My Opera is closing 3rd of March

an do tay tang chon nguoi

Ly kỳ chuyện “sống gửi thác nhờ”, từ mênh mông Ấn Độ lên đến nóc nhà thế giới Tây Tạng

Tường trình của Phóng viên Tuổi trẻ Đời sống

Tôi có may mắn được đi dọc 6 nước từ nơi con sông hùng vĩ và thơ mộng bậc nhất địa cầu Mê Kong sinh ra giữa những đỉnh tuyết sơn vĩnh cửu; đi mãi đến khi sông lớn vĩnh viễn hòa vào Thái Bình Dương mênh mang ở Chín cửa sông hình Rồng ở Đồng bằng sông Cửu Long. Tôi có diễm phúc được đi hết các vùng đất huyền thoại quây quanh nóc nhà thế giới Hymalaya: Tây Tạng - Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal... Đây, đỉnh Everest cao nhất quả đất 8.850m. Kia, Tây Tạng với con đèo cao nhất mà nhân loại tiến bộ từng làm được đường cho ô tô đi qua - hơn 5.190m so với mực nước biển. Thế giới có cái gì, nóc nhà thế giới rồi mênh mông Ấn Độ cổ kính và hiện đại có cái đó; nhưng rất nhiều thứ hai vùng đất huyền thoại kia đang mang tải mà… không ở đâu có cả.

Băm nhỏ xác người cho chim cá mang đi

Tây Tạng được coi là một “kinh đô ánh sáng” của loài người, trước hết là theo… nghĩa đen. Bởi thủ phủ Lhasa gần mặt trời nhất so với tất cả các đô thị khác của nhân loại. Ba chuyến bay liên tiếp từ Sài Gòn sang Thẩm Quyến, từ Thẩm Quyến sang Thành Đô (tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc), từ Tứ Xuyên đi Tây Tạng… , băng qua điệp trùng núi tuyết rộng và trắng đến rợn người, hoang thẳm đến hãi hùng, bỗng dưng tôi lờ mờ cảm nhận: mình đã lạc vào một thế giới khác. Nơi ấy, trời đất rất gần nhau. Tiên cảnh đấy mà cũng rợn ngợp đến mức người ta buộc phải nghĩ đến những điều lớn lao, dài rộng. Như sự sống và cái chết. Tuyết trắng bủa kín các hoang mạc dựng đứng, không một lá cây cọng cỏ mọc lên được.

Đặc biệt là hội chứng độ cao đày đọa bất cứ vị lữ khách nào, do không khí quá loãng. Bạn tôi vừa cùng tàu bay đáp xuống sân bay Lhasa đã đổ máu cam, ngất xỉu tại ghế ngồi của “con ngựa sắt Boing”, những chiếc khăn voan trắng chúc phúc của các thiếu nữ Tạng hiếu khách vừa quàng lên cổ chị, nay đã thấm máu đào. Chị ấy thét lên: bán nhà tôi đi cũng được, đắt bằng nào cũng được, mua vé cho tôi về lại Sài Gòn ngay. Chỗ chị muốn trở về ấy thủy triều hằng ngày vẫn lấn mãi vào ngập cả phố thị Sài Gòn, chỗ ấy có độ cao 0m so với mực nước biển. Không khí cứ là “đặc quánh”. Chứ loãng như Tây Tạng thì người lần đầu tiên “gặp gỡ” ai cũng choáng, ngất và… “từ nay cho tởn đến già”. Tôi nằm bò trong khách sạn, phòng bao nhiêu người thì giới kinh doanh du lịch ở Lhasa đặt vào đó bấy nhiêu cái bình ô xy. Xe ô tô bao nhiêu chỗ ngồi thì đặt vào đó bấy nhiêu cái bình ô xy. Các hộp dưỡng khí ấy được trang bị như phao cứu sinh mỗi lúc bạn vượt sông với những con thác dữ vậy. Chỗ nào cũng đặt các lọ nước thảo dược hồng hoa chỉ có ở Tây Tạng dùng để chống hội chứng độ cao. Khu nhà trọ, khách sạn, sân chơi nào cũng có nhân viên y tế chuyên chỉ tiêm một loại thuốc: chống choáng sốc do không khí loãng. Một cán bộ kinh doanh du lịch lâu năm, từng gần hai chục lần dẫn khách sang Tây Tạng (các hãng lữ hành cực kỳ khó khăn trong việc tuyển hướng dẫn viên đi lên “nóc nhà thế giới) cho biết: nếu bán tour mà ai cũng nói toạc ra là lên Tây Tạng khổ sở đến thế, thì chả ai dám mua.

