"Tối đâu là nhà, ngã đâu là giường" - Người vô gia cư - Bài 3
Wednesday, August 14, 2013 3:29:08 PM
Ông Sơn và bà Mận cho chúng tôi sự tin tưởng và tử tế bao nhiêu thì Tươi (khoảng 30 tuổi) lại khiến chúng tôi bán tín bán nghi và thấy chị “bất hảo” bấy nhiêu. Gò má cao, da đen, đôi mắt nhiều lòng trắng ngay cả lúc nói chuyện với người đối diện cũng đảo như rang lạc. Nói chuyện với ai cũng xoen xoét một điều bác hai điều em. Tươi bảo mình sinh năm 1981, quê ở phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ngay từ đầu câu chuyện, Tươi đã có vẻ từng trải đến…lọc lõi: “Em nói thật với các bác là không ai ác như bụi đời, không ai tởm như bụi đời và những người đi bụi đời là những người có vết thương lòng rất nặng, họ yêu đương dang dở, người đi tù xong ra tù thì gia đình tan vỡ. Như em đây một nách hai đứa con nhưng em lại…chẳng có vết thương lòng nào cả”.
Người vô gia cư, lang thang trên “đất thánh” Hà Nội - sự tận cùng số phận…
Ghi chép của Trần Quân - Nguyên Long
Bài 3:
Những “màn kịch chua xót” dẫn đến thảm cảnh “đầu đường xó chợ”
Có lẽ, bao nhiêu người vô gia cư là bấy nhiêu thảm kịch đẩy họ ra khỏi lũy tre làng, khỏi mỗi mái ấm gia đình và dòng tộc. Có những bi kịch mà cuộc đời xô lại như bà cụ Loan gần đất xa trời, vì con cái mà biến thành người vô gia cư theo đúng nghĩa đen; như ông Sơn, bà Mận, vì vết thương lòng không thể nào bù lấp mà nhất quyết không bao giờ ngoảnh mặt về quê. Lại có những bi kịch theo kiểu “dòng đời không đẩy thì ta tự đẩy” như chị Mai, chị Tươi, vì không chịu được cảnh nghèo khó, vì muốn được ăn chơi nhiều, làm ít, làm nhàn - để rồi họ tự lao đến chốn phồn hoa không khác gì thiêu thân lao vào lửa. Có những người chấp nhận cuộc sống khốn khó vì vật chất thay cho việc ngày ngày bị những vết thương lòng gặm nhấm. Song, cũng có những người tự rời bỏ nếp nhà bình yên, quăng thân ra đầu đường xó chợ, để rồi đến cuối đời mới nhức buốt, mới xót xa ân hận trong… muộn màng.
Hai ông bà quen nhau trên đường lang thang; đi căng bạt dựng lều ven đường tàu “về với nhau để làm ông làm bà”
Trong túp lều tạm bợ căng lên ven đường sắt ở trung tâm Hà Nội (đoạn từ chỗ đường ray cắt với đường Nguyễn Thái Học đến đoạn cắt với đường Điện Biên Phủ), hai ông bà cụ Phạm Ngọc Sơn (78 tuổi), Chu Thị Mận (74 tuổi) tưng tửng kể cho chúng tôi nghe thảm cảnh cuộc đời mình. Nghe cứ như một cơn ác mộng. Bà Mận bảo bà cũng có quê quán, có nhà cửa đàng hoàng, nhà bà ở xã Vĩnh Hồng dưới tỉnh Hải Dương ấy. Bà vẫn hay về quê, nhưng mấy chục năm nay, bà cũng không biết hộ khẩu của mình có hay không và nếu có thì nó nằm ở đâu...
