vet chan cua nha bao
Friday, December 28, 2012 11:26:04 AM
Ít có cái nghề nào mà người trong nghề gặp nhau lại hào sảng như… dân làm báo. Có lẽ, vì họ vất vả quen rồi, thấu hiểu cái vất vả và sự cô đơn trước trang viết (như “pháp trường trắng”) của nhau quá rồi? Mỗi lúc đi đến tỉnh nào đó, chợt gặp một nhà báo, chợt nghe tên một cây viết ở một tờ báo mà mình từng đọc và thinh thích (chưa cần phải từng “nghe thơm danh” nhà báo kia), thế là lòng cứ thế thấy xốn xang. Muốn xấn ngay đến làm quen, bắt tay, hỏi han, nhờ cậy hoặc là cho… nhờ cậy, hỉ hả lắm. Cái cảm giác “cùng hội cùng thuyền” rất rõ ràng. Cùng trong một nước, cùng đi tác nghiệp tối mặt tối mũi gặp nhau, mà gặp rồi chia tay, lòng cứ vui lâng lâng như ở xa thẳm xứ người nào đó, chợt gặp “người trong một nước thì thương nhau cùng”. Có lẽ, hai chữ “nhà báo”, mỗi lúc vang lên, tự nó đã kèm theo niềm kiêu hãnh giản dị nào đó. Tôi và bè bạn đã nhiều lần tự nhủ: cùng hội cùng thuyền là như thế đấy.
Vết chân buồn và bước đi kiêu hãnh của nhà báo…
(Tâm Lê ghi)
Theo lời kể của Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng, Báo Lao Động
Những nhà báo cùng hội cùng thuyền
Vậy nhưng cũng có những vết chân buồn của “anh chị” nhà báo nào đó đi trước, bỗng một ngày tôi “gặp” và lòng thấy tái tê! Tôi hay đi đường trường, hay la cà với lái tàu lái xe trên các lộ trình thăm thẳm, mỗi khi tình cờ đoán biết tôi là nhà báo, họ hay nói lên cảm xúc của mình về nghề của tôi. Có người chửi, có người cười mỉa, có người sùng bái, coi nhà báo là một trong những giới người ít ỏi cuối cùng còn dám xả thân chiến đấu vì người cùng khổ và các “phi vụ” chân lý bị chôn vùi. Thì cứ nghe họ nói vậy, lúc thấy buồn hiu hiu, lúc kín đáo ưỡn ngực kiêu hãnh. Lúc tôi oán thán người làm báo nào đó đã gieo nỗi tuyệt vọng và sự khinh khi vào người bạn đồng hành là lái tàu lái xe của tôi. Có thể vĩnh viễn tôi và vị nhà báo gieo khinh khi hoặc gieo kiêu hãnh kia chả bao giờ gặp nhau. Song, không vì thế mà không trăn trở được.