Tôi bị choáng đến mức: sau hàng chục năm mơ ước, lên đến Hồ Bọ Cạp xanh như một miếng ngọc bích khổng lồ hàng nghìn cây số vuông, kỳ quan đẹp lộng lẫy bậc nhất địa cầu, tôi vẫn cứ nằm bẹp trong xe, chỉ ôm đầu vật vã, thò ống kính máy ảnh ra… bấm loạn xạ. Đến tu viện Potala, Di sản thế giới- cung điện ở nơi cao nhất hành tinh, tôi lăn lê bò toài cố gặn chắt sức mình thở lấy một hơi nữa. Vừa thở nặng nhọc, vừa nghĩ, có thể mình sẽ không bao giờ còn được thở nữa. Đó cũng là lần đầu tiên tôi hiểu, thế nào là cận kề cái chết. Không ăn, không uống, không nói, không đi lại, chỉ chìm vào các giấc ngủ mộng mị lạ kỳ, đầu đau như búa bổ, mọi chức năng trong cơ thể đảo lộn, môi khô nứt nẻ như… ruộng hạn.

Đó là lúc tôi và Xia (tên tiếng Anh là Monday), gã trai Tạng vừa cổ lỗ lại vừa thức thời ấy cùng nói về cái chết. Xia nói tiếng Anh rất giỏi, do quá trình học Đại học ở Thành Đô. Xia dẫn tôi đi khắp nhiều ngọn núi, ở đó có nghi lễ băm xác người tung cho kền kền ăn, rồi chim lớn kễnh cái bụng no bay lên trời, gọi là “điểu táng” hoặc “thiên táng” (chôn trên… trời). “Phải người giàu có, mới được điểu táng đấy nhé. Người nghèo hơn thì “thủy táng” dưới sông kia thôi. Băm nhỏ xác người ra, rải xuống sông này, đầu nguồn của Me Kong chảy về Việt Nam đấy. Cho cá ăn. Rồi họ làm cờ phướn, vẽ những cái thang bằng “sơn” màu trắng theo vách đá triền sông, vẽ mãi qua quốc lộ ngược lên các đỉnh núi. Đó là những cái thang đưa linh hồn người quá cố, để “họ” nương theo đó mà trèo lên trời. Chung quy cũng là… “thiên táng” cả”.

Trên con đường 300km từ thủ phủ Lhasa đi Shigate, một thành phố cổ kính đô hội thứ nhì toàn cõi Tạng, Xia cho xe dừng ở một đỉnh núi chon von. Những ngôi nhà vuông vức, bốn bề chát toàn… phân trâu đóng thành bánh dùng để làm chất đốt. Đàn trâu Yak lông dài cả mét, sừng cong vút đi lại thung thăng như con quái thú. Xia giải thích: biến đổi khí hậu sợ lắm, vừa rồi khu vực Shigate xảy ra một chuyện chưa từng có trong lịch sử: lũ lụt. Băng tan từ đỉnh núi cao, nước ụp xuống cuốn trôi cả xóm làng. Chính phủ cho làm lại nhà cửa kiên cố. Phía sau dãy nhà là một quả đồi “thiên táng”. Mỗi khi có người chết, cần điểu táng, thiên táng, người ta phải mời một vị pháp sư giỏi đến, cầu cho linh hồn người chết siêu thoát. Tắm rửa thi thể sạch sẽ. “Ông thầy” sẽ xả cái xác ra, như một thứ nghi lễ linh thiêng và thành kính nhất. Băm có bài bản, băm làm sao cả xương người cũng nhỏ nhuyễn để chim kền kền có thể ăn hết. Nếu chim chưa về, họ rảy nước thơm, đốt một thứ hương liệu đặc biệt lên, khói của nó bay vút tận mây xanh, nó sực nức dụ bầy kền kền hung dữ, lông cổ “gã” nào cũng trụi thùi lùi, móng vuốt sắc lẻm đến. Người Tạng trân trọng những con kền kền đưa người về Thánh mẫu vũ trụ đó, coi kền kền là “điểu thần” không ai dám bắn giết xua đuổi. Trong tác phẩm “Thiên táng” nổi tiếng của nữ nhà văn Trung Quốc- Hân Nhiên (sống tại Anh) viết về Tây Tạng có trường đoạn anh lính trẻ người Trung Quốc bắn nhầm con chim ăn xác người khiến bà con bản xứ nổi giận, để rồi anh ta phải tình nguyện trở thành một thi thể được “điểu táng” nhằm chuộc lỗi lầm.