Trong câu chuyện dài hơn cả tiểu thuyết của đời mình, bà kể ngày xưa bà là vợ bộ đội hẳn hoi. Ông lên đường đánh giặc, bà ở nhà cày ruộng, nuôi nấng hai đứa con một trai, một gái. Hai vợ chồng chẳng bao giờ cãi vã hay to tiếng với nhau, khốn nỗi, một mình bà Mận phải chịu sự nanh ác của cả mẹ chồng lẫn chị chồng. Không hiểu vì sao mà mẹ chồng lại không ưa bà, lúc nào cũng tìm cớ đánh, chửi. Có lần, bà Mận bụng chửa vượt mặt đang lúi húi nấu cơm trong bếp thì mẹ chồng lôi ra chửi rồi đánh. Bà Mận uất quá mới giằng lấy cái que, thế là mẹ chồng bà lu loa rằng làng nước ơi, có đời thuở nhà ai mà con dâu dám đánh mẹ chồng. Ông anh chồng (là con bà cả, mẹ chồng bà Mận là vợ lẽ) chứng kiến từ đầu đến cuối nên mới bảo: “Bà quá đáng thế, thím có làm gì đâu mà bà lại lôi thím ra đánh. Hôm nay có con chứng kiến, chứ không chú về, bà kể hơn kể kém, rồi thím lại bị chú đánh oan”.
Chị chồng bà tên là Đ., bà Đ. đã lấy chồng mà suốt ngày về nhà xét nét em dâu. Bà Mận kể, bà đi làm hợp tác xã, về đến nhà thấy “nó” (chị chồng) đong sẵn bò gạo để cạnh cái nồi, ý rằng chỉ cho mày được nấu bằng này gạo thôi. Mà đời thuở nhà ai, nhà bà, bà có bao nhiêu cái chìa khóa thì “nó” cũng có bấy nhiêu. Bà Mận kể lại mà giọng vẫn đầy uất ức: “Nhiều lần không chịu được, bà bỏ về bên ngoại đấy chứ, nó là “giặc bên Ngô” cứ phải gọi nó là… cụ tổ”.
Bà Mận vẫn nhớ rõ cái ngày ông Kích chồng bà về phép, hai vợ chồng còn đi tát nước ruộng lúa, cô con gái nhỏ ngồi ở đầu bờ. Thế mà một tối, chị chồng bà làm cơm, thịt hẳn con gà mái tơ rồi bảo ông Kích lên ăn cơm. Ăn cơm xong, bà ta bắt em trai phải bỏ vợ, vì bà ta vu vạ rằng em dâu đã tằng tịu với ông bác sĩ làng bên. Chả là dạo ấy, cậu con trai mới vài tuổi đầu của bà ốm đau quặt quẹo, bà đưa sang nhà ông bác sĩ ấy khám, rồi 2 - 3 tuần một lần bà lại lặn lội sang lấy thuốc về cho con. Bao nhiêu công thuốc thang, nhưng đứa con bé bỏng của bà vẫn không qua khỏi, nó mãi mãi 5 tuổi. Còn bà thì lại bị chị chồng vu là phải lòng ông bác sĩ.
Thế là ông Kích nghe lời vu vạ của chị gái, nhất quyết đòi bỏ bà. Bà không ký, bỏ lên Hà Nội xin làm công nhân ở ga Yên V., được một thời gian, người ta chuyển bà lên công trường sản xuất gạch ở Thái Nguyên. Chính bà cũng không ngờ được rằng, lần rời bỏ đó kéo dài cho đến tận ngày hôm nay. Khi đang làm công nhân nông trường gạch, bà nghe tin người chồng mà mình vẫn hằng thương yêu đã lấy vợ khác, bà lại nghe tin từ Tây Nguyên, đứa cháu là con của chị gái mình vừa chào đời đã mất. Đau đớn, mất mát, thù hận đã làm bà hóa điên. Bà nhảy xuống ao không biết bao nhiêu bận. Đau quá, đến lúc tỉnh lại, bà quyết định đi xa hơn - lên tận nông trường chè Hoàng Liên Sơn làm công nhân.
