chim cá tiến vua
Sunday, December 9, 2012 3:16:02 PM
Săn chim Tiến Vua để… làm giàu
Bài và chùm ảnh của: Doãn Anh
Xuân sang, ngày rộng tháng dài, người ta hay nhớ đến những món thời trân ngon nghẻ. Biết thế nào là ngon với “nhân vô thập toàn”, hàng triệu cái miệng, mỗi miệng mang một phong vị thưởng thức khác nhau? Thế là thiên hạ bảo nhau: món gì vua chúa đụng đũa khua bát đến, y rằng món đó phải ngon. Không ngon và bổ bằng hương vị, bằng đầu lưỡi chót môi, thì ít ra nó cũng được cái tiếng “Tiến Vua” một thuở. Ăn cái đó hẳn là oai oách lắm.
Sâm cầm chỉ còn ca khúc của Trịnh Công Sơn ?
Nghề chơi cũng lắm công phu, một gã chơi súng săn thủ thỉ: cứ nhồi đạn ghém, đi bắn chim sâm cầm Tiến Vua, mà gã làm giàu được đấy. Người nghèo nhiều, người nghèo dễ tổn thương nhất trong các biến động của xã hội kim tiền, thì đó cũng là lúc số người giàu một cách khó hiểu “đột biến tăng” cả về chất lẫn về lượng. Và người ta thích ăn món tiến vua. Rau muống ở Linh Chiểu (Sơn Tây), con chim dơi dơi sống ở Sài Sơn (Thạch Thất, Hà Nội); con cá chép bơi lội ngoài đồng Bương Cấn (nơi từng nổi tiếng trong thơ Quang Dũng “bao giờ trở lại đồng Bương Cấn/ về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng”, Quốc Oai, Hà Nội)… - tất cả bọn chúng đều nằm trong hệ thống bốn món tiến vua linh diệu của xứ Đoài cổ. Rồi ngược mãi sông Lô, sông Gâm, họ đi tìm cá Anh vũ Tiến vua ở khắp dải đất Phú Thọ, Tuyên Quang, Cao Bằng. Đặc biệt bị tàn sát thê thảm là những đàn chim sâm cầm “tiến vua” di cư từ phương Bắc xuống. Hễ chúng cứ đáp vào các ao đầm tờ mờ sương khói đầu đông ở Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang…, là đì đùng đạn nổ. Là ì oạp lưới giăng giật nảy. Người ta đoạt mạng loài chim quý nhờ ăn củ sâm bên xứ Cao Ly (Hàn Quốc) mà mang tiếng bổ dưỡng. Sách của nhà bác học Lê Quý Đôn, của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đều có viết về loài cá Anh Vũ ở vùng ngã ba sông Bạch Hạc (chỗ cầu Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bây giờ), nó ăn rễ cây chiên đàn nghìn tuổi mà nên thiêng nên quý, được vua chúa phong kiến bắt dân phu truy lùng về tẩm bổ. Lịch sử ghi rõ, vua Tự Đức từng nhiều năm có chỉ dụ bắt người dân vùng ven Hồ Tây phải cống nộp rất nhiều chim sâm cầm, nộp theo cả đôi trống - mái. Hồ Tây, với bầy sâm cầm đó, đã quen thuộc với nhiều người trong ca khúc của Trịnh Công Sơn “Nhớ mùa thu Hà Nội”: “Hồ Tây chiều thu, mặt nước vàng lay, bờ xa mời gọi. Màu sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ, vỗ cánh mặt trời”. Tiếc thay, người Hà Nội giờ có lẽ chỉ còn nhìn thấy chim sâm cầm trên Hồ Tây thông qua… câu hát?
Một ngày bắn được… 30 triệu đồng!
