởng thôn’. Càng gặp gỡ bà con, anh Vinh càng thấy đau cho thảm cảnh của những người hy sinh vì thủy điện mà chịu cảnh đèn dầu ngay cả khi thủy điện đã hoạt động ầm ầm từ suốt gần nửa thế kỷ qua. Lúc đầu là 5,3 vạn người ra đi, gần nửa thế kỷ qua, con cháu chắt của những người đó đã sinh ra, thậm chí đã chết đi khá nhiều - xin nhấn mạnh: tất cả số dân khổng lồ đó, đều chung số phận bị bỏ quên giữa rừng xanh núi đỏ! Chồng của bà Lương Thị Đánh, trước khi chết, chỉ đau đáu ước ao, giá mà thôn Ngòi Ngần của mình có điện thì tôi chết cũng nhắm được mắt. Bà Lương Thị Săm, chị gái bà Đánh, ngoài 70 tuổi, từ khi theo mẹ di dân từ chỗ nay là đáy hồ lên miền rừng nay gọi là bản Ngòi Ngần để vỡ một mảnh ruộng giữa rừng hoang vẫn liên tục cầu trời cho quê mình có điện. “Tôi thấy cách đây 10 năm người ta đã vào khảo sát, nói là sang năm làm đường điện vào Ngòi Ngần, nhưng càng chờ thì càng... mất hút. Chúng tôi đã kiến nghị lên tất cả các cấp rồi, nhưng tuyệt nhiên chưa một ai trả lời chúng tôi là bao giờ thì quê tôi có điện. Suy nghĩ thấy nó “tiêu cực” trong lòng quá”, bà Đánh đanh thép nói. Cứ đèn dầu leo lét. Trẻ con thì tắt mặt trời là leo lên giường ngủ, thành thử học dốt, bỏ học đồng loạt. Người lớn cũng “tắt đèn” như vậy, thành ra đẻ quá nhiều. Bà Đánh đi làm cộng tác viên dân số của thôn bao năm nay, cũng vì lý do đó; ngoài ra bà còn kiêm cả các “chức vụ” dài dòng khác: tổ trưởng tổ vay vốn, trưởng ban mặt trận... thôn.
Không có điện, bà con nghĩ ra đủ cách để chung sống với bóng tối và cái nóng nực kinh khủng của mùa hè. Mỗi người một cái quạt làm bằng lá cọ. Nhà nào khá giả thì mua máy nổ, dăm bảy nhà chung một cái, song cứ hai tiếng chạy máy thì mất vài ba trăm nghìn đồng, ai cũng phát hoảng “bỏ máy chạy lấy người”. Có người dùng ắc quy nạp điện, trèo núi ra xã nạp rồi về nhà lấy chút ánh sáng. 90% số hộ của thôn Ngòi Ngần là thuộc diện đói nghèo. Xã Bảo Ái có tới 4 thôn chưa có điện lưới. Bà con đang có xu hướng dùng máy thủy điện nhỏ thả dưới suối để sản xuất điện cho từng gia đình. Nhưng “sáng tạo” này còn gặp bi kịch hơn. Suối Ngòi Ngần bao năm ào ạt trong xanh, từ ngày ai đó nghĩ ra chuyện thủy điện nhỏ, thì nước suối cạn trơ đáy. Cá tôm biến hết. Người ở đầu nguồn nước chặn suối lại, tích nước hòng phát điện cho nhà mình. Toàn bộ hạ lưu của suối cạn trơ, các thủy điện nhỏ khác biến thành cục sắt ghỉ vô dụng. Có khi, nhà bà Hoàng Thị Đánh (SN 1952), nhà anh Vinh, vì ở cuối nguồn nước, nên cứ chờ đến 21h đêm, nước trên nguồn được “thả” về, mới có thể... le lói phát ra ánh sáng phục vụ việc ngủ. Có đợt, suốt mấy tháng trời không một giọt mưa, thủy điện nhỏ không thể hoạt động. Vì không có điện, nên ở Ngòi Ngần gần sáu trăm nhân khẩu, quá nhiều người mù chữ và mới chỉ có 1 người tốt nghiệp cấp 3. “Mù chữ đi vay vốn ngân hàng khổ lắm, phải điểm chỉ. Nhưng khổ hơn là hơn nửa thế kỷ hy sinh cho thủy điện, lên rừng rú khai hoang, dựng bản làng nhà cửa, đến giờ 100% đất ở của người dân vẫn chưa hề có sổ đỏ. Không có sổ thì dĩ nhiên không ai được thế chấp vay tiền ở bất kỳ cái ngân hàng nào, trừ ngân hàng chính sách xã hội. Trong khi đó, Ngòi Ngần có đến 90% số hộ thuộc diện đói nghèo. Cái vòng luẩn quẩn đó, đêm nằm, trót là trưởng thôn rồi, tôi càng không tài nào ngủ được”, anh Vinh giãi bày.
