My Opera is closing 3rd of March

Lại qua miền Tây Bắc, núi vút ngàn trùng xa! Trở về, công tơ mét báo, 2.500km!


Tây Bắc có những cánh rừng nguyên sinh rộng lớn và huyền bí nhất Việt Nam, những đỉnh núi cao nhất Việt Nam, những con sông như áng tóc trữ tình ghềnh thác – cũng lại nhất Việt Nam! Thiên nhiên và con người Tây Bắc, đến nay vẫn cứ là một ẩn số đầy quyến rũ với tất cả chúng ta. Núi rừng dữ dằn và lãng mạn, cuộc sống đôi khi khốc liệt mà sặc sỡ sắc màu. Tây Bắc còn có nhiều “câu chuyện đường rừng” ly kỳ, ám ảnh và rất khó tin dù quá nhiều người đã biết nó là sự thật. Nơi đây cũng sinh ra những phận người không giống ai trên đời. Nhiều người suốt đời không biết đến nơi nào khác ngoài cái bản mình đang sống, họ sinh ra, già cỗi và lặng lẽ chết đi như cái lá của rừng núi quê mình. Nhiều người như Võ Tòng đả hổ, leo núi như sơn dương, dũng mãnh như sư tử. Có ông như Lỳ Hừ Xá bắt hổ về nuôi như chó lợn dưới gầm bàn, rồi hiến ông Ba Mươi ấy cho Vườn thú Thủ Lệ trưng bày suốt 20 năm. Có người như ông Chang Gố Chừ, là Phó Chủ tịch kiêm xã đội trưởng, bỗng dưng bị hổ ăn thịt một lúc mất cả mẹ đẻ và con gái ruột mới 13 tuổi đầu. Có nhiều hủ tục kinh hoàng như treo trẻ sơ sinh lên ngọn cây đến chết, để trả lại thiên thần bé ấy cho trời đất - tưởng như chỉ có trong các bộ lạc trong dòng phim Khám phá (discovery) xứ người…

Chùm phóng sự Tây Bắc với những câu “chuyện đường rừng” ám ảnh nhất
Lời tòa soạn:

Tây Bắc có những cánh rừng nguyên sinh rộng lớn và huyền bí nhất Việt Nam, những đỉnh núi cao nhất Việt Nam, những con sông như áng tóc trữ tình ghềnh thác – cũng lại nhất Việt Nam! Thiên nhiên và con người Tây Bắc, đến nay vẫn cứ là một ẩn số đầy quyến rũ với tất cả chúng ta. Núi rừng dữ dằn và lãng mạn, cuộc sống đôi khi khốc liệt mà sặc sỡ sắc màu. Tây Bắc còn có nhiều “câu chuyện đường rừng” ly kỳ, ám ảnh và rất khó tin dù quá nhiều người đã biết nó là sự thật. Nơi đây cũng sinh ra những phận người không giống ai trên đời. Nhiều người suốt đời không biết đến nơi nào khác ngoài cái bản mình đang sống, họ sinh ra, già cỗi và lặng lẽ chết đi như cái lá của rừng núi quê mình. Nhiều người như Võ Tòng đả hổ, leo núi như sơn dương, dũng mãnh như sư tử. Có ông như Lỳ Hừ Xá bắt hổ về nuôi như chó lợn dưới gầm bàn, rồi hiến ông Ba Mươi ấy cho Vườn thú Thủ Lệ trưng bày suốt 20 năm. Có người như ông Chang Gố Chừ, là Phó Chủ tịch kiêm xã đội trưởng, bỗng dưng bị hổ ăn thịt một lúc mất cả mẹ đẻ và con gái ruột mới 13 tuổi đầu. Có nhiều hủ tục kinh hoàng như treo trẻ sơ sinh lên ngọn cây đến chết, để trả lại thiên thần bé ấy cho trời đất - tưởng như chỉ có trong các bộ lạc trong dòng phim Khám phá (discovery) xứ người…

Rồi sự hành hoành của lá ngón khiến người ta tự tử hoặc rủ nhau đi chết tập thể cứ như không, vì những lý do không ra đâu vào đâu cả. Có cặp vợ chồng quyết tâm ăn lá ngón chết cùng nhau, không chết được cùng ngày, chồng hẹn, đúng 3 năm sau ngày vợ chết “anh” sẽ nằm trên mộ “nàng” rồi ăn ba cái lá ngón hoa vàng. Anh ta đã được chết trong nỗi kinh hãi của biết bao người. Vì sao như vậy?

