My Opera is closing 3rd of March

Bất ngờ với tâm huyết của một tác giả khả kính... (tiếp theo)

Anh thường lên đường vì sự nặng nhọc của những số phận. Có “những con người ấy đang trôi dạt cuối trời, đang cày cấy cuối trời, đang bệnh tật cuối trời, đang sợ hãi cuối trời, đang chống chọi với quá nhiều thách thức của cuộc đời cuối trời và đang khóc cười cuối trời”. Mỗi con người trong phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng luôn chứa đựng những ý nghĩa nhân sinh xã hội với một khát vọng, một nỗi niềm, một trăn trở không thành lời nào đó. Những câu chuyện và những nhân vật có thông tin tên tuổi, địa chỉ quê quán xác thực nhưng luôn luôn trôi dạt trong một không gian và thời gian được thân phận hóa, ký ức hóa. Trong lát cắt số phận của mỗi nhân vật, anh nhận ra họ dù ít dù nhiều đều là những tâm hồn nhạy cảm, những trái tim phần nào bị tổn thương, mang những nỗi cô đơn cùng cực, với mong ước thay đổi mà không thể đổi thay, muốn chia sẻ mà không được sẻ chia, muốn yêu thương và bị khước từ, muốn chối bỏ tất cả chỉ mong sao có được một cuộc sống bình thường... Anh dẫn dụ chúng ta đến với thế giới của anh bằng giọng văn trầm buồn, nhiều trăn trở, ưu lo. Giọng văn ấy cứ trơn trượt kéo ta đi lướt qua mọi ngóc ngách, lấp lánh một thứ ánh sáng có sức phản chiếu một miền đau. Miền đau thăm thẳm của một cõi người và của một cõi nhân gian đầy bất trắc.

3. Bút lực sung mãn, lấy giọng suy tư, day dứt làm tình điệu chủ âm

Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng, dài kỳ có, một kỳ cũng có, ngắn gọn, vừa phải cũng có mà đôi khi “phóng nhiều hơn sự” cũng không hiếm gặp. Song dù ngắn, dù dài, dù viết về mảng đề tài, với cảm hứng lên án hay ngợi ca, điều tra hay khẳng định, các trang viết của anh đều thể hiện một văn phong tài hoa, giàu sắc điệu.

3.1. Sức viết khỏe khoắn, câu chữ tài hoa, trau chuốt


Viết khỏe, đó là ấn tượng của bất kỳ một ai khi tiếp xúc với vốn tài sản ngồn ngộn của anh trong mười năm có lẻ cầm bút. Đỗ Doãn Hoàng có tuổi đời khá trẻ, sinh năm 1976, tại xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Tây nhưng đã đánh dấu tuổi nghề dày dặn bằng 10 tập bút ký - phóng sự: Trần gian còn một thứ nghề (NXB Thanh niên); Lạc lối dưới chân Bù Chồng Cha (NXB Thanh niên); Hai mươi bảy phóng sự Đỗ Doãn Hoàng (NXB Lao động); Ký sự đồng rừng (NXB Thanh niên); Người đàn bà tử tế (NXB Công an nhân dân); Nến cong và lửa thẳng (NXB Lao động xã hội); Những thây người mang hình dấu hỏi (NXB Thanh niên); Săn ca-ve (NXB Thanh niên); Nhìn ngược từ nóc nhà Đông Dương (NXB Hội nhà văn); Tôi thật thà với chính tôi (NXB Công an nhân dân); 1 tập truyện ngắn: Thung lũng đá mồ côi (NXB Hội Nhà văn); 1 tập truyện vừa: Búi Thông thơ dại (NXB Trẻ); 1 tập truyện ký “Bức tường lửa lặng lẽ” (NXB Công an nhân dân).