Hạt thóc bị bỏ quên trong đáy hòm
Nhiều người Ngòi Ngần buồn lắm, tối đến là họ lặn lội ra phía đường nhựa cách nhà mình dăm bảy quả núi cao, đường đi hiểm trở 5 - 6km chỉ để ngó cái bóng điện, hưởng tí gió từ quạt điện. Bà con kiến nghị ầm ầm. Đơn thư lên tỉnh, bà con được trả lời là cần phải chờ đợi, kinh tế nói chung đang lạm phát, chính quyền rất quan tâm nhưng chưa thể đầu tư được đường điện về Ngòi Ngần được. Có ông Hoàng Văn Các, là đại biểu quốc hội rất có uy tín, ở tuổi gần 80 vẫn được vời ra tỉnh họp hành thường xuyên, trước khi chết cách đây hai năm, ông Các buồn quá ngồi khóc, bảo với người Ngòi Ngần là: chúng ta hy sinh cho nhà nước làm thủy điện, hy sinh không tiếc một cái gì. Giờ điện sáng, nhà máy làm giàu cho bao nhiêu người suốt hơn 40 năm qua, chắc là họ quên mất chúng ta rồi. Nhà xây khang trang, chúng ta là hạt thóc bị bỏ quên trong đáy hòm ở góc bếp. Đành chịu thôi.
Tất cả các đoàn cán bộ có thể gặp được, người Ngòi Ngần đều đã gặp và kiến nghị chấm dứt những cái vô lý mà mình đang phải gánh chịu. Phó Chủ tịch Nguyễn Trung Sơn buồn rầu: họ cứ hỏi mãi, chúng tôi thương và chia sẻ với bà con lắm. Nhưng không biết trả lời thế nào, vì mình ở cấp cơ sở, có biết câu trả lời là thế nào đâu. Chúng tôi cũng đi hỏi, lên tận tỉnh, tận các đoàn cao cấp, chỉ một đau đáu mà bà con gửi gắm: bao giờ thì Ngòi Ngần và nhiều vùng dân cư của Bảo Ái có điện? Không ai trả lời được. Chúng tôi cũng chỉ còn biết hứa bà con là cố mà chờ đợi, hy vọng. Một cán bộ tiết lộ: bây giờ vào vùng từng “ra đi” vì thủy điện năm xưa mà vẫn chưa có điện kia để vận động chính sách, khó khăn lắm. Bà con không hẳn là tiêu cực quá đâu, nhưng họ bức xúc quá nên “bày tỏ quan điểm” rất dữ dội. Họ bảo cho tôi điện sáng, tôi sẽ tham gia đóng góp các quỹ mà quý vị vận động, sẽ tham gia đầy đủ các trách nhiệm xã hội kia. Ông Lương Hồng Thái giọng đầy chán nản: trước đây, chúng tôi cũng nhiều lần nghe cơ quan cấp trên đề nghị phương án đề nghị Thủy điện Thác Bà và cơ quan hưởng lợi từ nhà máy này hãy trích một phần kinh phí ra, bù đắp thiệt thòi cho bà con. Chứ so sánh với bây giờ, người dân di ra khỏi vòng lòng hồ các thủy điện khác, họ được quá đầy đủ, tiền nong, nhà cửa, đất đai, điện đường trường trạm; có khi chỉ chuyển một khối đá di tích thôi, cũng mất vài tỷ của nhà nước rồi... thì mới càng thấy, bà con chúng tôi hồi đó thiệt thòi quá. Bây giờ vẫn sống cảnh đèn dầu còn thiệt thòi hơn”. Bố đẻ trưởng thôn Vinh là cụ Lê Thế Hưng, ngoài 70 tuổi, sức đã yếu lắm, cụ di khỏi quê cũ, sống lang thang trên thuyền bè, rồi định cư vào Ngòi Ngần phá núi lập thôn bản từ mấy mươi năm trước. Giờ gần đất xa trời, điện chưa về đến quê mình, ông cứ ngồi phe phẩy quạt lá cọ, ngắm cái đèn dầu đỏ đòng đọc (xem ảnh), đay đi đay lại: Nhà nước quên mất nhóm dân hy sinh vì thủy điện này rồi.