Cả sự tác yêu tác quái của thuốc phiện trong những bản làng người Dân tộc Lá Vàng (La Hủ) sống biệt lập tội tình như người nguyên thủy giữa rừng xanh núi đỏ của Mường Tè khiến người ta chỉ còn biết thở dài “nếu có ma trên đời, thì con ma đáng sợ nhất phải là ma túy”. Giữa Tây Bắc hoang sơ tột cùng, lầm lạc tột cùng, chúng tôi phải ứa nước mắt chứng kiến cảnh người đàn ông từng ôm mộng thành lập “xứ Thái tự trị” ở Điện Biên rồi bị đi cải tạo, giờ đây “vua” ngồi khóc giữa đói khát cùng một đàn con cháu nghiện ma túy và nhiễm HIV.

Rìa thành phố Điện Biên Phủ, thực dân Pháp giết một lúc 444 người phụ nữ và trẻ em Thái, những người sống sót bị ám ảnh điên cuồng đến mức bất cứ ai nghe chuyện cũng phải bật khóc. Lại có những trận sốt rét xóa sổ các bản làng ở Sơn La, vài đứa trẻ sống sót. Có những trận giặc Pháp tàn sát cả một vùng rộng lớn tang thương, có bé gái bú sữa lẫn máu mẹ mình (mới chết) rồi sống sót, được các chú bộ đội bế theo trên đường vào đánh trận Điện Biên “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”: số phận những người ấy bây giờ ra sao? Nhưng giữa cái thời khói thuốc phiện ềm ệp bay, rồi lũ phỉ ngổ ngáo trong đói khát, lầm lạc đó, Tây Bắc cũng đã rực sáng với tấm gương của những con người mà xứ sở dường như đã sinh ra họ để cứu rỗi cho bà con mình. Đó là anh hùng liệt sỹ Trần Văn Thọ, là anh hùng đầu tiên của lực lượng Công an vũ trang Việt Nam. Cả TP Điện Biên Phủ và Thị xã tỉnh lỵ Lai Châu hiện nay đều có đường mang tên anh – người mãi mãi 27 tuổi. Đồn biên phòng Leng Su Sìn (huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên) là đơn vị quân đội duy nhất ở Việt Nam có dựng tượng người đồng đội cùng đơn vị của mình để nhang khói sóc vọng. Đó là anh hùng đầu tiên của ngành giáo dục Việt Nam, nhà giáo Nguyễn Văn Bôn, người đã cùng PV TTĐS trở lại Mường Tè trong dịp này.

Những gì họ đã làm cho Tây Bắc từ mấy chục năm trước, nó ly kỳ, đẹp đẽ như “cổ tích” và đáng cảm kích đến rơi nước mắt. Bút mực của chúng ta hầu như chưa viết về điều đó, mà kỳ thực, cũng khó có văn bút nào tả xiết được…

Bài 1:

Hai người cùng bị hổ ăn thịt ở Khe Hai Bà Cháu

Đó là câu chuyện đã ám ảnh tôi - người viết bài này suốt hơn mười năm qua.

Khoảng năm 2002, tôi quyết định viết thư để lại cho người thân, chấp nhận mọi rủi ro, cam khó nhất để đi đến quyết định: bỏ 15 ngày rõng rã đi bộ vào cột mốc số 0 - Ngã ba biên giới A Pa Chải (huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên). Tôi cứ leo núi từ sáng đến tối thì gặp một bản làng, xin ngủ nhờ, xin bát cơm nương, “bị” mời vài bát rượu túy lúy. Rồi trời về khuya lạnh cóng, tôi cứ thế rúc cạnh những cái bếp lò của người Mông, người Hà Nhì, người Thái mà ngủ nhờ. Đường rừng hoang vắng, nhiều đoạn cây đại thụ phủ kín, đi vài tiếng không thấy ánh mặt trời. Thi thoảng gặp một đoàn người Mông di cư tự do, họ khênh cả đồ đạc nhà cửa, vợ con, lợn gà trên vai, cứ thế rồng rắn đi lênh khênh như những cỗ rô bốt lớn.

Lối mòn chuột chạy, chỉ vừa bước chân người, đôi chỗ có đường riêng cho ngựa thồ đi, đường ngựa đi thì phải liền mạch, dù xa hơn đường cho người. Đường cho người thường hang hố, phải nhảy như con ếch từ vực nọ sang vực kia (chứ ngựa thì không nhảy khéo léo thế được). Trước khi tôi vào đến xã tận cùng biên ải, nơi một con gà gáy ba nước Việt, Trung, Lào cùng nghe; trước khi tôi vắt kiệt sức mình để leo lên được Thập Tầng Đại Sơn hùng vĩ với biểu tượng cột mốc ba cạnh (bấy giờ cột mốc chưa xây quy mô như bây giờ); mới chỉ có đôi ba người viết từng chinh phục được dải rừng hoang của Khu bảo tồn thiên nhiên lớn nhất Việt Nam (Mường Nhé, rộng 3000.000ha) này.