Các phóng sự của anh cũng thường vượt ra khỏi giới hạn 1000 - 5000 chữ cho một bài viết thông thường. Chủ yếu là các phóng sự dài, bởi như anh từng tâm sự: “Trước một đề tài hay, mới và độc, một phóng sự đi qua 6 - 7 số báo là chuyện bình thường. Trên thực tế, ở cách hiểu nào đó thì không có bài báo dài; mà chỉ có nội dung ấy mà viết như thế là quá dài, quá lan man, dài và lan man quá mức cần thiết, trở nên thô vụng! (...) Phóng sự là phải tạo ra được góc nhìn cho vấn đề - sự kiện mà mình đang đề cập. Nếu không nó sẽ trở nên vô dụng, vô duyên và tẻ nhạt!”. Bằng những phóng sự này, anh đã tăng cường chiều sâu cho tác phẩm bằng cách tiếp cận hiện thực không chỉ ở và bằng cái cảm quan thường nhật, hiện thời mà còn bằng và ở cảm quan 3 chiều: quá khứ - hiện tại – tương lai…Nói cách khác, thông thường, nói đến phóng sự người ta thường nghĩ đến những gì là thời sự, là tươi nguyên màu của cuộc sống. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Độc giả vẫn có thể tìm thấy ở phóng sự những tri thức tưởng như xưa cũ nhưng rất có ích cho cuộc đời hiện tại, làm sống lại những con người, những mảnh đời, những sự kiện...Nối dài thời gian giữa quá khứ và hiện tại, nối dài không gian giữa Đông và Tây, nhìn hiện thực từ cả góc nhìn quá khứ lẫn tương lai như trong Một trang núi rừng buồn của phía Tây toàn núi, Giải mã những thoi mực thơm như phấn sáp, Non thiêng Yên Tử, Di dân tự do vào Tây Nguyên...

Văn là nghiệp, báo là nghề, nên hai yếu tố này cứ thế song hành trong tác phẩm của kẻ mang trong mình một nửa dòng máu Mường, mang đến cho câu từ phóng sự của anh một sự kỹ càng, cẩn trọng và chau chuốt. Ngay từ nhan đề bài viết, anh đã chú tâm tìm cho phóng sự của mình một nốt nhấn, động cựa, sống sít, sôi nổi, ấn tượng. Nốt nhấn ấy là sự tạo tác chữ nghĩa mà theo đó người đọc có cảm giác như là Đỗ Doãn Hoàng đang nhấn vào chính họ vậy: Lời buồn bã từ đồng quê gửi những người đang ở phố, Khi lòng tin bị “xơi tái”, Mưa sa vũng bùn, Những thây người mang hình dấu hỏi, Nến cong và lửa thẳng, Người đàn bà là con của Mẹ Núi, Đắng lòng Hin Pén, Chú voi già bên dòng Sêrêpok, Ngã ba Đông Dương - Viết ra kẻo nữa rồi quên, “Nằm ngửa thấy ong nằm nghiêng thấy đá”...

Dễ nhận thấy ngôn ngữ trên các trang viết của Đỗ Doãn Hoàng rất trong sáng. Trong sáng, không đồng nghĩa với sự đơn giản: “Trong sáng không khi nào lại có nghĩa là đạm bạc, là nghèo còm trong từ vựng đem ra dùng, trong cách cảm, cách nghĩ, nhất là trong cách nói ra những cảm nghĩ đó”. Thế nên, trong sáng phải đi đôi với sự giàu có, đa dạng; và sự giàu có đa dạng của ngôn ngữ nghệ thuật được thể hiện trên tất cả các cấp độ.

Về mặt từ vựng, anh đã tự trang bị cho mình một vốn liếng có lẽ không thua kém bất cứ nhà văn nào. Anh tự “làm giàu” bằng nhiều cách: thâu góp từ ngữ trong cuộc đời sinh động, qua những chuyến đi và qua sách vở; vận dụng tối đa các phương thức tạo từ trong tiếng Việt để tạo từ mới, lạ. Nhà văn Nguyễn Tuân từng định nghĩa: “Nghề văn là nghề của chữ... Nó là cái nghề dùng chữ nghĩa sinh sự để sự sinh”. Lấy Nguyễn Tuân làm thần tượng, Đỗ Doãn Hoàng cũng rất dụng công “đặt cược” vào “âm mưu” chế tác ngôn từ. Anh rất thích dùng các từ láy, mà những từ láy lạ, ít phổ biến thì càng hay như: ùng oành, dình dình, duỳnh duỳnh, lổng chổng, chờn chợn, trơn truội, lút thút, lành lẽ, chỏm chòe, sũng sĩnh, lóp bóp, thùi lụi, nhẫy nhớt, rù rờ, hoang hoải, hùi hụi, lúi chúi, linh đinh, hào hển, vơ vớ, vơ vớ, biêng biêng, thập thõm, thấp thểnh, xẹo xệch, nhô nhúc...Kết quả khảo sát trên một số tác phẩm tiêu biểu của tác giả cho thấy, số lượng các từ láy được sử dụng rất lớn. Chẳng hạn, khiêm tốn như trong một bài viết có dung lượng ngắn (Nổi nênh nghiệp rối – 10 trang), cũng xuất hiện 21 từ láy. Thương về a-nhí (11 trang): 39 từ. Với quy mô lớn hơn - Phía sau núi cao và mây mù (20 trang) là 73 từ; Nến cong và lửa thẳng (22 trang): 90 từ; Cao nguyên và sự khắc nghiệt của đá (24 trang): 82 từ; Năm ngày ở cánh bướm miền Đông (32 trang): 101 từ. Mang tới giá trị biểu cảm và tăng cường sự vo chặt của thông tin trong phóng sự, những từ láy cũng góp phần thể hiện cái duyên và năng lực chữ nghĩa của con người linh hồn thuộc về miền biên viễn.