Không phải thế, sâm cầm vẫn bay đen nhoáy các mặt đầm Đất Tổ. Các tay thợ săn chim quý rất nhẫn tâm. Chúng thường có “cửa” để… “qua mắt” chính quyền địa phương, công an khu vực. Bởi khi khoác súng săn ra đường, lặn lội về các vùng quê xiết cò, là một điều sai đối với quy định an toàn vật liệu nổ và bảo vệ môi trường của nhà nước. Bởi thế, thường các tay chơi súng săn phải giàu có chút đỉnh, nếu không là đại gia kếch sù. Bọn chúng thường có chút thế lực. Ở một số xã của tỉnh Phú Thọ, nơi có nguồn chim quý di cư đỗ lại khá lớn, có một mô hình khá ngộ nghĩnh và chua xót: lãnh đạo xã, hè nhau mua súng, thành lập “hội săn bắn”. Thế là không ai bắt họ được nữa. Chỉ có dân thôn nhìn cảnh đó là hơi thấy khinh bỉ và hoang mang...
Tay thợ săn cho tôi đi theo bắn sâm cầm đợt này không giàu, không là quan địa phương, đơn giản là hắn biết luồn lách ngồi vai ông nọ dọa nạt ông kia để vác súng đi nghênh ngang khắp chốn và… siết cò. Chọn một ngày trời u ám sương mù kiểu “màu sương thương nhớ” trong nhạc Trịnh Công Sơn, chúng tôi rời thành phố Việt Trì, đi về hướng Bắc khoảng 50km, đó là khu vực cực kỳ nhiều chim sâm cầm. Mùa đến, nếu đầm nước này mà không có sâm cầm, thì cả miền Bắc chắc chắn không có nổi con nào. Minh (tên gã thợ săn ấy) vừa chơi, vừa buôn súng tự chế, súng săn các loại, kiêm luôn cả việc sửa chữa, buôn đạn nổ từ bên kia biên giới về. Một chiếc xe máy tàu tàu. Hai khẩu súng, một đạn ghém lớn, một đạn ghém cỡ bé nhưng nòng dài. Một bó nến, ít hạt chì, một túi cát tút các cỡ. Hết đạn, hắn lại mang cát tút ra, lấy muỗng nhựa múc hạt chì nhồi vào cát tút, thả ít giọt nến lên trên, trước khi nhồi thuốc nổ vào. Và bắn. Năm ngoái, Minh nhồi thuốc súng, vừa nhồi vừa hút thuốc lá, bị thuốc nổ bùng lên, cháy xém mặt mày, trụi hết tóc và lông mày, mặt chín rộp như bánh đa, phải về viện bỏng quốc gia nằm 9 tháng ròng. Năm nay, hắn vẫn vô tư phì phèo điếu thuốc, tiếp tục nhồi đạn đi săn.
Chim sâm cầm làm sạch ruột, ngâm một bình rượu cả đôi trống mái, thị trường “đen” giờ có giá khoảng 3 triệu đồng. Phải có mối quen mới mua được hàng “tốt” - chưa bị trưng cất mất nước cốt, và đúng là loại chim sâm cầm tươi đem “tửu táng”. Chả biết có bổ dưỡng âm dương gì không. Chỉ có một điều chắc chắn, vì là chim nước, nó di cư dọc địa cầu, ngâm cả lông cánh nội tạng vào hũ, nên “rượu sâm cầm tiến vua” uống rất tanh. Điều chắc chắn nữa: bầy sâm cầm tuyệt mỹ bị bắn hạ quá dã man. Bắn không thương tiếc. Bắn đến tuyệt diệt giống chim vốn được sử sách ghi là chim quý tiến vua này. Sâm cầm về Đất Tổ theo mùa, là bởi vì “các gã giang hồ chuyên nghiệp” này có lộ trình hàng năm đi dọc từ Nam đến Bắc, từ Bắc đến Nam bán cầu. Gọi là chim di trú, nó bay theo cái nhịp mùa ấm áp của quả đất, để tránh không gặp mùa đông quá buốt giá. Nó ăn củ nhân sâm trên núi Trường Bạch (Cao Ly) nên gọi là sâm cầm (chim ăn sâm). Nó ghé qua Việt Nam là bởi vì nó bay mãi nhiều nghìn cây số phải mỏi cánh, phải dừng lại ở các “nhà ga” tiếp nhiên liệu (thức ăn). Việt Nam vốn là một bến đỗ êm đềm, ít ra là từ cái thời ông Trịnh Công Sơn viết “bầy sâm cầm nhỏ, vỗ cánh mặt trời” mấy thập niên gần đây. Nhiều tổ chức nghiên cứu về chim đã bắt, cân, đo, tìm hiểu rồi đeo vòng vào chân sâm cầm để theo dõi lộ trình của nó, khả năng sinh trưởng và chịu đựng các hình thái thời tiết của nó. Nghiên cứu nhằm bảo tồn. Mặc người ta nâng niu loài chim quý, vào tay Minh, xiết cò, đạn nổ, cả bầy sâm cầm cùng rũ cánh nổi trên mặt nước cùng lúc, thế là xong. Lấy kìm vặn bỏ cái “vòng vèo nghiên cứu” của Tây Tàu “rỗi hơi”, hắn cứ ngâm rượu, bán 3 triệu đồng/đôi. Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi, Minh làm giàu mấy chốc. Có lần, đi bắn một ngày, Minh thu trọn 30 triệu đồng tiền sâm cầm.