Một trong số đó là nhà thơ Đỗ Thị Tấc (nay là Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Lai Châu). Bấy giờ chị Tấc làm ở Đài PTTH Lai Châu. Chị đi bộ 2 tháng, vác máy quay theo chân lính biên phòng, chị đi trong mùi khói thuốc phiện và sự đói nghèo tột độ của các bản làng hẻo lánh, chị băng qua những nương anh túc trải dài bất tận, đẹp đến rợn người. Cuối cùng, vì lý do tế nhị, những thước phim đó không bao giờ được phổ biến nữa. Còn người đàn bà Đỗ Thị Tấc bị bệnh sốt rét ác tính tra tấn, tóc rụng không còn một sợi, da đầu trơ lơ, đỏ hon hỏn suốt mấy năm ròng. Chị trở về trên chiếc cáng cứu thương của lực lượng biên phòng.

Bà con vùng đất tam biên (ở gần ba biên giới của ba nước) sống diễm tình lắm. Nam nữ tắm đầy con suối đầu bản mỗi chiều, cứ nần nẫn như tiên ông tiên bà. Tôi đi đâu cũng có một cán bộ công an mặc thường phục đi cùng. Đến một bản nào đó, tôi cứ tự tin bước vào bất kỳ nhà nào, họ không có cửa rả, không có xe cộ ngoài mấy con ngựa buộc gốc cây vả như thể một “bãi xe bản vắng”. Vứt đồ đạc đó, treo áo lên vách, rồi đi chơi, đi tắm suối. Chủ nhà về, thấy có tư trang hành lý, thấy áo cán bộ treo đó, tự khắc họ biết rằng nhà mình có khách quý, họ nấu cơm và đi lang bang khắp bìa rừng hú gọi “thằng cán bộ về nhà tao ăn cơm”. Trong những ngày tôi khóc vì cảm kích trước tấm lòng của bà con Hà Nhì vùng phên giậu, thì một bố già ở Sín Thầu đã giết bò làm lễ đặt tên Hà Nhì cho tôi. Lỳ Sé Hoàng.

Bấy giờ cũng là lúc đồn trưởng Leng Su Sìn - anh Thành Đô (quê Thái Bình) cùng ông lão người Hà Nhì Sừng Chừ Cà dẫn tôi vượt suối lớn Păng Pơi đi thăm nhà ông Chang Gố Chừ. Ông Chừ có mẹ đẻ là bà Chang Hà Pư, bị hổ ăn thịt lúc 49 tuổi. Oái oăm hơn, cô con gái 13 tuổi của ông Chừ cũng bị chính đàn hổ dữ đó ăn thịt vào ngay ngày hôm đó.

Đàn hổ ở rừng già đầu bản, chúng từng về bản quắp mấy đứa trẻ chạy tọt vào rừng, bà con phải dùng thanh la não bạt, gõ mâm đồng và nồi nhôm đuổi suốt một buổi mới bắt lại được đám trẻ. Người Hà Nhì rất sợ hổ, vì họ ở trong rừng sâu, nơi thiên nhiên chế ngự tất cả, nơi hoang thú hành hoành đầy hăm dọa. Vì thế trong tập quán của họ, tháng nào cũng có ngày Con Hổ, ngày ấy không ai được đi làm, mà có đi làm gì thì làm, chỉ được đi nương thoáng (ít cây cối) chứ không được đụng đến rừng già.

Đàn hổ đã ăn thịt cháu bé 13 tuổi, chỉ để lại duy nhất cái… xương sọ. Riêng bà Chang Hà Pư, không một mảnh vải che thân, hổ chỉ cắn đứt cổ, giết chết bà rồi không ăn miếng nào. Chúng phủ lá xanh lên xác bà. Bà con tin, lũ hổ đó đã thành tinh. Chính cán bộ đồn Biên phòng Leng Su Sìn (nay là đồn 405, Điện Biên) đã phải gài bẫy súng. (Tức là để súng trong rừng, dùng dây và lẫy điều khiển từ xa, hổ lọt vào trận địa mai phục là kéo dây xiết cò) Lũ hổ bị tiêu diệt.