Như thế, với một mỹ cảm riêng, trong tay Đỗ Doãn Hoàng, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện biểu đạt nội dung mà chính nó cũng là thông tin thẩm mỹ. Điều tưởng chỉ có được ở địa hạt văn học hóa ra lại rất phổ biến trong phóng sự của anh. Nó mở ra một khoảng trời tự do, cho phép anh “hành xử” với chất liệu theo ý thích chủ quan của mình, phá tung mọi khuôn khổ của thể loại, tạo nên dạng phóng sự có chất thơ. Chất thơ ấy, một mặt được tạo ra từ lòng trắc ẩn mềm mại, đa cảm của Đỗ Doãn Hoàng cứ vướng vít lấy con người, không gian, thời gian trong tác phẩm, mặt khác, những đoạn miêu tả, trần thuật trữ tình hoạc trực tiếp bộc lộ cảm xúc suy nghĩ của tác giả cũng đẩy phóng sự của anh ngả về một chất thơ bàng bạc, dịu khẽ (“Họ khâu tháng khâu năm, khâu cả nỗi buồn của mình vào bóng tối thân phận” – Đỗ Doãn Hoàng, Những thây người mang hình dấu hỏi, Nxb Thanh niên, H, 2006, 14).

Anh cũng có nhiều sáng tạo ở cấp độ câu. Dường như câu tiếng Việt có bao nhiêu kiểu cấu trúc thì có thể tìm thấy bấy nhiêu kiểu trong tác phẩm của anh. Đặc biệt thích viết những câu văn phức hợp, nhiều thành phần, trổ nhiều “cành nhánh” (“Đất bám len giữa các phiến đá lớn xếp dọc theo các xã, các huyện của vùng cao nguyên này, tôi cứ vấn vít mãi ý nghĩ theo ông Lê Bá Thảo, hơi khác tí ti: núi là một nia cơm độn sắn khoai vừa mới đồ; đá là sắn là khoai; là ngô răng ngựa cả bắp lộc ngộc nằm đó; còn đất là cơm, chưa đầy một phần cơm còn quá 9 phần là “phụ gia cứu đói” – Đỗ Doãn Hoàng, Nến cong và lửa thẳng, Nxb Lao động xã hội, H, 2005, 385), tạo ấn tượng lập thể, gợi liên tưởng nhiều chiều, tránh cái cảm giác đơn điệu, đơn giản, phẳng dẹt.

Xét trên cấp độ tu từ cú pháp, các biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, tách câu, đảo trật tự từ hay câu hỏi tu từ đã giúp phóng sự Đỗ Doãn Hoàng giầu chất văn nhưng không làm văn, đem tới một mạch văn tự nhiên như cuộc sống, rất đắm đuổi, sinh động và giàu cảm xúc. Anh ăn rừng, ngủ rừng và cũng tư duy theo lối chân phương, hồn hậu của người miền núi: “…Còn ông Vủ thì từ lúc gặp đến giờ, tôi chỉ thấy ông cười, cái cười méo xẹo xệch, rủ xuống như mép mũ nồi và áo tà bủ của một người vừa dốc cạn sức lực cho một cuộc leo núi”; “Ở chỗ chúng tôi tìm được thằng không nghiện khó như đi mò con cá chép mình vàng dưới lòng sông Hiếu”; “lực lượng công an Mường Khương đúng là đã rất nỗ lực, ai đó ví: mỗi chiến sĩ công an nơi này có đôi chân lực lưỡng của bác thợ sơn tràng, sự mẫn cán và uy tín của một già làng trưởng bản cũng là xứng đáng”.