Đàn chim dữ khổng lồ cứ nhầy nhụa, lúc nhúc, dữ dằn tranh nhau mang tất cả đi. Sạch bách. Một con người đã sinh ra, ở lại trần gian, sống gửi thác nhờ. Họ trở về với chư vị thần linh ở Chốn Cao Xa. Trời đất đã sinh ra họ, giờ bầu trời lại mang họ ra đi vĩnh viễn. Cát bụi trở về với cát bụi, nhưng linh hồn người thì luôn bất tử. Chỉ khi nào không gọi được kền kền đến thì thân xác của người quá cố mới được thủy táng. Và những người được coi là xấu xa thì mới dùng đến hình thức địa táng (chôn xuống đất) để linh hồn không thể siêu thoát- theo anh Cường kể thì như thế. “Người nghèo hơn ( vì không có tiền đặt lễ mời thầy thì họ cũng thủy táng”, Xia chỉ vào các hẻm sông xanh biếc in bóng mây trời. Sa mạc mênh mông, con sông như giọt nước lẻ loi trong biển cát xám, thảng hoặc những cơn bão cát lại cuộn lên đen kịt chân trời. Nơi ấy, xác người được chặt rồi bón cho cá tự nhiên ăn. Nơi mạch nước rỉ luồn trong cát vụn, trong khe tuyết phủ lan man mỏng dính kia, nơi ấy cũng là khởi nguồn của dòng sông vào loại hùng vĩ nhất quả đất: Mê Kong. Sông này rồi chảy về tới Việt Nam, biến thành sông Tiền, sông Hậu ngọt đậm phù sa. Không biết linh hồn của những người thủy táng giữa chót vót đỉnh trời dưới chân tuyết sơn vĩnh cửu Hymalaya kia rồi có “bay” theo dòng nước về với 6 quốc gia lưu vực Mê Kong không? Xia bảo, không đâu anh ơi. Mỗi vở nước có hàng nghìn cái cờ phướn, có những viên đá nhỏ, to được xếp chồng lên nhau (gọi là gò manidoi), có các bộ lông thú, đầu thú, sừng thú được “trưng bày” bí ẩn - đó là những cách để người Tạng cưu mang, thành kính với các linh hồn ngoài sông, ngoài núi. Tết đến, người Việt ta đi tảo mộ, đi cúng các xứ đồng có đặt mồ mả ông bà, thì người Tạng đi vẽ lại những cái thang ở ven sông, ven bến nước. Đi cắm thêm những lá cờ phướn xanh đỏ tím vàng bay như vạn triệu con bươm bướm dọc các đỉnh đèo, dọc các dòng sông, vách núi. Mỗi lá cờ đều mang trong mình hàng trăm câu thần chú, những mật ngôn gửi vào trong gió, gió mang tất cả lên bầu Trời để cầu xin che chở, ứng nghiệm. Một hình dung rất hồn nhiên, nguyên thủy, người Tạng vẽ những cái thang trắng, thang “dựng” dọc núi, dọc vách đá bờ sông, thang bắc qua quốc lộ để linh hồn người lên với Trời.