Cũng từ bấy, trong “bản đồ” vùng ngã ba biên giới có một cái khe suối tang thương, huyền bí, ma mị và cũng khét tiếng dân gian: Khe Hai Bà Cháu như là cái cách để tưởng nhớ hai bà cháu bị hổ ăn thịt. Khe nước ấy giờ đây vẫn trong vắt. Sở dĩ muông thú thường tụ hội ở đó rồi bị thợ săn tiêu diệt, hay chúng ăn thịt người như lũ hổ kể trên, là bởi vì khe nước có chứa khoáng chất, bờ khe có các hòn đá chứa muối. Thú liếm nhẵn các hòn đá để tìm muối, tìm khoáng chất theo tiếng réo gọi bản năng của cơ thể chúng. Giàng làng Pờ Sỹ Tài ở bản Tả Kho Khừ bên cạnh, sinh thời rất thân thiết với tôi, kể: thú về nhiều, ông chỉ cần đứng trên đỉnh núi, cầm đá ném xuống khe, đã giết được con nai con hươu về chia đều cho dân bản.Cuối tháng 4 năm 2013, Trung tá, Đồn trưởng đồn biên phòng Leng Su Sìn, anh Nguyễn Bá Trìu dẫn tôi trở lại gặp ông Chang Gố Chừ. Năm nay 73 tuổi, dân bản vẫn quen gọi ông Chừ là “ông Mốc”, bởi da thịt ông, nhiều đoạn cứ tróc lở, thành vảy như vảy cá, nhìn như một khúc gỗ mục mốc cũ càng. Nhiều cán bộ cắm bản thì gọi ông là “ông Hai Bà Cháu”, vì cái chết của mẹ đẻ và con gái ông Chừ đã là nguyên nhân của việc ra đời tên gọi Khe Hai Bà cháu ở trước cửa đồn Leng Su Sìn. Chuyện buồn nhà ông Chừ, bản làng thế hệ ấy, rất nhiều người còn sống và đều biết cả. Ông Chừ kể: “Tôi đi bộ đội năm 1962, năm 1964 thì tôi ra quân, về lại quê Leng Su Sìn. Đến năm 1966 làm Phó Trưởng Công an xã Chung Chải, năm 1968 lại sang chiến trường Lào chiến đấu. Sau này tôi về địa phương làm Bí thư Đảng ủy xã 2 khóa liền”.

Vợ ông Chừ cùng tuổi với ông, bà cụ vận khăn áo Hà Nhì truyền thống, gương mặt góc cạnh và khắc khổ. Bà nói tiếng Hà Nhì liền tù tì, âm sắc mạnh, nó càng rổn rảng hơn khi bà vừa nói vừa khóc. Cà - anh cán bộ đồn biên phòng 405, người Hà Nhì gốc Chung Chải chậm rãi dịch cho tôi nghe. Anh này thậm chí còn “dịch” cả lời ông Chừ kể bằng tiếng Việt đầy xúc cảm, bởi giọng ông lơ lớ, dùng tiếng Việt bập bẹ đã khó nghe, lại thêm cái phều phào do gẫy hổng quá nhiều cái răng. “Tôi nhớ rõ hôm đó là ngày 19/8/1978. Mẹ Hà Pư của tôi cùng con gái tôi 13 tuổi tên là Chang Bố Sừ đi làm cỏ sắn ở đám ruộng trên sườn núi trước nhà. Mẹ mặc váy áo Hà Nhì. Con gái tôi mặc váy đẹp do các đồng chí biên phòng may cho (cán bộ quý gia đình tôi lắm, cái gì cũng bộ đội sắm cho cả). Buổi chiều, làm cỏ xong mẹ Hà Pư và con gái tôi mới xuống suối Păng Pơi để tắm. Mẹ tôi hút thuốc lào bằng cái điếu rất to. Trời chiều rất nóng, bỏ cái sọt đi nương ở đó, rồi mẹ cởi quần áo xuống tắm. Con gái tôi 13 tuổi đi ra bờ suối bên kia hái quả gừng chín đỏ thành từng chùm, cháu cũng trèo cây sổ lấy quả chua chua để ăn. (Thật ra thì không ai nhìn thấy những cảnh đó, mà là tôi sau khi chôn mẹ và con gái chung trong một cái quan tài, xem đồ đạc, hoa quả, quần áo mẹ và con gái để lại, thì tôi hiểu sự thể như vậy). Đàn hổ xông ra khi mẹ tôi đang tắm, con gái tôi vừa trút bỏ váy. Hổ cắn đứt cổ mẹ tôi, khi bà vừa bước sang tuổi 49. Con gái tôi bị hổ ăn chỉ còn duy nhất cái xương sọ, khi ở tuổi 13.