Nhiều khi, bọn chúng còn làm giàu hơn, nhờ bắn các loài chim giông giống với sâm cầm (như vịt trời), rồi nhuộm lông chim đi, cắt bỏ chân đi, nói là chim tiến vua (vì sâm cầm có bàn chân và các màng ngón chân tròn xoe, không lẫn với bất cứ loài nào khác), cứ thế bán tống bán tháo… thu bộn tiền. Một dạo ở vùng Hà Đông, khu đường Láng Hòa Lạc, khu vực Công viên Bách Thảo, Thống Nhất (Hà Nội) con buôn vỉa hè rao bán rất nhiều chim sâm cầm bị cắt chân (nói là dính bẫy mất chân), thực chân là sâm cầm giả cầy.
“Kỹ nghệ” bắn chim Tiến Vua
Các huyện Hạ Hòa, Cẩm Khê, Yên Lập của tỉnh Phú Thọ, đến tiết đầu đông, trước và sau Tết nguyên đán, sâm cầm về rất nhiều. Loài chim đến từ các miền đất xa xôi, ở phương ấy, người ta không nã đạn vào thiên nhiên thảm khốc như Việt Nam ta, nên sâm cầm (và nhiều loài di trú) rất ngốc nghếch. Chúng không biết sợ con người. Chúng không đề phòng láu lỉnh như những loài “nội địa” thường xuyên bị bắn, bẫy - như: chim sẻ, chim ri, chim chào mào sáo sậu. Sâm cầm xà xuống mặt đầm Văn Khúc như một cơn mưa đen nhánh. Chúng bơi lội, nhập đàn chung vui với lũ vịt trời, le le, thậm chí cả vịt nhà mà nhoanh nhoách ăn tôm cá, ăn cả rong rêu. Minh cùng nhóm bạn “kinh doanh súng đạn và chim trời” có muôn vàn “kế sách” để hạ gục được nhiều sâm cầm nhất trong chỉ một lần “cất vó”. Có khi, chúng nạp sẵn mỗi khẩu súng săn một viên đạn loại lớn (có đường kính đầu đạn là 12mm chẳng hạn). Một lần xiết cò, đạn ghém bung ra cả trăm viên bi sắt, đạn bay thành cầu vồng, thành hình ô doa, đạn lo era giống như luồng ánh sáng của một cái đèn pin khi nó dọi vào đêm tối. Tất cả những con chim ở “miền sáng” của “ánh đèn đạn hoa cải” đó, đều bị hạ sát. Khi “bầy sâm cầm nhỏ” chao liệng chuẩn bị ‘vỗ cánh mặt trời” quanh mặt đầm Văn Khúc, thì ba khẩu súng cùng nổ, cả đàn chim rụng lả tả như những cánh diều bị ngắt gió đột ngột. Thảm thương vô cùng.