Những tờ báo cháy xém đặt lên bàn thờ thắp nhang
Tôi nhớ, có lần vào nhà xác Bệnh viện Bạch Mai viết bài, bác sỹ Đặng Thế Thân cứ mãi trân trọng kể về kỷ niệm của ông với nhà báo Lưu Vinh (sau này Đại tá, Phó Tổng biên tập báo Công an nhân dân) từ… hơn 20 năm trước. Có lần, sau dăm năm chiến đấu vì sự vô lý không nên có trong cách hậu thế đối với hơn 50 cán bộ, học viên ngành y tế Yên Bái bị chết vì bom Mỹ, tôi đã viết cả chục bài, trong dăm bảy năm ròng. Để rồi tôi khóc khi tình cờ, trong một chuyến tác nghiệp khác, tôi vào một nhà dân bản vắng xin ngụm nước. Ở đó, tôi đã gặp tờ Lao Động có in bài viết “Những thây người mang hình dấu hỏi” về vụ kể trên. Tờ báo được đặt trang trọng trên… bàn thờ; thân nhân của bác sỹ - tử sỹ hy sinh khi đang làm nhiệm vụ cứu thương kia đã nắm tay tôi đứng trân trối như gặp lại cố tri từ cõi khác trở về. Tàn nhang đã xém đen vài vạt báo. Thế rồi, oái oăm thay, hôm nay, đi điều tra về thảm nạn “ăn của đút” của các giáo viên vùng cao tận khổ để nhử họ miếng mồi hợp đồng và biên chế ngành giáo dục ở huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Thông tin rõ ràng: một huyện, mà người ta nhận bừa, thừa một lúc 212 giáo viên hợp đồng và biên chế. Nhiều người do thế mà bị bật vĩnh viễn ra khỏi bục giảng. 80 cô giáo mầm non, đang hưởng chế độ biên chế nhà nước, tự hào đứng trên bục giảng cống hiến cho miền rừng cam khó đó đã 15 năm, bỗng dưng bị UBND tỉnh, UBND huyện cùng đề nghị “hủy biên chế”. Đuổi họ ra khỏi biên chế nhà nước theo đúng nghĩa đen. Dù họ chả làm gì nên tội, họ được đào tạo sư phạm hẳn hoi, nhiều năm cống hiến cho địa phương bằng nghề giáo, họ thậm chí còn là con thương binh, là giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh. Họ không có lỗi gì, quá trình tuyển dụng, đưa họ vào biên chế rất đúng quy trình. Chữ ký ông Chủ tịch huyện và dấu Quốc huy vẫn đóng đỏ chói trong Quyết định tuyển dụng (biên chế) của họ. Chỉ mỗi tội: nhà quản lý ở địa phương đã “vô tình hay hữu ý” lấy thừa ra 80 suất biên chế giáo viên mầm non, trong tổng số thừa 212 nhà giáo. Vụ việc tày trời đã được Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy Yên Bái cử đoàn cán bộ về điều tra 1 tháng ròng rã, cuối cùng 16 vị cán bộ, lãnh đạo huyện bị xử lý, kỷ luật. Chuyện chưa từng có đó có “bản chất” ra sao?
Tôi - nhà báo - đã bị hàng chục cô giáo mầm non… hắt hủi ra sao!?
Khi tôi quyết định điều tra, khó khăn đầu tiên vấp phải là làm sao tiếp cận được các nhà giáo đang gặp nạn đuổi ra khỏi biên chế. Bí mật có thể sẽ vĩnh viễn bị chôn vùi trong sự cam chịu oan khuất của họ. Là một cán bộ nhà nước, tôi hiểu: với giáo viên, biên chế là danh dự, là đẳng cấp, là chuyện cả đời của họ và gia đình họ. Nó không chỉ là vấn đề tiền bạc nữa. Nhưng khi tôi có trong tay bản Kết luận của Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy Yên Bái, có danh sách từng giáo viên sắp bị đuổi khỏi biên chế, thì tôi lại không làm sao tiếp cận được các nhà giáo để cứu họ. Đơn giản là họ rất sợ lộ diện. Họ được đào tạo nghề giáo, đã hơn 10 năm hoặc gần 10 năm nay họ lăn lộn là giáo viên hợp đồng với mức lương ba cọc ba đồng, lặn lội rừng xanh núi đỏ để dạy học. Họ dạy học vì nghề và nghiệp, vì tình yêu con trẻ. Đồng thời họ cắn răng chịu khổ như thế với mức lương vài trăm nghìn đồng/ tháng - không đủ đổ xăng xe máy đi dạy cách nhà vài chục cây số mỗi ngày – cũng còn bởi vì họ đang nuôi nâng niềm ao ước được vào biên chế. Để ổn định, để lương cao hơn, để được tăng lương theo ngạch bậc, để chính quy là một công chức nhà nước. Nay, nếu mà ra mặt kêu oan thì họ sợ bị trù úm. Nếu không làm giáo viên nữa, thì họ biết làm gì? Mà làm gì thì cũng vẫn trong huyện trong tỉnh ấy “đấu tranh thì tránh đi đâu” - chứ không lẽ bỏ nhà cửa quê quán “tha hương”?
