Nhiều lúc lang thang như kẻ không nhà/ Đi đâu lang thang cho đời mỏi mệt.
Monday, August 5, 2013 4:01:43 PM
Hằng đêm, khi Hà Nội chìm vào giấc ngủ, lúc đó các vỉa hè, các hiên nhà người dân, trụ sở cơ quan nhà nước mới trở thành… giường chiếu của người vô gia cư. Tôi đã ứa nước mắt nhìn những ông già râu tóc bạc phơ nằm vật vã tội tình ở một cửa hàng bán đồ hiệu cực đắt để chờ cho hết đêm thâu. 3 giờ sáng, những người già dăn deo, xơ xác, nằm ngủ như một thi thể bên lề phố, bên cạnh là cống rãnh, rác rưởi, xú uế. Có người ngủ công viên trong mưa, bàn chân đen kịt, người phủ túi nilon chống ướt và chống rét. Có anh chàng gầy rộc trông như người chết đói, ở trần, ngủ ngồi trên một cái bục bốt điện, đầu ngoẹo vào vai trong một thứ chập chờn. Có lẽ anh không bao giờ có được một giấc mơ êm.
Thế giới người vô gia cư trên “đất thánh” Thủ đô, nó chứa đầy nước mắt và sự tủi nhục, đôi khi nó chứa cả chút trăn trở buốt lòng của những người chăn ấm đệm êm, ăn sung mặc sướng khác. Tôi viết những dòng này trong một đêm bão về, mưa ngập đường phố Hà Nội, lòng nôn nao tự hỏi: hàng trăm người vô gia cư đó, bây giờ chạy đi tá túc ở đâu nhỉ?
Thế giới người vô gia cư trên “đất thánh” Thủ đô, nó chứa đầy nước mắt và sự tủi nhục, đôi khi nó chứa cả chút trăn trở buốt lòng của những người chăn ấm đệm êm, ăn sung mặc sướng khác. Tôi viết những dòng này trong một đêm bão về, mưa ngập đường phố Hà Nội, lòng nôn nao tự hỏi: hàng trăm người vô gia cư đó, bây giờ chạy đi tá túc ở đâu nhỉ?
Người vô gia cư, lang thang trên “đất thánh” Hà Nội - sự tận cùng số phận…
Phóng sự dài kỳ của Trần Quân - Nguyên Long
Mùa đông, có người phụ nữ phải tắm truồng ở bãi chợ chợ Long Biên, bên sự che chắn của các cỗ xe tải. Có người vì bị hãm hiếp tập thể mà dính đủ các bệnh xã hội như lậu, giang mai, rồi làm điếm, vô sinh. Bao năm chị dặt dẹo “cặp” với người đàn ông nhặt rác cũng lang chạ “đầu đường xó chợ” khác. Đêm về, có khi đánh chửi nhau, có khi “mặn nồng” trong tấm chăn mỏng giữa màn trời chiếu đất góc chợ Đồng Xuân, chợ Cầu Đông vắng vẻ. Có bà cụ nhiều năm nay phải trùm chăn, quây áo mưa ở góc phố, đi vệ sinh vào túi nilon rồi ném vào thùng rác. Ban ngày ban mặt thì “đi tiểu” ở bất cứ góc khuất có thể có nào của Hà thành, lúc có đồng bạc lẻ của bố thí thì mới dám đi “vệ sinh” ở toa lét công cộng (có thu phí). Chiều đến lại rúc vào một góc vỉa hè tắm rửa bằng can nước nhỏ. Có người già bưng ảnh chồng đi khắp nơi để tưởng nhớ, rồi thắp nhang, bày hoa quả “cúng ông ấy nhà tôi” ở ngay Bốt Hàng Đậu - trước khi gục mái tóc bạc phơ trên chính hai đầu gối lẩy bẩy của mình để ngủ trong mưa gió chờ trời sáng.
Bài 1:
Cụ bà “du mục” trên phố, lập bát nhang thờ cúng chồng ở kẽ gạch Bốt Hàng Đậu
Thảm cảnh của những người “du mục trên phố”
Họ như những người du mục, như dân di-gan, vong xứ ly hương, không biết đời mình sẽ đi đâu về đâu, không dám hy vọng gì vào cái gọi là ngày mai. Tận cùng buồn khổ, họ lang thang nhặt rác, xin ăn, làm cả những nghề mà “xã hội không khuyến khích hoặc cấm đoán”, họ vật vạ sống qua ngày ở khắp các ngõ ngách của Hà Nội. Cả ngày dài lẫn đêm thâu, suốt bao năm qua, họ lấy gầm cầu, bến xe, xó chợ, hiên nhà, ghế đá, công viên, vỉa hè các công sở… làm chỗ ngả lưng chờ trời sáng.