Làm ở nông trường chè được 3 năm, bà theo anh trai vào thăm chị gái ở Tây Nguyên rồi ở lại gần 2 tháng. Đến khi quay lại nông trường thì người ta không nhận nữa. Chúng tôi hỏi: “Sao khi đó bà không về quê?”. Bà dửng dưng: “Về làm gì? Lần trước bà về hỏi cái hộ tịch của bà, thì “nó” (ông chồng cũ) bảo là cắt rồi. Bà không muốn nhìn thấy cái mặt “nó”, không muốn trông thấy cả họ nhà “nó”. Cưới mấy đứa con “nó”, nhà chúng nó bảo về, nhưng bà về làm gì, nhìn thấy “nó” chỉ thêm uất…”
Thế là bà “dạt” từ Hoàng Liên Sơn xuống Hà Nội, ngày ngày mò cua bắt ốc ở Hồ Tây đem bán. Bấy giờ bà mới ngoài 30 tuổi. Bà may mắn ngủ nhờ được ở gian hàng đầu dốc Hàng Bún, bà đang cần chỗ ngủ, chủ hàng thì đang cần người trông coi. Thế là bà có chỗ ngủ mà không mất tiền. Đi lang bạt kỳ hồ như thế, không phải là bà không thương con xót cái, cái hồi bà bỏ lên nông trường chè, cái Tươi con bà đã nhèo nhẹo đòi theo, nhưng bấy giờ loạn lạc, thân bà còn chưa biết ra sao nên bà không thể để con phải chịu cảnh cù bơ cù bất như mình. Từ ngày lên Hoàng Liên Sơn đến đến nay, bà vẫn thường về quê, vội vàng thăm nom con cháu rồi lại lên Hà Nội mò cua bắt ốc.
Bà biết ông Phạm Ngọc Sơn từ lâu lắm rồi. Ông là thương binh, bị thương ở chân hồi chống Pháp, miền Bắc giải phóng, ông xin làm công nhân đường sắt ở Hà Nội. Đến 1965 ông tái ngũ, trong cuộc chiến chống Mỹ ấy ông lại bị đạn nó găm năm mảnh vào đầu (ông Sơn cho chúng tôi xem giấy tờ xác nhận của địa phương). Thương binh hạng 2/4 mang cái thân tàn ma dại về nhà ở Móng Cái - Quảng Ninh, ông “bắt sống” vợ đang “trai trên gái dưới” với tay chủ tịch xã. Đau quá, ông bỏ đi, lại lên Hà Nội. Ông lại xin làm gác tàu ở cái đường ngang này. Ngày ngày ông vẫn thấy bà gánh trai, gánh hến từ tận Hồ Tây xuống bán, cũng cám cảnh cho bà lắm, nhưng bấy giờ chỉ là sự thương cảm thôi. Mười hai năm trước, khi cả hai cùng có tuổi, cùng già yếu, cùng thương cái cảnh côi cút của nhau, hai ông bà mới về góp gạo thổi cơm chung theo đúng nghĩa đen. “Đến với nhau để làm ông làm bà”, theo đúng nghĩa đen.
“Thỉnh thoảng tôi lại đặt tay lên ngực xem ông ấy có còn sống không”
Bên này đường ngang là cái lều tạm bợ của bà. Bên kia đường ngang là cái lều tạm bợ của ông. Tất cả đều vá víu, rách nát, bé mọn như chính cuộc đời của ông bà. Khi còn khỏe, bà vẫn lên Hồ Tây bắt trai, bắt hến. Nhưng mươi năm nay, cái lưng chưa còng mà bà chẳng thể gánh nổi hai miệng thúng trai ốc nữa. Đi xe ôm thì coi như công cốc, tiền kiếm được chẳng bao nhiêu. Bà chuyển sang đi nhặt phế liệu. Cứ từ 2 đến 4 giờ sáng hàng ngày là bà đi một vòng qua Nguyễn Thái Học, sang khu Văn Miếu, qua chợ Ngô Sĩ Liên, vòng qua Khâm Thiên lên khu Ga Hà Nội rồi lại về đường ngang. Bà bảo bà chỉ đi được giờ đó thôi, vì lúc ấy mới thưa xe, chứ đi những giờ khác, chân chậm mắt mờ, lỡ may xe nó va cho một cái thì chả hóa chết đường chết chợ à. Mà chết thế thì ai chăm ông (ông Sơn), ông đau ốm liên miên, hai tháng trước còn tưởng ông chết, ông hay bị tắc mạch máu não cũng chỉ vì 5 mảnh đạn còn nằm lại trong đầu.