Chứng kiến lễ đốt xác người, yểm các…thi thể xuống sông Hằng

Người Việt Nam thường chôn người chết xuống đất, cũng có nhiều dân tộc ở Việt Nam, như người Thái, người Khơ me vẫn giữ tục đốt xác người. Một lần lang thang khắp các sa mạc, các đô thị sầm uất và cả thủ đô New Delhi của Ấn Độ, thấy tôi ngạc nhiên về tục đốt xác người, thậm chí thả thi thể người xuống sông Hằng linh thiêng của nước bạn, một thương gia bạn bèn hỏi: bên Việt Nam các bạn “đưa” người quá cố đi đâu? Tôi miêu tả: chôn người ấy xuống, trong quan ngoài quách, chôn 3 năm hay nhiều hơn rồi “cất bốc” lên. Rửa nước thơm, nhặt lấy xương xếp theo tư thế lúc lọt lòng của con người, bỏ di cốt vào cái một tiểu sành trước khi chôn xuống đất trở lại. Hằng năm, giỗ tết ra chăm sóc mộ phần. Về nhà thờ cúng suốt đời mình, suốt đời con cháu mình. Anh bạn người Ấn mới quen thảng thốt: sao các bạn táng người thân phức tạp và… mất vệ sinh thế. Tôi bảo, đó là văn hóa, phong tục, không có gì mất vệ sinh và phiền phức so với việc đốt xác hay băm xác cả. Đó là nghi lễ tâm linh, là niềm tự hào và trách nhiệm lương tâm của mỗi chúng tôi với người thân của mình. Là hiếu đễ với các đấng sinh thành. Anh bạn không tranh luận nữa. Tôi cũng im lặng đi dọc sông Hằng. Nhưng rồi tôi cứ mãi băn khoăn tự hỏi: đốt xác người, băm xác người, quẳng xuống sông, chôn người rồi lại đào lên xếp lại xương vào tiểu sành… tại sao với cộng đồng này thì bình thường dễ hiểu, còn với người khác lại là thứ kỳ dị kinh quái? Có lẽ, câu trả lời phụ thuộc vào phong tục, quan niệm, cũng như các vấn đề riêng của mỗi cộng đồng. Ta nên tôn trọng chứ không nên bài bác gì cả.

Thế là một ngày giá rét căm căm, dừng chân ở thành phố cổ Varanasi (miền Bắc Ấn Độ) tôi ngược sông Hằng linh thiêng, dòng sông đã khai sinh ra nền văn minh thứ thiệt cổ xưa bậc nhất của loài người. Sông Hằng là kỳ quan của quả đất, nó được đặt theo tên của nữ thần đạo Hindu là Ganga (tiếng Phạn). Nó dài tới 2.500km, bắt nguồn từ nóc nhà thế giới Hymalaya, phần lớn chảy ở lục địa Ấn Độ, trước khi đổ ra vịnh biển Bengan với cửa sông rộng tới 30km, nó đi qua Bangladesh. Khu vực Varanasi mà tôi đi qua, sông rộng tới 2,5km. Không một người theo đạo Hindu (chiếm phần đa dân số Ấn Độ) nào lại không ước ao một lần trong mỗi ngày được tắm táp, vảy nước sông Hằng lên cơ thể mình. Và đặc biệt, không một người nào trong số đó, khi chết, thân nhân của họ lại không tìm mọi cách đưa tro cốt, thi thể họ xuống… sông Hằng. Mà Ấn Độ lại có tới hơn 1 tỷ dân (đông dân thứ nhì thế giới!).

Bình minh còn chưa ló, rét căm căm, những người nghèo vô gia cư vẫn đắp mảnh chăn cũ rách co ro bên góc đường. Người ăn xin tàn tật trải kín các mé sông. Người Ấn coi việc ra với sông Hằng là một nghi lễ, họ rất chịu khó ban phát cho người nghèo ở bến sông. Chim hải âu sà vào tay người, mặt trời đỏ ối bên kia sông, bầu trời lúc đen kịt, lúc trắng lốp hàng vạn dáng chim thiêng. Người Ấn theo đạo, không sát sinh, xác súc vật chết cứ ném ra đường khắc có hàng đàn quạ sà đến, chúng bay đen nhánh bầu trời, đậu kín mặt đất và các tán cây. Quạ đến để ăn xác chết,… thu dọn chiến trường. Chim các loại ríu ran, chúng quây kín các con thuyền “tuần du sông Hằng”. Người ta xếp hàng hàng vạn người, không hổ danh là lưu vực sông có mật độ dân cư cao nhất thế giới! Họ cạo tóc, cạo râu, tắm rửa bì bõm, váy áo xênh xang gợi cảm nhất. Có người vô tư kỳ cọ với quần áo một lọn bé xíu trên bờ sông. Có anh đánh răng nhổ phì phì. Có nhiều vị sư mặc áo cà sa, cầm gậy tích trượng đi quẩn quanh, từ trang phục đến sắc diện đều hết sức kỳ bí. Lắm vị sư xếp hàng trong các vách núi ven sông ngồi thiền, trước đó ngài đã kịp vã nước sông Hằng lên trán, lên cổ và cầu nguyện lầm rầm.