“Trường mầm non của thôn, ươm mầm thế hệ tương lai của Ngòi Ngần, hiện nay vẫn đang tận dụng cái bếp hoang ám khói, cỏ mọc lan lên mép nhà của gia đình ông Quang cho cô trò các cháu “chăm ngoan học giỏi”. Điện thì chưa một ai được sử dụng. Đường 6km chon von, nhảy chồm chồm bên mép vực, các nhà báo vừa đi rồi, muốn đánh giá nó là đường loại nào thì đánh giá. Đấy, chúng tôi bị đối xử như vậy đấy”, anh Vinh cười buồn buồn mở đầu câu chuyện trong tiếng phành phạch quạt bằng quạt lá cọ mà tâm sự. Phó Chủ tịch Sơn cũng não lòng ngồi nghe, “chúng tôi chẳng biết phải làm thế nào để giải thích cho bà con hiểu”. Năm nay 79 tuổi, mấy chục năm đến nơi ở mới, chỉ lo sơ sểnh bước một chân ra khỏi cửa là rơi tõm xuống hồ Thác Bà, ông Trương Văn Than (người Dao, ở Ngòi Ngần) không tài nào hình dung được, đến tận bây giờ, gia đình ông vẫn chưa bao giờ được dùng điện. Ông cùng hơn hơn năm vạn đồng bào đã chôn rấp tất cả ký ức, tài sản, quê hương cho lòng hồ này. Ông cứ nghĩ, mình sờ vào nước hồ đang đổ vào tuốc bin phát điện kia, đôi lúc đã cảm thấy tê tê, điêng điếng như thể dòng điện nước nhà nó chạy qua cơ thể. Ở gần nhà máy đến mức ấy, rơi tõm trong hồ của nhà máy như thế, mà sao vẫn không được dùng điện nhỉ? 9 người con ông Than cũng thắc mắc duy nhất một điều như cha mình, tưởng như cái lý của người Dao nơi này rất “có lý”: “chúng tôi ở gần nhà máy thế cơ mà, điện đến chỗ tôi trước chứ, sao tít ngoài phố xá, tít Hà Nội người ta lại có điện mà chúng tôi thì mãi phận đèn dầu quạt mo?”.
Nhà cửa hổng hoác, đứng trong nhà nhìn thấy bầu trời. Muốn đến nhà ông Than, người ta phải đi bộ theo lối lăn như quả bóng từ đỉnh núi xuống, nhỡ tay là lăn tuột xuống hồ thủy điện 3,9 tỷ mét khối nước. Bởi dốc dác quá cao, đường đất đỏ trơn trượt. Nhìn cái cảnh họ cầm đóm nứa soi cho nhau ăn cơm trong bịt bùng trời đêm Ngòi Ngần, đúng là vô lý rớt nước mắt. Tại kỳ họp Quốc hội năm 2012 vừa rồi, có đại biểu đã tổng kết: trong nhiều vạn người phải di dân tái định cư vì sự nghiệp công nghiệp hóa của đất nước ta, thì những người di dân tái định cư cho các lòng hồ thủy điện là khổ nhất. Thiếu thốn của họ, việc mất hoàn toàn dấu vết quê hương bản quán của họ là cái gì đó không tiền bạc nào bù đắp được. Huống hồ như người dân ra đi vì lòng hồ Thủy điện Thác Bà, họ gồng gánh, tay trắng bỏ quê hương, phá rừng dựng lán vô cùng lao khổ. Huống hồ đã gần nửa thế kỷ “đại công trình của họ” đã phát điện, đến giờ họ vẫn đói nghèo “toàn tập”, chịu cảnh đèn dầu với điện đường trường trạm tạm bợ hết chỗ nói. Chuyện buồn diễn ra tương tự ở các thôn Vĩnh An, Ngòi Nhầu, Ngòi Ngù, Ngòi Kè (cũng thuộc xã Bảo Ái). Vừa rồi, hên nhất là thôn Ngòi Ngù, sau bao nhiêu kiến nghị, chờ đợi, điện đã dò dẫm tìm về. Vài nơi khác, bà con kéo, mắc, “ăn” ké điện của các đường dây điện ở gần chỗ quê mình, nhưng vì là ở cuối nguồn, nên điện yếu lắm, yếu đến mức bật đèn không sáng, sờ tay vào mà “điện lưới” cứ “lành hiền” không thèm giật.