Hằng đêm, khi Hà Nội chìm vào giấc ngủ, lúc đó các vỉa hè, các hiên nhà người dân, trụ sở cơ quan nhà nước mới trở thành… giường chiếu của người vô gia cư. Tôi đã ứa nước mắt nhìn những ông già râu tóc bạc phơ nằm vật vã tội tình ở một cửa hàng bán đồ hiệu cực đắt để chờ cho hết đêm thâu. 3 giờ sáng, những người già dăn deo, xơ xác, nằm ngủ như một thi thể bên lề phố, bên cạnh là cống rãnh, rác rưởi, xú uế. Có người ngủ công viên trong mưa, bàn chân đen kịt, người phủ túi nilon chống ướt và chống rét. Có anh chàng gầy rộc trông như người chết đói, ở trần, ngủ ngồi trên một cái bục bốt điện, đầu ngoẹo vào vai trong một thứ chập chờn. Có lẽ anh không bao giờ có được một giấc mơ êm.
Thế giới người vô gia cư trên “đất thánh” Thủ đô, nó chứa đầy nước mắt và sự tủi nhục, đôi khi nó chứa cả chút trăn trở buốt lòng của những người chăn ấm đệm êm, ăn sung mặc sướng khác. Tôi viết những dòng này trong một đêm bão về, mưa ngập đường phố Hà Nội, lòng nôn nao tự hỏi: hàng trăm người vô gia cư đó, bây giờ chạy đi tá túc ở đâu nhỉ?
Cụ ông cụ lập cập dắt tay cụ bà, bỏ nhà đi lang thang suốt mấy chục năm vì giận con cháu
“Đời tôi thế này là khổ nhục hết cỡ rồi. Hơn 80 tuổi rồi, mà vẫn sống ở lề phố, xó chợ, đợi đến nửa đêm người ta đóng cửa hàng mới rón rén nằm được vào mái hiên đó, cháu bảo còn gì khổ hơn!?”, bà cụ Nguyễn Thị Loan, chừng 80 tuổi mà chúng tôi đã gặp nhiều lần ấy nói rồi khóc. Bà Loan đi lang thang nay đây mai đó, Hà Nội dăm bảy triệu dân, biết tìm nơi đâu? Sau quá trình lùng kiếm nhiều lần, tôi quyết định liên lạc với tổ chức của những bạn trẻ mang tên “Ấm” (ấm áp tình người), hàng tuần họ đều đặn chuẩn bị 65 suất quà, tìm gặp ít nhất 65 người vô gia cư để phân phát. Mỗi suất có đủ bánh mỳ ruốc, cơm nắm kèm giò chả, hai chai nước suối, hai hộp sữa. Thậm chí cả nồi niêu, quần áo và thuốc men chữa bệnh.
Hoàng Long - một cư dân phố cổ, vừa tròn 20 tuổi, là thành viên nhóm “Ấm” vốn hoạt động rất tích cực và khá am hiểu tình hình những người nằm “đầu đường xó chợ” của Thủ đô - dẫn tôi đi thị sát. Kể cả những đêm mưa to gió lớn, cứ 12 giờ đêm chúng tôi mới bắt đầu lên đường. Bởi giờ đó, Hà Nội mới bớt ồn ào, các cửa hiệu mới đóng quầy, và vỉa hè, mái hiên các ngôi nhà, cửa hàng mới có chỗ để người vô gia cư ngồi, nằm. Đó cũng là lúc người vô gia cư không đi nhặt rác, không đi bán phế liệu và không đi bán hàng rong, ăn xin được. Lúc đó, bà Loan và những người khác mới về đến “căn cứ địa” của họ.