Bà có nhiệm vụ đi nhặt phế liệu bán lấy tiền đong gạo, ông có nhiệm vụ ở nhà, ngày hai bữa lôi cái bếp ga du lịch vừa gỉ vừa gãy ra để nấu cơm. Hai ông bà hai túp lều hai bên đường sắt, lắm bữa cơm chúng tôi ghé qua, vẫn ông ngồi lều ông, bà ngồi lều bà, hai người bưng hai bát cơm. Chỉ có những đêm dài ông Sơn đau ốm là bà sang lều bên kia, ngồi bên cạnh trông ông, ông yếu đến độ thi thoảng bà lại phải đặt tay lên ngực xem ông còn sống hay đã chết. Cả hai ông bà đều cay nghiệt khi nghĩ đến người đã từng là bạn đời phụ bạc. Cả ông và bà đều chưa từng nghĩ đến việc về quê, mặc cho con cháu khóc lóc, năn nỉ đến giận dỗi: “Ông/bà đi như thế thì muối mặt chúng con.” Ở đây, ông bà còn có nhau để chia sẻ, còn có những người trên phố cảm thương, “người ta mang biếu ông bà thức ăn suốt ấy, có khi nguyên cả đĩa cá rán, không bao giờ có chuyện người ta ăn thừa mà mang cho đâu nhé”. Có người sợ ông bà buồn bèn mang cả ổ sáu con mèo mẹ con đến để ông bà vừa nuôi, vừa làm bầu bạn.
Chúng tôi có cảm giác, vì ông bà quá tử tế nên vết thương ấy chẳng thể nào lành, dù chỉ một chút nào đó liên quan đến người phụ bạc kia thôi cũng đủ để vết thương kia nhức nhối. Và cũng như trước cái tình của bà Loan dành cho ông chồng quá cố. Chúng tôi đã rưng rưng khi chứng kiến cái tình của ông Sơn và bà Mận. Dù chỉ là cùng vết thương lòng mà đẩy ông bà đến với nhau thôi, nhưng đó là thứ tình Người nhất mà chúng tôi từng biết đến!
Người đàn bà “bất hảo” cho con vào thùng xốp, chằng lên xe đạp, “cất bước lang thang”
Ông Sơn và bà Mận cho chúng tôi sự tin tưởng và tử tế bao nhiêu thì Tươi (khoảng 30 tuổi) lại khiến chúng tôi bán tín bán nghi và thấy chị “bất hảo” bấy nhiêu. Gò má cao, da đen, đôi mắt nhiều lòng trắng ngay cả lúc nói chuyện với người đối diện cũng đảo như rang lạc. Nói chuyện với ai cũng xoen xoét một điều bác hai điều em. Tươi bảo mình sinh năm 1981, quê ở phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ngay từ đầu câu chuyện, Tươi đã có vẻ từng trải đến…lọc lõi: “Em nói thật với các bác là không ai ác như bụi đời, không ai tởm như bụi đời và những người đi bụi đời là những người có vết thương lòng rất nặng, họ yêu đương dang dở, người đi tù xong ra tù thì gia đình tan vỡ. Như em đây một nách hai đứa con nhưng em lại…chẳng có vết thương lòng nào cả”.
Tươi có phần thẳng thắn: Em có hai đứa con, con Tý lớn thì em gửi về quê bà ngoại nuôi, con Tý nhỏ này thì lang thang cùng em. Hai con Tý là con của hai thằng đàn ông khác nhau. Em chả giấu bác làm gì. Thời còn con gái, bố mẹ em nhắm cho em được một anh chàng cùng xã, hiền lành, chịu khó; chàng ta kém em đến 4 tuổi nhưng vẫn rất thích em. Nhưng em cãi lời bố mẹ, nhất quyết không lấy, đơn giản chỉ vì không thích. “Cả làng chả hiểu em chê anh kia ở điểm gì. Em cũng chả nói bao giờ, nhưng với bác em chả giấu, em không thích cái anh kia vì đàn ông gì mà hiền lành quá”.