Thế là họ sợ, sợ cho họ, cho gia đình và dòng họ của mình sẽ bị liên đới “trù úm”. Tôi đã mất 3 tháng dò hỏi, thanh lọc từng địa chỉ để thuyết phục họ hợp tác với mình. Rồi tôi ví mình như Quan Công “đơn đao phó hội”, tôi giơ hai tay lên trời, lù lù tiến thẳng vào nhà cô giáo Vũ Thị Hiệp, trường Tiểu học Nguyễn Viết Xuân (người bức xúc nhất mà chưa dám ra mặt). Tôi bảo vợ chồng cô: tôi là nhà báo, tôi đến để nói chuyện vì ông Phúc ở trung tâm hỗ trợ pháp lý ngoài huyện giới thiệu tôi đến, nếu anh chị không tiếp thì tôi đi ra khỏi nhà ngay. Tôi đến để giúp chị Hiệp và các cô giáo tìm chân lý. Trên con thuyền đi tìm sự thật kia, tôi là người giúp chị chèo đò lèo lái, nếu chị không hợp tác chị cứ nhảy ra khỏi thuyền. Tôi đang đi trên thuyền cùng rất nhiều người khác nữa. Xin hãy tin tôi, tôi là một nhà báo tử tế. Vẫn với bài đó, tôi tiếp cận một hiệu trưởng sắp về hưu: cháu đến đây, cháu tên là thế này,cháu biết chú không dám nói chuyện với cháu vì nhiều lý do. Nhưng cháu đã nghe kể và biết chú là người yêu công lý, chú dám đấu tranh cho lẽ phải ngay cả khi họp với phòng giáo dục huyện. Cháu để lại cái danh thiếp, đêm nay chú hãy đọc về cháu trên mạng, những bài cháu đã viết về tỉnh Yên Bái quê chú suốt 10 năm qua, nếu chú tin tưởng cháu thì gọi điện cho cháu. Nếu còn cấn cá, coi như chú chưa bao giờ gặp cháu cả. Cháu chỉ nói, cháu là người tử tế và có tâm với vấn đề mà chú và các nhà giáo đang gặp phải.
Điều tôi hết sức bất ngờ và choáng váng. Là họ cực lực đề phòng “một số nhà báo khó hiểu” nào đó. Họ bảo, từ khi sự việc lanh tanh bành: lãnh đạo huyện, lãnh đạo phòng nội vụ, phòng giáo dục huyện làm sai, làm liều, làm bậy, rồi cái sai đó đổ cả lên đầu hàng trăm giáo viên vô tội. Tỉnh ủy điều tra, kết luận, rồi “xử lý kỷ luật” 16 cán bộ dính dáng, dây dưa, mờ ám, tắc trách trong vụ này. Xử lý theo kiểu: ông Bí thư huyện ủy “bị xử lý kỷ luật” xong thì lên làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh, ông Chủ tịch UBND huyện lên làm Phó Ban Phòng chống tham nhũng tỉnh, ông Phó Chủ tịch lên làm Chủ tịch UBND huyện, ông Trưởng phòng nội vụ bị xử lý kỷ luật xong lên làm… Phó Chủ tịch UBND huyện. Đến khi tôi viết những dòng này và cả khi độc giả Nghề báo đọc những dòng này, các vị bị xử lý kỷ luật mới thăng chức kia chắc chắn vẫn “đương kim” những chức danh mới “đàng hoàng và to đẹp hơn”. Đặc biệt, ông Phó Chủ tịch UBND huyện vừa bị xử lý kỷ luật lên làm Chủ tịch UBND huyện kia lại đứng ra trả lời báo chí, ký công văn, đối thoại với các giáo viên về việc “đuổi” họ ra khỏi biên chế.