Lại nói chuyện bà cụ Nguyễn Thị Loan. Qua tâm sự nhiều lần bà mới tin tưởng mà kể chuyện, còn đâu thì cứ giản dị mà rằng: cháu cho bà hai ba chục nghìn, bà ăn bữa tối, ăn bữa trưa, chứ chuyện trò làm gì, đời cay đắng lắm. “Đấy, mày lại hỏi về thằng con trai trời đánh của tao rồi. Chồng tao chết còn di huấn lại là không cho nó không cho nó chống gậy để tang cơ mà. Cả nhà đang xé khăn tang, nó mò lên xin được chịu tang bố, nhưng tao vác gậy đuổi thẳng. Mày nhắc thằng ấy lại làm tao… không muốn nói chuyện nữa. Được hai thằng con trai rõ ngoan thì chết vì lũ cuốn ở Điện Biên, thằng bố láo cướp sổ đỏ của bố mẹ thì nó sống nhe răng!”.
Hầu hết người bỏ xứ lên Hà Nội lang thang, lấy gầm cầu bến xe, cuối chợ góc phố làm nhà, họ đều có nỗi cay đắng, tủi giận với người thân. Đói nghèo, thất nghiệp không phải là lý do chính để họ cất bước ra đi. Mà sự oán hận là nguyên nhân chính. Thật ra bà Loan tự giới thiệu mình tên là Nguyễn Thị Loan, nhà ở thôn S., xã MĐ., huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, chứ bà cũng không cho tôi xem chứng minh thư hay giấy tờ gì (sau này nhờ công an xác minh, chúng tôi mới biết bà nói thật).
Những người dân xung quanh kể, đã từ lâu lắm, tóc bà vẫn bạc trắng như thế, da dăn deo như thế, bà bảo tuổi mình đã 100 rồi. Có lúc bà ngủ trong các vỉa hè phố cổ, có khi cả năm vợ chồng bà “định cư” ở cổng chợ Đồng Xuân, ăn ngủ, tắm giặt và phóng uế quanh đó. Bây giờ bà cụ vẫn ngày ngày, đêm đêm lang thang ở khu vực Bốt Hàng Đậu, chỗ đầu đường Quán Thánh - Hàng Than, Hà Nội. Ngày, bà ngồi ở ven bốt ngẩn tò te nhìn dòng xe cộ. Dựa sát vào thành đá của bốt, là hai cái làn, cái đựng quần áo, hộp đựng thức ăn; cái thì đựng cuốn kinh nhà Phật, kèm theo bức ảnh thờ ông chồng vừa mới chết chưa tròn giỗ đầu. Bà lọc bớt đồ đạc, sao cho cả gia sản phải để vừa trong hai cái làn ấy. Ví dụ cái chăn người ta cho để đắp, bà đắp vài hôm là lại “tặng” người vô gia cư cùng cảnh ngộ, bởi bà không khênh nó đi được. Rét thì khoác áo mưa vào cho ấm, khó chịu tí, nhưng nhẹ nhàng, vừa đỡ lạnh lại che được cả mưa gió.
Bà cứ ngồi đó, ai cho tiền thì nhã nhặn giơ tay ra xin, cảm ơn chu đáo. Vì phải dọn chỗ ngồi cho sạch, vả lại tính người già như bà cũng thích thơm tho, nên tự bà khoác cho mình cái nhiệm vụ “ngăn chặn” những kẻ đái bậy. “Trước chỗ này khai lắm, khai đến mức không ai ngồi được, họ chỉ dựng cái xe máy vào đây rồi bịt mũi chạy đi. Giờ tao “chiến đấu” cho sạch bong”, bà Loan tự hào khoe. Bà quét dọn sạch. Rồi bất kể ai, đặc biệt là cánh xe ôm lang thang chờ khách, cứ… chuẩn bị đái bậy là bà đến nhắc, đứa nào cứng đầu thì bà chửi, bà già rồi, chả ngại ngùng gì khi nhắc người khác lúc họ… vạch ra.
Làm được việc tốt ấy, nên cán bộ cơ sở và bà con càng quý bà Loan, để cho bà tá túc yên bình nơi công cộng “trăm ông đi qua nghìn bà đi lại” đó. Hôm nào khỏe, bà quét dọn sạch sẽ cả cái ngõ chỗ tiệm vàng đối diện Bốt Hàng Đậu, người ta thấy thế, thương tình lại cho bà mấy chục nghìn ăn cái bánh mỳ hay vài đùm cơm nắm để ăn qua ngày đoạn tháng. Ngày nắng thì nóng nực bụi bặm, ngày mưa thì ẩm ướt, rét mướt, ở ngoài trời khổ thật. Nhưng phải ra ngoài trời, với thân gầy, da mồi tóc bạc người ta trông thấy mới thương, mới… cho vài đồng bạc lẻ. Vả lại không ngồi vỉa hè thì biết ngồi đâu? Muốn ngủ thì phải chờ vợ chồng nhà cái bác bán mũ bảo hiểm ở đầu phố Hàng Đậu đóng cửa đi ngủ, thì mới có chỗ nằm nhờ ngoài mái hiên chứ. . Cũng phải giờ đó Hà Nội mới bớt ồn ào “mình ngủ ngoài phố chứ có phải ngủ ở nhà đâu, phố đông đúc ầm ĩ xe cộ thế này, ngủ thế nào được”. “Dưng mà tôi ngủ ít lắm, nằm khóc thương ông nhà tôi ăn ở phúc đức mà đến lúc sắp chết vẫn lang thang ngủ vỉa hè mái hiên của nhà người ta. Có ngủ được đâu!”, bà Loan nói.