Đôi khi, đám thợ săn phải nằm im dưới bèo và các bụi cây nước cả buổi chiều để rình. Đôi khi, chim sâm cầm cứ kiếm ăn và nô đùa, Minh cùng các đệ tử mỗi đứa ôm một cái phao làm bằng săm ô tô bơm cứng. Chúng đội lá móc ngụy trang, bơi dần dà, nhẹ nhàng sang phía đàn chim. Rồi ra tín hiệu “hai ba!”, cả nhóm đồng loạt nổ súng. Sau khi những tiếng vang lên súng cùng lúc, ít có chim nào chưa chết hoặc bị thương. Vài con sống sót thảng thốt bay lên, Minh lại cho người đón sẵn các loạt đạn ô doa bắn ở trên… trời. Cơn mưa sâm cầm màu đen xõa cánh trên mặt đầm, máu chim loang đỏ các gã ở trần trùng trục đang quơ quáo tìm chiến lợi phẩm dưới mặt nước rong rêu. Một đứa thở dài: “Bắn đạn to quá, chúng nó chết cả, mất toi mấy hũ rượu tiết sâm cầm”. Minh nháy mắt đắc chí vuốt dọc nòng súng lã chã nước đầm, sương khói bảng lảng hiu hiu lạnh: “Súng này, đạn này, bắn bọn chim bé mọn này, bắn trượt… mới là khó! Chả hiểu sao bọn giàu có chúng nó cứ thích mua chim tiến vua, chứ anh ăn mãi thì chỉ thấy tanh òm. Có khi, một bữa rượu, anh làm hết cả 10 con! Thì cứ đánh chén nhòe, để xem sau này mình có làm… vua không”.
Minh xây nhà lầu, phát triển nghề bắn sâm cầm với chân rết cung cấp “đặc sản” rộng khắp miền Bắc. Hắn còn lấn sân sang cả món tiến vua khác là cá anh vũ, cá chiên. Vẫn là kích điện, giã nhủi, vẫn là mìn tự chế. Bọn chúng bóc trần các lòng sông lên, giết đến cả ấu trùng các loài thủy sản, để kiếm cá tiến vua, bán với giá vài triệu đồng một cân. Cá anh vũ có cái mõm trù trù như mõm lợn do nó là cá chỉ sống ở các môi trường nước chảy xiết, nó phải dùng miệng bám vào đá, phải cày miệng xuống đáy vực gờ đá để cạo rêu ăn (nên bà con còn gọi là cá mõm lợn). Cái mõm của cá anh vũ, tương truyền là món thời trân, tích tụ tinh túy của đất trời, xưa kia vua chúa bắt lương dân phải đi tìm về cung tiến. Con cá chiên, thịt vàng như nghệ, nặng vài chục ký lô, bơi lừ lừ như quả bom tấn dưới đáy sông sâu, bộ lòng của nó to, dai như dây thừng, cũng được đồn đại là món “tiến vua”. Tương tự như với “sâm cầm đểu”, Minh cũng buôn cá chép, cá dầm xanh, phù phép trong các quán nhậu để biến nó thành cá tiến vua. Lợi đơn lợi kép. Lần gặp gần đây, Minh khoe cả một hệ thống trữ lạnh ngay trong chiếc xe hơi tiền tỷ vừa mua. Lúc nào hắn cũng mang cá anh vũ, lòng cá chiên và chim sâm cầm trong xe.
Con cá lá rau, chim trời cá nước, toàn những thứ tưởng như thừa mứa, vứt vật vạ đâu đó suốt bao năm ròng, bây giờ, vào tay Minh, vào tay thời buổi “tàn sát thiên nhiên” để thỏa mãn thú vui trọc phú này, tất cả đã biến thành “vàng ròng”. Các loài chim cá quý, rồi đây sẽ chỉ còn trong… sách đỏ, trong câu hát đê mê của Trịnh, trong trang sử cũ của các cụ Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn.
(het)
Kèm theo chùm ảnh:
-Đi săn chim sâm cầm.
-Hệ thống súng đạn, kỹ nghệ nhồi đạn ghém.
-Chim sâm cầm bị tàn sát, ngâm rượu, chân chim sâm cầm được sưu tập “tửu táng” trị giá nhiều triệu đồng.
-“Chân dung” một con cá anh vũ vừa bị tóm.
-Những con cá chiên khổng lồ và bộ lòng “tiến vua” của nó.