Lối xử lý kỷ luật lên chức đó càng làm công luận bức xúc, càng nhiều nhà báo vào cuộc. Nhưng tiếc thay, một số nhà báo đã tiếp cận các nhà giáo. Rồi… lên gặp lãnh đạo liên quan. Không biết họ nói gì và làm gì với nhau. Rồi họ không viết gì cả. Thậm chí họ quay lại khuyên các cô giáo không nên đi kiến nghị, mà chấp nhận rời khỏi biên chế vì “trách nhiệm với địa phương”. Sau khi tôi viết bài, một số nhà báo còn viết bài với nội dung đi ngược lại nỗi đau, sự vô lý mà các cô giáo đang gánh chịu. Thậm chí, sau đó, được đà lấn tới, bà Vân, Phó trưởng phòng giáo dục huyện Yên Bình đã có công văn, ký đóng dấu, nêu rõ: bây giờ có nhiều nhà báo, như thế này thế nọ, họ gặp giáo viên và cán bộ để làm cái này cái nọ không ra gì, đề nghị tránh xa, không tiếp xúc. Đại ý thế, tôi đọc mà lòng đau như có cái cật nứa nào đó đang cứa xé xèo xẹo. Nhiều giáo viên nổi đóa, khóc lóc, oán thán, họ gặp tôi mà dò hỏi đủ đường, cúi mặt không cho chụp ảnh, không nói tên họ là gì. Họ đề phòng cao độ. Trong mắt họ, khi ấy, hai chữ “nhà báo” không còn là một cái gì đáng tin tưởng nữa. Phải nói là họ mạt sát các nhà báo trước mặt tôi. Họ kể vanh vách từng nhà báo với những chiêu trò và biểu hiện “phản bội niềm tin” ở họ như thế nào. Tôi biết họ nói đúng, nên bèn cúi đầu như một tên tội đồ “tình ngay lý gian”.
80 cô giáo mầm non gom tiền làm phong bì cho tôi ra sao?
Tôi lặng lẽ đặt máy ghi âm, ghi lại những lời báng bổ nghề của mình, để… làm kỷ niệm. Rồi lòng tự bảo lòng, sẽ phải điều tra đến tận cùng để cứu những con người tận khổ kia, để lấy lại hình ảnh cho một số nhà báo đang bị mạt sát khá một cách Oan Thị Mầu kia. Chúng tôi đã bí mật đến nhà nhiều giáo viên, nhiều người bị đuổi ra khỏi bục giảng vĩnh viễn vì lỗi của… người khác. Lỗi là do những người đã “nhận của đút” để lấy thừa các suất biên chế (như tố cáo của các nhà giáo, cùng thân nhân họ và tiết lộ của cán bộ tỉnh). Lãnh đạo một cơ quan điều tra vụ việc của tỉnh thừa nhận: mỗi suất biên chế thường có giá từ 40-120 triệu đồng. Họ đã nhận tiền của những nhà giáo nhiều năm cống hiến cho giáo dục Yên Bình với mức lương vài trăm nghìn đồng/tháng kia. Có người bán bò trâu, bán đàn lợn nái, vay tiền ngân hàng để “chạy” biên chế. Giờ “tiền mất tật mang”, mấy chục triệu đồng vừa gốc lẫn lãi sau khi vay ngân hàng “chạy biên chế”, có lẽ còn treo ở đó… nhiều năm nữa. Có người thông qua trung gian, viết giấy vay nợ khi đưa tiền. Rồi khi vụ việc vỡ lở, không ít quan tham đánh xe hơi đến nhà người điều tra vụ việc… xếp hàng để xin xỏ. Có người chạy vạy đem tiền trả cho các nhà giáo để mong được… hòa cả làng. Để tìm ra sự thật, chúng tôi đã hóa trang xâm nhập vào cuộc họp do Chủ tịch UBND huyện Yên Bình và lãnh đạo phòng giáo dục tổ chức để “tiếp xúc, giải thích” với 80 giáo viên sắp bị rời khỏi biên chế. Tôi đã chứng minh cái vô lý, cái nhẫn tâm