Tôi không thấy mẹ và con gái về nhà, đi tìm thì nhặt được cái khăn, cái váy của mẹ tôi, của con gái tôi, mỗi thứ một nơi. Đi theo vết máu thì tôi nghe thấy tiếng “ồ ồ” rất to, rõ ràng là một đàn thú dữ đang cắn xé nhau, tranh giành nhau những “con mồi”… Linh cảm chẳng lành, tôi chạy thẳng về đồn biên phòng, về bản kêu khóc gọi mọi người cầm súng ra bờ suối. Ở bên bờ khe nước, chúng tôi tìm thấy một cái xương sọ máu me be bét và xác mẹ tôi nằm thê thảm. Không hiểu sao, đàn hổ bẻ lá rừng phủ kín thi thể bà.
Chúng tôi đẵn gỗ, chôn chung mẹ và sọ con gái tôi trong một cái quan tài. Từ đó tôi không biết nấm mộ của họ ở đâu nữa. Vì theo quan niệm của người Hà Nhì, những người chết “đen đủi” (gọi là “chết xấu”) như mẹ và con gái tôi, thì chôn không được có nấm mộ, cũng không chăm bẵm gì phần mộ sau này. Cán bộ đồn đã phải gài 7 khẩu súng trong rừng, suốt nhiều ngày “mai phục”, mới tiêu diệt được lũ hổ ác, báo thù cho mẹ Hà Pư và con gái Bố Sừ của tôi”.

“Suốt bao nhiêu năm, và đến tận bây giờ, nhiều đêm tôi vẫn thấy mẹ tôi trở về bản Leng Su Sìn, thân hình nguyên vẹn, bà cho gà ăn, cho lợn ăn, bà đi nương và ngồi trò chuyện với tôi. Con gái tôi cũng vậy, nó quấn quýt với bố mẹ, nó như đứa con chung của tất cả cán bộ đồn Leng Su Sìn, miếng cơm, tấm áo, chữ nó học i tờ, cũng là do cán bộ đồn mang lại hết…”. - Vợ ông Gố Chừ khóc nức nở - “Hai bà cháu qua đời, 8 tháng sau bố chồng tôi cũng qua đời. Sau một thời gian thì con trai cả buồn quá cũng chết. Vì thế gia đình ngày càng nghèo khổ, càng suy sụp tinh thần. Chỉ nghĩ đến cái chết chứ không dám nghĩ con đường sống”.

Trong căn nhà chình đất bé như cái chuồng lợn tối tăm, hai người già ở tuổi 73 cùng khóc ầm lên, những vết nhăn kéo dài dúm dó trên khuôn mặt cứ chun lại. Họ đã bị ám ảnh cả đời bởi hai cái chết khủng khiếp kia. Bất giác lòng tôi se thắt, nghĩ: miền rừng này đã sinh ra những số phận nghèo đói và tận khổ như gia đình ông Chang Gố Chừ, món quà, chút tiền mọn tôi đem cho họ sẽ vèo qua như chiếc lá rụng. Và, mỗi lần đi qua Khe Hai Bà Cháu, tôi lại tự nhủ trong lòng, mình sẽ chép lại trung thực, chi tiết câu chuyện này, coi như trả cho núi rừng một trang sử bi thiết nhất. Cái gì của lịch sử cứ trả nó về cho lịch sử, bất biết nó là kỷ niệm buồn hay vui. Đơn giản, đó là câu chuyện có thật mà vì các lý do nhân văn, chúng ta không nên quên lãng nó...


Bài 2:
Bắt hổ, nuôi hổ như nuôi chó trong gầm bàn rồi tặng cho Vườn thú Thủ Lệ nuôi suốt 20 năm
Bài và chùm ảnh: Đỗ Doãn Hoàng
Chú thích ảnh:
Vợ chồng ông Chang Gố Chừ kể chuyện buồn của gia đình mình.
Khe Hai Bà Cháu hiện nay.
Hổ dữ từng hành hoành, là nỗi ám ảnh lớn nhất của người Hà Nhì vùng biên ải hoang vu.

Cảm ơn Đại lão nhà văn Xuân Cang, rất mong một ngày được gặp mặt bác!Nhìn con chiến mã va vào đá ngầm giữa rừng Mù Cả, Mường Tè mà xót quá. Xe cứu hộ đi 1 ngày 1 đêm, vượt 280km núi non mới cứu được nó.

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28