Chỉ riêng trong xã Bảo Ái, đã có 4 thôn “hy sinh vì trái tim thủy điện Việt Nam” với khoảng 200 hộ dân hoàn toàn chưa bao giờ được sử dụng điện lưới quốc gia. Trong khi đó, khi hơn 5 vạn bà con gạt nước mắt bỏ vùng quê trù phú nghìn đời gắn bó ven sông Chảy vào rừng “khai sinh” ra quê hương mới từ con số không, suốt nửa thế kỷ qua, ai cũng đinh ninh lời hứa của cán bộ rằng hy sinh như thế, rồi họ sẽ được đền đáp, ít nhất bằng việc sớm cho sử dụng điện lưới quốc gia. Thế rồi chồng bà Đánh, hơn 40 năm sau khi nhà máy chính thức phát điện, ông vĩnh viễn về với tổ tiên ông bà, chỉ với một đau đáu: bao giờ thì quê mình mới có điện? Ông Các hai tay chắp bụng chỉ biết thở dài: mình là hạt thóc bị bỏ quên trong đáy hòm, các con ạ. Trưởng thôn Vinh ao ước: nếu có tin điện về Ngòi Ngần và các thôn của Bảo Ái, tôi tin bà con sẽ đồng loạt mổ trâu bò ăn mừng. Chỉ sợ, đến lúc được mổ trâu ăn mừng, thì thế hệ trực tiếp gánh bát nhang, gánh con cái rời quê đi khai hoang lập lán năm xưa đã chết chẳng còn một ai. Không có điện, kéo theo mù chữ, thất học và đủ thứ khổ sở khác. Câu chuyện điện lưới hay chưa điện lưới ở đây, bỗng dưng nó đã rẽ sang một ngả khác, ấy là niềm tin của bà con vào lời hứa của người cán bộ. Ấy là ý nghĩa nhân văn của một đại công trình đang cổ phần hóa, đang đem lại giàu sang cho nhiều người ở cái ngành “độc quyền” như ngành điện, cớ sao chúng ta không có chính sách trích quỹ phúc lợi ra để tỏ lòng tri ân với sự dâng hiến của hơn 5 vạn cư dân (gần 50 năm qua, con cháu họ sinh ra rất rất đông nữa) cho nguồn sáng, kho “vàng trắng” đầu tiên của Việt Nam? Chúng ta đang xây hàng trăm cái thủy điện lớn nhỏ khắp các tỉn thành, liệu “bi khúc Thác Bà” có còn tái diễn không?
Có lẽ, phải gọi vấn đề kể trên là chuyện khó tin nhưng có thật ở đời.
Hàng trăm công nhân đã hy sinh khi xây dựng nhà máy Thủy điện Thác Bà
Tháng 9 năm 1960, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định xây dựng Nhà máy Thuỷ điện Thác Bà nằm trên dòng Sông Chảy trên địa bàn Huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái với sự giúp đỡ của Liên Xô (công suất 108MW, sản lượng bình quân năm cỡ khoảng 400 triệu KWh). Trong quá trình thi công, năm 1965 không lực Mỹ bắn phá Miền Bắc, công trường đã trở thành chiến trường chống trả lại máy bay Mỹ, hàng trăm CBCNV đang xây dựng đã anh dũng hi sinh. Tháng 9-1966, đội ngũ chuyên gia Liên Xô tạm nghỉ về nước để đảm bảo an toàn, các máy móc thiết bị được tháo rỡ đem đi sơ tán. Ngày 05/10/1971, ánh điện trong các gian phòng và công trường bừng sáng, tổ máy số 1 chính thức phát điện vào lưới Miền Bắc
Từ ngày 12-12-2005, Công ty Thuỷ điện Thác Bà đã tổ chức phiên đấu giá bán cổ phần lần đầu ra bên ngoài với khối lượng là 15.386.000 CP cho hơn 210 nhà đầu tư, thu được hơn 171 tỷ đồng. Ngày 31-3-2006 Công ty Thuỷ điện Thác Bà chính thức chuyển thành Công ty cổ phần Thuỷ điện Thác Bà hoạt động với cơ chế đa chủ sở hữu, trong đó Tổng công ty điện lực Việt Nam nắm quyền chi phối.
Đ.D.H
Xem ảnh tại đây:
http://laodong.com.vn/Phong-su/Toi-den-o-trai-tim-thuy-dien-Viet-Nam/79282.bld
(Bài dự kiến tiếp theo: Phản hồi của cơ quan chức năng, như tập đoàn Điện lực, Điện lực Miền Bắc, Sở Điện lực Yên Bái, UBND tỉnh, huyện sở tại... )
Kèm theo chùm ảnh