của những kẻ để xảy ra vụ việc, cũng như cái cách họ “đơn phương đề nghị đuổi cán bộ ra khỏi biên chế” – những hành vi nhẫn tâm, coi thường các nhà giáo quá thể. Sau loạt bài dài kỳ: “Yên Bình dậy sóng” (gồm các bài phóng sự: Quan thanh tra phải trốn khỏi nhà, Những trang giáo án thảm sầu, Gỡ bom tấn dưới mái trường bằng lương tâm, Những trang giáo án thảm sầu sẽ “bay” về đâu? - tất cả đều đăng ở Báo Lao Động và báo Điện tử Dân trí trong tháng 11 và tháng 12 năm 2012), lãnh đạo huyện Yên Bình đã có công văn tiếp thu các bài báo chúng tôi viết rồi hứa sẽ điều tra vụ việc “chạy biên chế”, công an đã lần lượt đến từng gia đình các nhà giáo. Tôi đã đưa Truyền hình Việt Nam, Truyền hình An ninh cùng nhiều cơ quan báo chí vào cuộc tiếp tục điều tra.
Những đêm khuya vượt đường đèo Hà Nội - Yên Bái như con thoi; những ngày dài chờ trời tối để đi tìm các cô giáo ở các làng bản nhằm tránh con mắt theo dõi của “ai đó” muốn ngăn cản việc điều tra của nhà báo. Những lần cán bộ quan chức địa phương gọi điện đòi gặp gỡ “nói chuyện phải trái dịu dàng” khiến tôi phải lẩn tránh. Rồi nữa, những ngày bí mật gặp dăm bảy chục cô giáo, ai cũng nước mắt ngắn dài ở căn nhà tồi tàn trong hẻm vắng. Có lần tôi và nhà báo Xuân Tùng ở VTV, bí mật hẹn mấy chục cô giáo ở quán karaoke Bống ở thành phố Yên Bái. Ai cũng khóc, ai cũng sợ. Có người ôm lấy tôi nức nở, không ngờ nhà báo lại vì chúng em nhiều đến thế, em ân hận quá, những lần anh chưa đăng bài, lần nào về bọn em cũng bấm nhau thở dài: chắc gì lão nhà báo này đã tử tế. Có khi lại giống mấy gã kia. Khi “được che chở” rồi thì các cô giáo nghèo lại bảo nhau gom tiền lại, mỗi cô vài chục nghìn muốn đưa phong bì cho tôi, tôi bảo chớ làm thế, tôi sẽ có phong bì thăm con các cô như đã từng có chút tiền mọn thay đồng quà tấm bánh thăm đứa con gái tàn tật của anh giáo Quân, chị giáo Hương (cô này cũng đang bị đề nghị “ra khỏi biên chế”) khổ quá là khổ. Tôi hứa, sẽ ăn với các cô một bữa cơm nào đó coi như nhận lời cảm ơn…, nếu vụ việc xuôi về một cái kết cục có hậu. Nhiều đêm, đói rạc, quá bữa lâu lắm rồi mà chưa được ăn, len lỏi qua các hàng xe công-ten-nơ “quan tài bay” giăng kín quốc lộ 70 để kịp về Hà Nội trong mưa phùn gió bấc, tôi ngỡ mắt mình đã nhòa lệ vì thương các cô giáo quá ư thiệt thòi, bị đối xử không thể nhẫn tâm hơn. Nhiều cô gầy nhẳng, dạy học xong lúc 5h chiều, lặn lội sương mù gió rít vượt 50km đường đèo núi từ bên kia Hồ Thác Bà ra trung tâm tỉnh, bí mật gặp nhà báo. Tôi về Hà Nội rồi, chưa chắc cô giáo ấy đã ngoi ngóp lái chiếc xe máy cà tàng trong đêm mà về tới Thác Bà Thác Ông. Nhà trường có lệnh, phòng giáo dục có văn bản hẳn hoi: cấm tiếp xúc với nhà báo. Gặp nhà báo phải báo cáo với nhà trường, trường nào có giáo viên tiếp xúc với nhà báo thì hiệu trưởng phải chịu trách nhiệm, em sợ lắm, phải bí mật mà đi nhà báo ơi.