Tươi bỏ quê lên Hà Nội, cũng bảo đi rửa bát thuê như “bài” của nhiều “thành phần bất hảo” khác. Đến năm 28 tuổi, Tươi phải lòng một người đàn ông đẹp mã. Không rõ anh ta đẹp thế nào mà đến khi ngồi nói chuyện với chúng tôi, Tươi vẫn nức nở: “Bố con Tý lớn đẹp giai lắm, các bác không tưởng tượng được đâu. Em thì bấy giờ chỉ mong có đứa con nên theo nó, chứ nó có vợ có con ở quê Bắc Ninh rồi, bảo là ly thân thôi chứ chưa ly dị”. Gặp anh ta rồi, Tươi mới thuê nhà trọ sống cảnh non vợ chồng già nhân ngãi. Gần đến ngày khai hoa nở nhụy, anh chồng hờ lấy của Tươi 900 nghìn đồng bỏ lên Lạng Sơn. Tươi biết, trên đó anh ta cũng còn một “cô bồ” nữa. “Em biết chứ, nó không chỉ có mình em đâu. Cái mặt thì rõ đẹp mà cái lòng thì trái ngược hoàn toàn”. Đúng hôm Tươi sinh cái Tý lớn thì nghe tin chồng bị bắt vì tội giết người. “Nó phải đi 7 năm bác ạ, còn 2 năm rưỡi nữa thì nó về”.
Bố cái Tý nhỏ là người Nam Định, anh ta làm cửu vạn ở chợ Long Biên, rượu chè bê bết, thế nhưng thấy bảo bố mẹ, anh chị em là những người đàng hoàng, tử tế. Thế nên khi biết cậu con giai có con và đòi cưới một người hơn mình 9 tuổi, vừa lang thang, vừa thuộc loại “nạ dòng”, cả nhà cậu ta phản đối quyết liệt. Tươi xổ toẹt: “Em định đẻ đứa con trai cơ nhưng lại thành ra con Tý bé này. Em cũng nói thẳng với bố nó là em chỉ kiếm đứa con chứ em chả yêu thương gì. Bây giờ lục phủ ngũ tạng của nó sắp hỏng rồi, nó về quê nhà nó ở Nam Định. Bố mẹ nó nhắn em về, nhưng em chả về. Lúc nó khỏe thì xua đuổi em, giờ nó đau yếu mới bảo em về để em chăm sóc nó cho nhẹ gánh chứ gì, em biết thừa”.
Cái Tý bé nhà Tươi cũng đen trũi giống mẹ, gần hai mươi tháng mà bé quắt quéo. Mấy tháng nay, cái Tý với mẹ nó hay trú ở mái hiên một cửa hàng phải đóng cửa vì ế khách, cái cửa hàng nằm ngay điểm cắt nhau của đường Nguyễn Thái Học và Điện Biên Phủ. Mái hiên này chỉ có Tươi là thân đàn bà, còn lại 5 - 6 người đàn ông cũng ngày lang bang khắp chốn, tối về cuốn thân tròn như “tổ sâu” trên hè phố mà ngủ. Cái Tý đang tuổi học đi, học chạy nên thoắt cái nó đã nhào ra đường, cũng may là Tươi chọn được cái góc có ít xe cộ qua lại này. Tươi bảo em không ở đâu cố định hay lâu cả, nay em ở chỗ này, mai em ở chỗ khác, cũng chả có giờ giấc gì cả, thế mà mấy lần bác đều gặp được em, cũng gọi là có duyên đấy nhỉ.
Ban ngày, có lúc mẹ con Tươi ngồi ở đây, có lúc Tươi cho cái Tý vào thùng xốp, trong thùng xốp có cả quần áo của hai mẹ con, cứ thế Tươi đạp xe đi khắp các ngõ ngách phố xá. Chiều tối thì lủi vào bệnh viện M. để tắm: “Nước ở bệnh viện ấy là thoải mái nhất. Mẹ con em phải tắm vội vàng, chứ mà người ta phát hiện ra thì mất… chỗ tắm”.