Bài và chùm ảnh của: Doãn Anh
Xuân sang, ngày rộng tháng dài, người ta hay nhớ đến những món thời trân ngon nghẻ. Biết thế nào là ngon với “nhân vô thập toàn”, hàng triệu cái miệng, mỗi miệng mang một phong vị thưởng thức khác nhau? Thế là thiên hạ bảo nhau: món gì vua chúa đụng đũa khua bát đến, y rằng món đó phải ngon. Không ngon và bổ bằng hương vị, bằng đầu lưỡi chót môi, thì ít ra nó cũng được cái tiếng “Tiến Vua” một thuở. Ăn cái đó hẳn là oai oách lắm.
Sâm cầm chỉ còn ca khúc của Trịnh Công Sơn ?
Nghề chơi cũng lắm công phu, một gã chơi súng săn thủ thỉ: cứ nhồi đạn ghém, đi bắn chim sâm cầm Tiến Vua, mà gã làm giàu được đấy. Người nghèo nhiều, người nghèo dễ tổn thương nhất trong các biến động của xã hội kim tiền, thì đó cũng là lúc số người giàu một cách khó hiểu “đột biến tăng” cả về chất lẫn về lượng. Và người ta thích ăn món tiến vua. Rau muống ở Linh Chiểu (Sơn Tây), con chim dơi dơi sống ở Sài Sơn (Thạch Thất, Hà Nội); con cá chép bơi lội ngoài đồng Bương Cấn (nơi từng nổi tiếng trong thơ Quang Dũng “bao giờ trở lại đồng Bương Cấn/ về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng”, Quốc Oai, Hà Nội)… - tất cả bọn chúng đều nằm trong hệ thống bốn món tiến vua linh diệu của xứ Đoài cổ. Rồi ngược mãi sông Lô, sông Gâm, họ đi tìm cá Anh vũ Tiến vua ở khắp dải đất Phú Thọ, Tuyên Quang, Cao Bằng. Đặc biệt bị tàn sát thê thảm là những đàn chim sâm cầm “tiến vua” di cư từ phương Bắc xuống. Hễ chúng cứ đáp vào các ao đầm tờ mờ sương khói đầu đông ở Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang…, là đì đùng đạn nổ. Là ì oạp lưới giăng giật nảy. Người ta đoạt mạng loài chim quý nhờ ăn củ sâm bên xứ Cao Ly (Hàn Quốc) mà mang tiếng bổ dưỡng. Sách của nhà bác học Lê Quý Đôn, của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đều có viết về loài cá Anh Vũ ở vùng ngã ba sông Bạch Hạc (chỗ cầu Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bây giờ), nó ăn rễ cây chiên đàn nghìn tuổi mà nên thiêng nên quý, được vua chúa phong kiến bắt dân phu truy lùng về tẩm bổ. Lịch sử ghi rõ, vua Tự Đức từng nhiều năm có chỉ dụ bắt người dân vùng ven Hồ Tây phải cống nộp rất nhiều chim sâm cầm, nộp theo cả đôi trống - mái. Hồ Tây, với bầy sâm cầm đó, đã quen thuộc với nhiều người trong ca khúc của Trịnh Công Sơn “Nhớ mùa thu Hà Nội”: “Hồ Tây chiều thu, mặt nước vàng lay, bờ xa mời gọi. Màu sương thương nhớ, bầy sâm cầm nhỏ, vỗ cánh mặt trời”. Tiếc thay, người Hà Nội giờ có lẽ chỉ còn nhìn thấy chim sâm cầm trên Hồ Tây thông qua… câu hát?
Một ngày bắn được… 30 triệu đồng!