Xin đừng để lại “bia miệng” và “những dấu chân buồn”, nhà báo ơi!
Hôm qua, cô giáo Sâm, cô giáo Yến đều gọi điện cho tôi và khóc thút thít. Giọng Sâm lạc khàn cả đi. Em xin lỗi, vì các nhà báo gặp em trước đó làm em mất niềm tin, nên bọn em đã nghi ngờ anh quá lâu. Tình cờ em đọc loạt bài “Tối đèn ở trái tim thủy điện Việt Nam” dài 4 kỳ của anh trên báo Lao Động, rồi từ đó Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo có văn bản yêu cầu cơ quan chức năng cần mắc điện cho thôn Ngòi Ngần và vài thôn khác của xã Bảo Ái, huyện Yên Bình quê em trước Tết Nguyên Đán Quý Tỵ 2013. Em từng ở đó, bà con hy sinh cho thủy điện đầu tiên của Việt Nam được khai sinh và thắp sáng khắp nơi nơi, nhưng sau khi thủy điện hòa lưới điện quốc gia hơn 40 năm rồi, đến giờ bà con vẫn chưa được thụ hưởng điện lưới. Vẫn đèn dầu. Không điện đường trường trạm, trường mẫu giáo vẫn là cái bếp bỏ hoang nhà ông Quang. Chúng em đọc bài ấy. Và nhờ những cái trạm điện 15 tỷ đồng đang hình thành sau bài báo của các anh, em đã tin”. Tôi không dám khoe khoang, cũng không dám phổng mũi vì lời khen đó của Sâm. Cũng không dám chắc vụ việc đẩy 80 nhà giáo ra khỏi biên chế theo lối chưa từng có kia sẽ… đi về đâu: Những trang giáo án thảm sầu sẽ bay về đâu. Hàng trăm ý kiến, hàng nghìn cuộc điện thoại và thư từ đã bay về các tòa soạn xung quanh vụ việc trên, Hội đồng nhân dân TP Hà Nội đã đưa chuyện “trăm triệu chạy công chức” ra bàn thảo và nóng ran trên các mặt báo. Đất Yên Bình… dậy sóng, những con sóng đưa người ta đến một bến bờ tử tế hơn.
Mỗi lúc ngẫm về các chuyến đi với các cuộc điều tra đầy “khói lửa” của mình, tôi lại trộn đủ xúc cảm: đau đớn, kiêu hãnh, tủi hờn, xăng xái niềm tin về một “mặt trời chân lý”. Tôi lại cứ day dứt mãi về những bước chân của nhà báo. Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ. Lạy trời, khi đi tác nghiệp, tôi sẽ không còn gặp phải những bước chân buồn xấu của nhà báo nào đó, như không ít lần tôi đã gặp. Như “phi vụ” “Yên Bình dậy sóng” vừa rồi. Ai đó bảo, mỗi lần viết thật sự, người ta càng thọc sâu vào nỗi cô đơn, đến nỗi nói như nhà văn Nguyễn Tuân, trang viết nào cũng bắt đầu khó nhọc như đứng trước một “pháp trường trắng” (trước đây là trang giấy, nay là trang word trắng của máy tính). Ngần ấy khổ sở “múc óc ra trang bán”, “viết như thổ huyết” thế, chưa đủ tội tình sao? Sao lại còn “vết chân buồn của nhà báo” nữa làm gì?
Cần Thơ, 17/12/2012