Ngủ vỉa hè góc phố, sống bằng của bố thí cho đến… lúc chết
Ông với bà giận con cháu, bị họ đánh đuổi cướp mất cả sổ đỏ nhà cửa (như bà nói), nên dắt díu nhau lên Hà Nội tìm kế sinh nhai. Bà hơn ông dăm tuổi, ông là cựu binh đánh Pháp ở Điện Biên Phủ, bà cũng từng đi dân công hỏa tuyến, họ lên Hà Nội lấy vỉa hè làm nhà, lấy tiền bố thí của người đời làm “kế” sinh nhai. Trước lúc khóc ròng, bỏ quê Tứ Kỳ lên Hà Nội, ông bảo bà: một là bà chọn thằng con nghiện hút hư hỏng, bà ở lại quê; hai là bà chọn tôi, đi theo tôi lang thang cho bõ uất hận. Bà chọn đằng nào tôi cũng chiều. “Bấy giờ tôi vừa đi chợ về, nghe ông nói thế hoảng quá, nhưng tôi nói ngay: tôi đi với ông... Trước khi ông bỏ nhà đi, thằng ấy (con trai bà Loan) có đá ông mấy cái, cướp cả sổ đỏ của ông…”
Lên đây, ông là người tư cách lắm, không ăn xin của ai bao giờ, nay ông ấy chết, tôi cũng chả ăn xin. Mình khổ thế nào thì người ta trông thấy rồi, mình ở đâu thì chỗ đó sạch sẽ, mình có đạo đức, ai thương thì bố thí thôi. Chúng tôi biếu 100 nghìn đồng, bà Loan giơ hai tay đỡ lấy, cứ xuýt xoa: “Ôi, sao cho bà nhiều thế này! Mai bà đi tàu về quê Tứ Kỳ, ở hẳn quê, không lên đây nữa đâu. Đi hết 37 nghìn tiền tàu hỏa, 20km từ tỉnh về xã lại một chặng ô tô nữa.”
Ngày hôm sau, đúng cái hẹn bà Loan về quê, tôi ra Bốt Hàng Đậu tìm, (và cả nhiều ngày sau đó nữa) thì vẫn thấy… bà Loan ngồi đó. Ít nhất, một lần bà đã nói dối tôi. Có thể cuộc sống “đầu đường góc phố” năm này qua năm khác đã dạy cho bà những cái gì đó ngoài sự phúc hậu của một người già mà tôi vẫn hằng tin tưởng chăng?
Đang “cắm chốt” ở Chợ Đồng Xuân thì ông Phạm Chí Th. (chồng bà Loan) ngã bệnh. Bấy giờ ông đã ở tuổi ngoài 80, bà đưa ông về, ông bà có nếp nhà cấp bốn ở quê, dù bị tranh chấp, nhưng vẫn ở được. Ông kêu đau đầu hai ngày thì bà cho ông về quê dưỡng bệnh. Trước khi chết, bà vẫn đút cháo đút cơm cho ông ăn được từng tí một. Đến hôm bà mang cả lon bia về cho ông, truyền cả nước cho ông, mà ông vẫn không chịu trò chuyện, bà biết là ông sắp “đi” rồi. Trước khi chết, uất hận vì đứa con bất hiếu, ông Th. nói lại với bà Loan là “không cho cái thằng giời đánh ấy chống gậy chịu tang, không liên quan gì cả”.