Không phải thế, sâm cầm vẫn bay đen nhoáy các mặt đầm Đất Tổ. Các tay thợ săn chim quý rất nhẫn tâm. Chúng thường có “cửa” để… “qua mắt” chính quyền địa phương, công an khu vực. Bởi khi khoác súng săn ra đường, lặn lội về các vùng quê xiết cò, là một điều sai đối với quy định an toàn vật liệu nổ và bảo vệ môi trường của nhà nước. Bởi thế, thường các tay chơi súng săn phải giàu có chút đỉnh, nếu không là đại gia kếch sù. Bọn chúng thường có chút thế lực. Ở một số xã của tỉnh Phú Thọ, nơi có nguồn chim quý di cư đỗ lại khá lớn, có một mô hình khá ngộ nghĩnh và chua xót: lãnh đạo xã, hè nhau mua súng, thành lập “hội săn bắn”. Thế là không ai bắt họ được nữa. Chỉ có dân thôn nhìn cảnh đó là hơi thấy khinh bỉ và hoang mang...
Tay thợ săn cho tôi đi theo bắn sâm cầm đợt này không giàu, không là quan địa phương, đơn giản là hắn biết luồn lách ngồi vai ông nọ dọa nạt ông kia để vác súng đi nghênh ngang khắp chốn và… siết cò. Chọn một ngày trời u ám sương mù kiểu “màu sương thương nhớ” trong nhạc Trịnh Công Sơn, chúng tôi rời thành phố Việt Trì, đi về hướng Bắc khoảng 50km, đó là khu vực cực kỳ nhiều chim sâm cầm. Mùa đến, nếu đầm nước này mà không có sâm cầm, thì cả miền Bắc chắc chắn không có nổi con nào. Minh (tên gã thợ săn ấy) vừa chơi, vừa buôn súng tự chế, súng săn các loại, kiêm luôn cả việc sửa chữa, buôn đạn nổ từ bên kia biên giới về. Một chiếc xe máy tàu tàu. Hai khẩu súng, một đạn ghém lớn, một đạn ghém cỡ bé nhưng nòng dài. Một bó nến, ít hạt chì, một túi cát tút các cỡ. Hết đạn, hắn lại mang cát tút ra, lấy muỗng nhựa múc hạt chì nhồi vào cát tút, thả ít giọt nến lên trên, trước khi nhồi thuốc nổ vào. Và bắn. Năm ngoái, Minh nhồi thuốc súng, vừa nhồi vừa hút thuốc lá, bị thuốc nổ bùng lên, cháy xém mặt mày, trụi hết tóc và lông mày, mặt chín rộp như bánh đa, phải về viện bỏng quốc gia nằm 9 tháng ròng. Năm nay, hắn vẫn vô tư phì phèo điếu thuốc, tiếp tục nhồi đạn đi săn.
Chim sâm cầm làm sạch ruột, ngâm một bình rượu cả đôi trống mái, thị trường “đen” giờ có giá khoảng 3 triệu đồng. Phải có mối quen mới mua được hàng “tốt” - chưa bị trưng cất mất nước cốt, và đúng là loại chim sâm cầm tươi đem “tửu táng”. Chả biết có bổ dưỡng âm dương gì không. Chỉ có một điều chắc chắn, vì là chim nước, nó di cư dọc địa cầu, ngâm cả lông cánh nội tạng vào hũ, nên “rượu sâm cầm tiến vua” uống rất tanh. Điều chắc chắn nữa: bầy sâm cầm tuyệt mỹ bị bắn hạ quá dã man. Bắn không thương tiếc. Bắn đến tuyệt diệt giống chim vốn được sử sách ghi là chim quý tiến vua này. Sâm cầm về Đất Tổ theo mùa, là bởi vì “các gã giang hồ chuyên nghiệp” này có lộ trình hàng năm đi dọc từ Nam đến Bắc, từ Bắc đến Nam bán cầu. Gọi là chim di trú, nó bay theo cái nhịp mùa ấm áp của quả đất, để tránh không gặp mùa đông quá buốt giá. Nó ăn củ nhân sâm trên núi Trường Bạch (Cao Ly) nên gọi là sâm cầm (chim ăn sâm). Nó ghé qua Việt Nam là bởi vì nó bay mãi nhiều nghìn cây số phải mỏi cánh, phải dừng lại ở các “nhà ga” tiếp nhiên liệu (thức ăn). Việt Nam vốn là một bến đỗ êm đềm, ít ra là từ cái thời ông Trịnh Công Sơn viết “bầy sâm cầm nhỏ, vỗ cánh mặt trời” mấy thập niên gần đây. Nhiều tổ chức nghiên cứu về chim đã bắt, cân, đo, tìm hiểu rồi đeo vòng vào chân sâm cầm để theo dõi lộ trình của nó, khả năng sinh trưởng và chịu đựng các hình thái thời tiết của nó. Nghiên cứu nhằm bảo tồn. Mặc người ta nâng niu loài chim quý, vào tay Minh, xiết cò, đạn nổ, cả bầy sâm cầm cùng rũ cánh nổi trên mặt nước cùng lúc, thế là xong. Lấy kìm vặn bỏ cái “vòng vèo nghiên cứu” của Tây Tàu “rỗi hơi”, hắn cứ ngâm rượu, bán 3 triệu đồng/đôi. Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi, Minh làm giàu mấy chốc. Có lần, đi bắn một ngày, Minh thu trọn 30 triệu đồng tiền sâm cầm.