Ban đêm, chúng tôi nhiều lần trở lại chỗ mẹ con Tươi nằm, tôi vẫn thấy cô nàng chong mắt. Hỏi thì Tươi bảo “ban đêm em ít ngủ lắm, nhỡ mà lúc em chợp mắt, người ta ôm cái Tý đi mất thì em biết kêu ai. Em không dám ở đâu lâu cũng là vì thế”. Hóa ra, bên trong con người mang tính cách bạo liệt, nhiều phần “bất hảo” ấy vẫn còn lương tâm và cái gọi là tình mẫu tử. Không biết đến khi tuổi đã xế chiều, có bao giờ Tươi ân hận về những lầm lỗi của mình như chị Mai không? Ngoài những chuyện có thể xác minh, một số chuyện Tươi từng tâm sự với chúng tôi nó cứ “quay tít như đèn cù”:
PV: Quê em ở đâu?
Tươi: Quê em ở Hà Nam, phủ Lý Nhân, nhưng mà bác đừng nói thật cho các người ở đây người ta biết nhé, toàn dân lưu manh, lừa đảo.
PV: Nhà chồng không ưa thì em về quê với bố mẹ, chứ ai lại để cái Tý lang bạt thế này?
Tươi: Em nói thật là ông già em lắm lời, em ở nhà một ngày, ông ấy chửi 10 tiếng, em đau đầu em mới đi. Mà ông ấy còn bắc loa điện để chửi cho to cơ… Nhưng ông ấy chửi cũng phải, đời em hai đứa con của hai thằng…
PV: Bây giờ mà chúng tôi giúp được Tươi vào trung tâm học nghề, được ăn ở miễn phí, thì có muốn đi không?
Tươi: Vào trung tâm học nghề thì thà em về quê chăn gà chăn vịt còn hơn. Em chả bao giờ có tiền nhưng cũng chả giấu bác làm gì, em có ít tiền để dành đấy. Cuối năm nay em về nhà ngoại, … xây nhà!
Box:
Từ nguồn tin mà chúng tôi bước đầu tìm hiểu được, anh chồng mà Tươi bảo là đầu tiên - bố của cái Tý lớn từng phạm tội giết người. Anh ta cùng một nhóm người nữa giết chết anh thợ sửa xe đạp ngồi ngay cái “vườn hoa” chỗ ngã tư Hàng Bông. Hai ông bố của Tý lớn và Tý bé chỉ là hai trong số rất nhiều người đàn ông đi qua cuộc đời giang hồ của Tươi. Và cũng như Nguyễn Thị Mai, Tươi từng lang chạ với rất nhiều người đàn ông, không hẳn là mại dâm nhưng hễ ai cho tiền là “đi”. Dân bụi đời còn truyền tai nhau rằng Tươi là đứa bẻ khóa có hạng.
Bài cuối:
Những góc tăm tối của “Hà Nội lầm than” - vì ai nên nỗi?
Kèm ảnh và chú thích như sau (đề nghị làm mờ mặt nhân vật Tươi và cháu bé nhé. Hai cụ lão thì thôi).
Ba Man duong tau (1) + (28): Ông Sơn và bà Mận sống ở hai bên đường tàu.
Ba Man duong tau (4): Cái lều rách nát, xập xệ, vá víu của bà Mận.
Ba Man duong tau (5): Cái “nhà” cho lũ mèo phía sau lưng bà còn tươm tất hơn hai túp lều mà ông bà trú ngụ.
Ba Man duong tau (16): Thi thoảng hai ông bà mới trò chuyện cùng nhau.
Ba Man duong tau (20) + (23): Cái bếp ga du lịch để ông nấu cơm là người ta cho, giờ đã han gỉ và gãy.
Ba Man duong tau (37): Bên này đường sắt là cái lều của bà, bên kia là cái lều của ông.
Tuoi bat hao (1) + (3): Mẹ con Tươi lang thang nay góc phố này, mai góc phố khác
Tuoi bat hao (4): Hàng ngày Tươi vẫn bỏ cái Tý vào trong thùng xốp rồi đạp xe lang bạt khắp nơi.