Chưa đoạn tang chồng, lồng cái ảnh ông (mặc áo bộ đội, gương mặt phương phi, tóc bạc, xem ảnh) vào trong khung kính, đặt ảnh thờ ấy trong cái làn nhựa màu đỏ, bà Loan lại tấp tểnh lên Hà Nội lang thang. Thỉnh thoảng nhớ ông, thấy góc phố nào đẹp đẹp, bà lại dựng ảnh chồng… trong làn nhựa, cắm mấy que nhang, đốt lên để “trò chuyện” với ông cho đỡ nhớ. Có lần tôi qua Bốt Hàng Đậu, còn thấy bà Loan thắp nhang, cúng ông vài quả xoài chín vàng ươm, bỗng dưng thấy lòng rưng rưng vì cái tình của người tận khổ với nhau. Bà nhỏ nhẻ: “Chỗ này sạch sẽ, cho ông ăn một tí. Chứ dựng ảnh ông ở chỗ rãnh bẩn ngoài kia, thối tha, xót xa lắm. Ông sống thì ông cũng vẫn lang thang phố xá bụi bặm, ngủ vật vạ xó xỉnh cùng tôi thôi, nhưng ông chết rồi, tôi cứ tha lôi ông đi thế này, tội nghiệp lắm. Bà sớm về quê thôi, cua cáy tự nuôi mình, cho ông ấy mát mẻ tí”. Nói rồi bà Loan hồi tưởng xa xăm: “Hồi xưa tôi với ông ấy cưới nhau ở chiến trường, có mỗi cái tăng võng căng ra quanh cái thùng nước quân dụng làm phòng hợp hôn. Thêm vài điếu thuốc, vài cái kẹo và một tràng pháo tay, là xong! Ông nhà tôi phúc hậu lắm cơ!”.
Tắm giặt và nấu nướng vỉa hè; trùm chăn, phóng uế vào… túi nilon
Bà Loan quả là người biết thu vén gia đình và cuộc sống ở cái nơi mà người ta nói “sảy nhà ra thất nghiệp”. Bà nhét tư trang vật dụng trong một cái làn, áo mưa, ô dù, các hộp nhựa túi nilon đựng đồ ăn… trong cái làn khác. Miếng khoai để vào cái bát rồi bỏ trong âu nhựa, chút xôi để trong cặp lồng. Lúc nào cũng gọn ghẽ, sạch sẽ. Ảnh thờ của ông thì bà trang trọng bọc giấy báo, đóng khung cẩn thận, thỉnh thoảng lại đem ra lau bụi, bà cứ thế tha lôi ông đi. Tiện đâu thì dùng bật lửa ga, châm vào vài que nhang mang theo, thêm cái ống bơ hoen gỉ cắm nhang nữa, thế là thờ ông ở đó. Những người quản lý đô thị sẽ sợ cảnh nhếch nhác ấy, nhưng ở góc độ tình người, đôi khi việc làm của bà Loan già nua lọm khọm, rung rung mái đầu bạc khóc chồng giữa phố xá ồn ào khiến người ta xúc động.
Sợ kẻ trộm lấy mất đồ đạc, cái lũ nghiện thì nó tha cái gì bao giờ. Nên bà Loan hay chọn mái hiên ở các công an phường để tá túc, phường H. thì các chú ấy biết tôi lâu năm rồi, chả nỡ đuổi. Dạo này sang bên phường Q., phải trình bày, phải cho xem ảnh thờ chồng, phải hứa quét tước sạch sẽ tinh tươm, 6h sáng phải rời chỗ “làm ổ vỉa hè” cho công sở nhà nước hoạt động… thì họ mới cho ở nhờ. Ở chỗ công an thì yên tâm tuyệt đối, khỏi lo mất trộm nhé. Nhưng mỗi lần di chuyển, mà đời bà thì lúc nào chả phải đi lại, chạy vạy - kẻ tứ cố vô thân, không nhà cửa mà! Một thân già, hai cái làn nhựa nặng trĩu, vì thế có lần ngã, cái ảnh ông mới vỡ mặt kính. Có lần chúng tôi biếu vài đồng bạc lẻ, bà bần thần lau mặt cho tấm ảnh thờ chồng: Mai bà sẽ đi thửa một cái mặt kính khác, lắp vào cho ông.
Cuộc sống “cơm niêu nước lọ” đi lang thang “tối đâu là nhà, ngã đâu là giường” của bà Loan, thật khó mà biết hết ngóc ngách được. Xin độc giả hình dung cụ thể nhất những chi tiết của “đời du mục già nua” ấy qua nội dung các cuộc trò chuyện của PV TTĐS với bà:
PV: Thế bây giờ mà trời đổ mưa thì bà căng cái bạt lên à?