Nhiều khi, bọn chúng còn làm giàu hơn, nhờ bắn các loài chim giông giống với sâm cầm (như vịt trời), rồi nhuộm lông chim đi, cắt bỏ chân đi, nói là chim tiến vua (vì sâm cầm có bàn chân và các màng ngón chân tròn xoe, không lẫn với bất cứ loài nào khác), cứ thế bán tống bán tháo… thu bộn tiền. Một dạo ở vùng Hà Đông, khu đường Láng Hòa Lạc, khu vực Công viên Bách Thảo, Thống Nhất (Hà Nội) con buôn vỉa hè rao bán rất nhiều chim sâm cầm bị cắt chân (nói là dính bẫy mất chân), thực chân là sâm cầm giả cầy.
“Kỹ nghệ” bắn chim Tiến Vua
Các huyện Hạ Hòa, Cẩm Khê, Yên Lập của tỉnh Phú Thọ, đến tiết đầu đông, trước và sau Tết nguyên đán, sâm cầm về rất nhiều. Loài chim đến từ các miền đất xa xôi, ở phương ấy, người ta không nã đạn vào thiên nhiên thảm khốc như Việt Nam ta, nên sâm cầm (và nhiều loài di trú) rất ngốc nghếch. Chúng không biết sợ con người. Chúng không đề phòng láu lỉnh như những loài “nội địa” thường xuyên bị bắn, bẫy - như: chim sẻ, chim ri, chim chào mào sáo sậu. Sâm cầm xà xuống mặt đầm Văn Khúc như một cơn mưa đen nhánh. Chúng bơi lội, nhập đàn chung vui với lũ vịt trời, le le, thậm chí cả vịt nhà mà nhoanh nhoách ăn tôm cá, ăn cả rong rêu. Minh cùng nhóm bạn “kinh doanh súng đạn và chim trời” có muôn vàn “kế sách” để hạ gục được nhiều sâm cầm nhất trong chỉ một lần “cất vó”. Có khi, chúng nạp sẵn mỗi khẩu súng săn một viên đạn loại lớn (có đường kính đầu đạn là 12mm chẳng hạn). Một lần xiết cò, đạn ghém bung ra cả trăm viên bi sắt, đạn bay thành cầu vồng, thành hình ô doa, đạn lo era giống như luồng ánh sáng của một cái đèn pin khi nó dọi vào đêm tối. Tất cả những con chim ở “miền sáng” của “ánh đèn đạn hoa cải” đó, đều bị hạ sát. Khi “bầy sâm cầm nhỏ” chao liệng chuẩn bị ‘vỗ cánh mặt trời” quanh mặt đầm Văn Khúc, thì ba khẩu súng cùng nổ, cả đàn chim rụng lả tả như những cánh diều bị ngắt gió đột ngột. Thảm thương vô cùng.