Và. Đó cũng là lúc các lò thiêu xác người nghi ngút bốc khói. Những ngôi nhà cổ, sừng sững như lâu đài. Ở đó, họ thiết kế khu xếp củi chất ngất, khu ống khói đen kịt và ngọn lửa hồng phần phật. Vài thi thể người được cuốn trong chăn đệm màu đỏ, buộc vào các cáng khiêng bằng tre, hai người cầm hai đầu cáng khênh ra bến sông chờ… đến lượt đốt. Có cậu bé bần thần để thi thể người thân nằm dọc các bậc thang xuống sông, xung quanh là cả bãi chiến trường nhếch nhác toàn hoa, rác, củi đốt dở, than tro ướt nhách. “Nhà hóa thân” xây gạch với vài cấu kiện bê tông, tất cả lấm lem tro bụi. Họ xây “giàn hỏa thiêu” hình ống, chổng thẳng lên giời như một tàu vũ trụ Con Thoi. Xung quanh các biệt thự vẫn vàng óng, đỏ ối trong bình minh. Các tòa nhà sang trọng, lắp điều hòa, sơn bóng bẩy vẫn kế bên, dường như họ vẫn kinh doanh khách sạn ở đó. Có những phần thi thể chưa cháy hết… Nhiều khi, theo quan niệm, không phải thi thể nào cũng được đốt để trở về với bến sông huyền thoại và linh thiêng của người Hindu. Jamjee Sigh, anh bạn người Ấn của tôi giải thích: ví dụ như người bị chết khi mang thai, người chết vì ngộ độc thực phẩm hay rắn cắn, những cái chết oan khuất, nhiều uẩn khúc hoặc từng qua giám định pháp y... thì bà con sẽ không đem đốt. Họ thả thẳng xuống sông. Nhiều du khách, nhiều trang mạng lan truyền những bức ảnh rùng rợn bậc nhất về chuyện này. Đó là sự thật, hướng dẫn viên đi dọc sông Hằng của tôi cũng dùng tiếng Anh bồi chỉ cho du khách những “a dead body” (thi thể người chết, hoặc từng phần) trên sông. Như đã nói, có người coi đó là cái gì hãi hùng quá thể. Nhưng nhiều người lại thấy bình thường, đó là một táng thức cổ xưa, người ta thấy an lạc với sự về với Sông Thiêng đó, người chết chắc là rất ngậm cười, còn người sống thì thanh thản làm tròn trách nhiệm cả đời đối với người quá cố. Vấn đề còn lại chỉ là công tác vệ sinh, sự an toàn cho môi trường, có thể chúng ta sẽ nói chuyện đó ở vào một dịp khác.

Có quá nhiều chuyện để kể, để luận bàn ở hai vùng đất mênh mông kỳ diệu Ấn Độ và Tây Tạng. Hai miền đất cổ, quyến rũ với những câu chuyện nhiệm màu đó đã ám ảnh tôi, từ thiên nhiên, đến con người và cả cái cách họ về với cát bụi. Như người Việt vẫn hằng nói: sống gửi, thác về; sống về mồ về mả, chứ ai sống về cả… bát cơm. Mọi việc diễn ra như nó cần phải thế, nhẹ nhàng, bình an. Cuộc sống đẹp và đời đáng sống vì nhiều lý do; trong đó có lý do vì sự sống của mỗi người đều hữu hạn mỏng manh. Mấy ai qua được cái cõi “nhân sinh ba vạn sáu nghìn ngày” (100 năm)? Song, cái hữu hạn mỏng manh đó lại làm người ta trân trọng, nâng niu và có trách nhiệm với những ngày đang sống này hơn. Táng thức truyền thống - cái cách người đời kết thúc hành trình trên dương thế của mình - thật muôn hình vạn trạng...

Mùa tảo mộ 2012-2013
Đỗ Lãng Quân

Kèm chùm ảnh: thiên táng,thủy táng và hỏa táng ở Tây Tạng, Ấn Độ do PV TTĐS chụp


Chùa Trăm Gian, ngày xuân nhìn lạiDeo doc viet nam

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28