Bà Loan: Không, chả căng. Mặc áo mưa mà ngủ thôi, nóng tí cũng phải chịu. Khổ nó quen rồi.
PV: Mấy giờ bà mới sang bên mái hiên nhà bán mũ bảo hiểm kia để ngủ?
Bà Loan: Phải 11 -12 giờ, giờ ấy họ mới đóng cửa, mới dọn hết hàng vào.
PV: Thế thì bà tắm rửa, giặt giũ ở đâu ạ?
Bà Loan: Bà mua 5 nghìn 1 can nước, giặt bộ quần áo với lau người thì 2 can là 10 nghìn, 1 ngày 2 bịch trà đá cũng là 10 nghìn. Khoai lang thì ăn vài miếng, vẫn còn bỏ trong kia kìa. Mà hôm nay mưa, tao chả tắm, tắm hôm qua rồi còn gì, mai kia tắm luôn thể.
PV: Cháu vẫn chưa hình dung được, giữa phố thế này, nhà cửa không có, nhờ đợ không có ai, bà tắm kiểu gì?
Bà Loan: Tắm thì tối người ta về, có cái cô bán nước chè vỉa hè, từ tối đến 4 giờ sáng góc kia kìa. Bà vào đấy tắm nhờ. Ngày xưa ông chồng bà còn sống cô ấy còn nấu cả cháo gà để mang cho ông đấy, thương ông lắm. Tao tắm xong tao giặt quần áo, phơi lên cái xe máy dọc đường. Nó cứ để ở đây thì mình cứ phơi, sạch sẽ. Mày xem bà rất sạch sẽ mà.
PV: Bà ăn uống thế này thì không đủ chất đâu!
Bà Loan: Tao thề với chúng bay (mày) từ ngày lên đây tao chưa biết bát phở là cái gì, tao nói điêu tao chết luôn ngày mai. Sáng ra tao mua hai nắm cơm 10 nghìn tao ăn cả ngày, muốn ăn rau gì thì tao mua tao tự nấu lấy.
PV: Bà nấu ở đâu ạ?
Bà Loan: Tao bắc hai hòn gạch ở đây (gần vườn hoa Hàng Đậu). Muốn đun chỗ nào thì đun. Tao mua 10 nghìn thịt rang khô nó lên ăn 2-3 ngày, tao còn mua 10 nghìn mỡ để rán, tao phải tận dụng chứ. Tao chả biết bát phở là cái gì. 25 - 30 nghìn bát phở thì tiền đâu ra mà ăn.
PV: Bà đi vệ sinh ở đâu?
Bà Loan: Kia, đái kia, ở bốt điện kia kìa, tất cả mọi người ở xe ôm đều đái ở đấy. Còn đi “đồng” (đại tiện) thì đi vào cái túi nilon, buộc lại rồi vứt. Tao ngủ bên kia, sáng sớm dậy thì tao đi đồng vào túi nilon rồi vứt đống rác.
(còn nữa).
Anh Nguyễn Văn Hải, Phó trưởng công an xã Minh Đức, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, sau khi xem những bức ảnh ông Th. và bà Loan mà chúng tôi đưa ra, đã cho nhóm cán bộ đi tìm hiểu kỹ, rồi xác nhận: đúng đó là hai ông bà Loan - Th. vốn ở thôn Sự trong xã. Nhưng họ đã đi tây Bắc từ lâu rồi, và cũng đã lâu rồi hai cụ không hề về quê. Vậy là việc bà Loan kể về hai người con trai cùng các cháu bà chết vì nước lũ cuốn trôi ở Điện Biên cách đây gần hai chục năm rồi bà lang thang “vỉa hè góc phố” Hà Nội là hoàn toàn có cơ sở. Việc ông con trai bạc ác với bố mẹ cũng đáng tin cậy. Chính quyền xác cho biết: ông con trai tên là Long của hai ông bà đã bỏ đi khỏi địa phương tự lâu và mâu thuẫn đất đai là có thật.
Bài có kèm chùm ảnh bà Loan ở Bốt Hàng Đậu, thờ chồng ở vỉa hè; và những thảm cảnh ngày dài đêm thâu của người vô gia cư ở Hà Nội.
Bài 2:
18 tuổi bị hãm hiếp ngoài xó chợ và thảm kịch 25 năm “quăng thân vào gió bụi”