Kiệm lời đến mức dè sẻn hay đa ngôn đến mức phóng túng - hai cách ứng xử với ngôn ngữ trái ngược nhau ấy hoàn toàn bình đẳng trong công việc làm ra sản phẩm, miễn sao đạt đến những giá trị đích thực. Đỗ Doãn Hoàng theo hướng thứ hai, và cách lựa chọn ấy tỏ ra rất hợp với cá tính sáng tạo cũng như sở trường của anh. Trong lao động chữ nghĩa, anh thuộc hạng “xài sang”, nghĩa là rất tốn chất liệu. Lối viết này vừa cho phép anh lật xoay mọi góc cạnh của đối tượng được miêu tả, lại vừa giãi bày miên man cái thế giới nội tâm phức tạp, những suy tưởng lạ lùng của mình. Nhờ đó, người đọc có thể hình dung “khuôn mặt tinh thần” của cái tôi trần thuật qua “hình tượng ngôn từ” trong tác phẩm của anh.

3.2. Tình điệu chủ âm là giọng day dứt, thấm thía

Đỗ Doãn Hoàng rất hay dùng những từ như “mặc cảm thân phận”, “mặc cảm xã hội”, “thân phận”, “nỗi buồn”, “buồn”, “đau đớn”, “đớn đau”, “day dứt”, “ám ảnh” khi viết. Ví dụ, với anh: “Cái buồn của người phụ nữ Pa Dí âm thầm như dáng núi”; “Một nỗi buồn thân phận, những khát vọng ở phía sau những ngọn núi chưa rõ hình hài”. Nhân vật của anh “biết mình mắc bệnh phong, những điều tiếng vô tình đã đưa anh vào sự mặc cảm thân phận nặng nề, rồi anh uống thuốc sâu tự tử”. Không chỉ là nỗi mặc cảm của một người, có khi đó là mặc cảm thân phận của cả một cộng động người (Chia xa dòng nậm tộc). Anh thường thở dài như thế này: “Vâng. Những câu chuyện buồn, buồn tới mức chẳng muốn kể thêm ra nữa”; “…đã buồn lại càng buồn. Buồn và nhớ một a-nhí xa xôi nào đó ghê lắm”. Chính điều này đã mang đến cho phóng sự của anh chất giọng rực ấm và buồn bã, mê sảng và cô độc, hoang mang và đau đớn.

Anh thường lên đường vì sự nặng nhọc của những số phận. Có “những con người ấy đang trôi dạt cuối trời, đang cày cấy cuối trời, đang bệnh tật cuối trời, đang sợ hãi cuối trời, đang chống chọi với quá nhiều thách thức của cuộc đời cuối trời và đang khóc cười cuối trời”. Mỗi con người trong phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng luôn chứa đựng những ý nghĩa nhân sinh xã hội với một khát vọng, một nỗi niềm, một trăn trở không thành lời nào đó. Những câu chuyện và những nhân vật có thông tin tên tuổi, địa chỉ quê quán xác thực nhưng luôn luôn trôi dạt trong một không gian và thời gian được thân phận hóa, ký ức hóa. Trong lát cắt số phận của mỗi nhân vật, anh nhận ra họ dù ít dù nhiều đều là những tâm hồn nhạy cảm, những trái tim phần nào bị tổn thương, mang những nỗi cô đơn cùng cực, với mong ước thay đổi mà không thể đổi thay, muốn chia sẻ mà không được sẻ chia, muốn yêu thương và bị khước từ, muốn chối bỏ tất cả chỉ mong sao có được một cuộc sống bình thường... Anh dẫn dụ chúng ta đến với thế giới của anh bằng giọng văn trầm buồn, nhiều trăn trở, ưu lo. Giọng văn ấy cứ trơn trượt kéo ta đi lướt qua mọi ngóc ngách, lấp lánh một thứ ánh sáng có sức phản chiếu một miền đau. Miền đau thăm thẳm của một cõi người và của một cõi nhân gian đầy bất trắc.


Bất ngờ với sự tâm huyết của một tác giả khả kính viết về... thằng HoàngTỉ phú chăn bò :)

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28