Đôi khi, đám thợ săn phải nằm im dưới bèo và các bụi cây nước cả buổi chiều để rình. Đôi khi, chim sâm cầm cứ kiếm ăn và nô đùa, Minh cùng các đệ tử mỗi đứa ôm một cái phao làm bằng săm ô tô bơm cứng. Chúng đội lá móc ngụy trang, bơi dần dà, nhẹ nhàng sang phía đàn chim. Rồi ra tín hiệu “hai ba!”, cả nhóm đồng loạt nổ súng. Sau khi những tiếng vang lên súng cùng lúc, ít có chim nào chưa chết hoặc bị thương. Vài con sống sót thảng thốt bay lên, Minh lại cho người đón sẵn các loạt đạn ô doa bắn ở trên… trời. Cơn mưa sâm cầm màu đen xõa cánh trên mặt đầm, máu chim loang đỏ các gã ở trần trùng trục đang quơ quáo tìm chiến lợi phẩm dưới mặt nước rong rêu. Một đứa thở dài: “Bắn đạn to quá, chúng nó chết cả, mất toi mấy hũ rượu tiết sâm cầm”. Minh nháy mắt đắc chí vuốt dọc nòng súng lã chã nước đầm, sương khói bảng lảng hiu hiu lạnh: “Súng này, đạn này, bắn bọn chim bé mọn này, bắn trượt… mới là khó! Chả hiểu sao bọn giàu có chúng nó cứ thích mua chim tiến vua, chứ anh ăn mãi thì chỉ thấy tanh òm. Có khi, một bữa rượu, anh làm hết cả 10 con! Thì cứ đánh chén nhòe, để xem sau này mình có làm… vua không”.
Minh xây nhà lầu, phát triển nghề bắn sâm cầm với chân rết cung cấp “đặc sản” rộng khắp miền Bắc. Hắn còn lấn sân sang cả món tiến vua khác là cá anh vũ, cá chiên. Vẫn là kích điện, giã nhủi, vẫn là mìn tự chế. Bọn chúng bóc trần các lòng sông lên, giết đến cả ấu trùng các loài thủy sản, để kiếm cá tiến vua, bán với giá vài triệu đồng một cân. Cá anh vũ có cái mõm trù trù như mõm lợn do nó là cá chỉ sống ở các môi trường nước chảy xiết, nó phải dùng miệng bám vào đá, phải cày miệng xuống đáy vực gờ đá để cạo rêu ăn (nên bà con còn gọi là cá mõm lợn). Cái mõm của cá anh vũ, tương truyền là món thời trân, tích tụ tinh túy của đất trời, xưa kia vua chúa bắt lương dân phải đi tìm về cung tiến. Con cá chiên, thịt vàng như nghệ, nặng vài chục ký lô, bơi lừ lừ như quả bom tấn dưới đáy sông sâu, bộ lòng của nó to, dai như dây thừng, cũng được đồn đại là món “tiến vua”. Tương tự như với “sâm cầm đểu”, Minh cũng buôn cá chép, cá dầm xanh, phù phép trong các quán nhậu để biến nó thành cá tiến vua. Lợi đơn lợi kép. Lần gặp gần đây, Minh khoe cả một hệ thống trữ lạnh ngay trong chiếc xe hơi tiền tỷ vừa mua. Lúc nào hắn cũng mang cá anh vũ, lòng cá chiên và chim sâm cầm trong xe.
Con cá lá rau, chim trời cá nước, toàn những thứ tưởng như thừa mứa, vứt vật vạ đâu đó suốt bao năm ròng, bây giờ, vào tay Minh, vào tay thời buổi “tàn sát thiên nhiên” để thỏa mãn thú vui trọc phú này, tất cả đã biến thành “vàng ròng”. Các loài chim cá quý, rồi đây sẽ chỉ còn trong… sách đỏ, trong câu hát đê mê của Trịnh, trong trang sử cũ của các cụ Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn.
(het)
Kèm theo chùm ảnh:
-Đi săn chim sâm cầm.
-Hệ thống súng đạn, kỹ nghệ nhồi đạn ghém.
-Chim sâm cầm bị tàn sát, ngâm rượu, chân chim sâm cầm được sưu tập “tửu táng” trị giá nhiều triệu đồng.
-“Chân dung” một con cá anh vũ vừa bị tóm.
-Những con cá chiên khổng lồ và bộ lòng “tiến vua” của nó.












