Bất ngờ với sự tâm huyết của một tác giả khả kính viết về... thằng Hoàng
Saturday, October 5, 2013 9:08:41 AM
Hôm nay, nhân dịp sắp ra cuốn sách "Từ hầm lò Mông Dương đến nóc nhà thế giới Tây Tạng" của thằng Hoàng và đại nhà báo Huỳnh Dũng Nhân. Bận quá, giờ Hắn mới đọc bản thảo. Đọc rồi toát mồ hôi vì có ai đó viết về mình, kỹ hơn cả mình tự viết về mình. Kỹ hơn cả việc mình viết phóng sự về các nhân vật của mình!
Sao ở đời lại còn sót lại lắm người tâm huyết cỡ này nhỉ? Nhiều đọc rưng rưng xúc động, nhiều câu chữ, nhân vật, ký ức, xúc cảm của mình từ lâu lắm, chính mình đã quên rồi, giờ tác giả ấy viết lại, trích lại, bình lại. Hóa ra, ở đời, trong khi mình với Dũng Nhân và cánh phóng sự đi tìm viết cặn kẽ về người khác, thì vẫn có người đi viết cặn kẽ về chính... Bọn Đi Làm Phóng Sự. Ờ nhỉ, như thế mới công bằng chứ nhỉ
Xin được trích đoạn cuốn sách kể trên trong blog này, lúc ra sách, tôi sẽ công bố tên tuổi và mang lễ lạt đến cảm ơn cái người hiểu mình đến chân tơ kẽ tóc đó. Quả là hơi bất ngờ!
Sao ở đời lại còn sót lại lắm người tâm huyết cỡ này nhỉ? Nhiều đọc rưng rưng xúc động, nhiều câu chữ, nhân vật, ký ức, xúc cảm của mình từ lâu lắm, chính mình đã quên rồi, giờ tác giả ấy viết lại, trích lại, bình lại. Hóa ra, ở đời, trong khi mình với Dũng Nhân và cánh phóng sự đi tìm viết cặn kẽ về người khác, thì vẫn có người đi viết cặn kẽ về chính... Bọn Đi Làm Phóng Sự. Ờ nhỉ, như thế mới công bằng chứ nhỉ

Xin được trích đoạn cuốn sách kể trên trong blog này, lúc ra sách, tôi sẽ công bố tên tuổi và mang lễ lạt đến cảm ơn cái người hiểu mình đến chân tơ kẽ tóc đó. Quả là hơi bất ngờ!
ĐỖ DOÃN HOÀNG – CÂY BÚT CỦA CHỦ NGHĨA DẤN THÂN, KHÁT KHAO THAY ĐỔI HIỆN THỰC – NHÂN SINH
1. “Dấn thân” và yêu thương trên những “chuyến lang thang bé”
Đỗ Doãn Hoàng có nhiều “tuyên ngôn” trực tiếp, hoặc gián tiếp về hai chữ “dấn thân”. Anh cũng chỉ ra sự khác biệt căn bản giữa cái gọi là “dấn thân giả vờ” và “dấn thân chân thành”. Lẽ tất nhiên, anh thuộc về “sự đi và đến”, “sự xê dịch” một cách đúng nghĩa nhất. Sự phân biệt có ý nghĩa nhấn mạnh chữ Tâm của người cầm bút và khiến cho những kẻ mượn danh “dấn thân” phải giật mình. Chữ nghĩa, cộng cái tình, đó là hai yếu tố làm nên tâm huyết dấn thân của người làm phóng sự. Với Đỗ Doãn Hoàng, cái duyên phóng sự đến tự nhiên cứ như là trời sinh ra thế! Anh thường xuyên bị hối thúc viết vì tinh thần hiệp sĩ Đông-ki-sốt, từ cảm giác mắc nợ với những vùng đất đã đi qua, những phận người đã gặp. Bởi anh muốn, không có ai, không có gì là vô danh và vô nghĩa với cuộc đời cả. Và anh đã viết. Viết bằng nội lực. Nội lực từ sự nghiêm túc, đam mê, từ nguồn sinh dưỡng là các cuộc dấn thân.
1.1. Nặng lòng với đồng rừng, những miền đất dễ bị lãng quên
Không phải ngẫu nhiên mà biên tập viên nổi tiếng của NXB Thanh niên, Nguyễn Thanh Bình gọi Đỗ Doãn Hoàng là “kẻ lụy rừng”. Anh phát hiện ra ở gã du mục này “một tình yêu mãnh liệt với núi rừng Việt Nam”. Rừng trong tiềm thức Đỗ Doãn Hoàng không phải là nơi để đến mà là để về, vừa là của chung mọi người vừa là của riêng Hoàng mà thôi. Thế nên, chiếm phần lớn trong các phóng sự của anh chàng lang thang bụi đời nhà Đỗ Doãn là mảng đề tài về đồng rừng là một điều dễ hiểu. Từ tận nơi “cùng trời cuối đất” địa đầu tổ quốc mũi Cà Mau đến nơi rừng rú nhất Việt Nam - ngã ba biên giới Apa Chải, rồi thoắt một cái cột cờ Lũng Cú, đỉnh Phan Xi Phăng cao nhất Việt Nam, Côn Đảo, Phú Quốc, Bạch Long Vĩ, Quần đảo Hải Tặc đâu đâu cũng có bước chân của Hoàng. Anh đi, mang theo một khát vọng tự nhiên và nguyên thủy nhất của loài người, khát vọng “xê dịch và yêu thương”. Anh đã tới và yêu đến cháy lòng Tây Bắc, xứ Mường Thanh, mường Tắc, mường Lò, mường Than; đã viết như “thổ huyết” ra trang giấy hàng trăm phóng sự về những đại ngàn hoang sơ nhất, những mảnh đất “sơn cùng thủy tận nhất”, những vùng đất khó nghèo, xa xôi, hẻo lánh nhất. Phóng sự nào cũng đau đớn, khắc khoải, cũng làm cho người đọc bàng hoàng vì những điều không tin nổi. Mọi cung bậc, trạng thái của nỗi đau đời về sự nghèo đói, thất học, về những hủ tục lạc hậu từ ngàn năm đến giờ vẫn còn tồn tại trong cuộc sống cộng đồng người thiểu số hiện hữu trên câu từ, ý tứ phóng sự thật và mạnh đến nỗi, nó như một dòng nước chảy xiết có thể cuốn phăng mọi thứ giả dối, ngụy tạo.
Không dễ gì có thể viết đúng và hay về phong tục tập quán và đường ăn nết ở của người miền rừng, nếu chỉ là người “cưỡi ngựa thăm hoa”. Cũng không thể qua loa, viện dẫn các tài liệu nghiên cứu khô khan như một thứ tư liệu kinh điển, áp đặt trong các bài viết của mình. Vượt qua những điều “không thể”, “không dễ” ấy, Đỗ Doãn Hoàng dù cho Lạc lối dưới chân Bù Chồng Cha – “một cuộc lạc rừng hãi hùng đích thực” nhưng vẫn vượt thoát khỏi “vực cao, núi đá sâu và những cơn mưa rừng” tìm tới được “thượng nguồn dòng sông có cái tên thơ mộng nhất Việt Nam: sông Giăng” để thốt lên xuýt xoa thán phục tài nghệ Cuộc vượt thác của người lái đò sông Giăng, để tìm hiểu cho thấu lịch sử hình thành, văn hóa, ngôn ngữ, “mấu chốt của tâm thức người Đan Lai” như tại sao có tên làng như thế; thói quen du canh du cư: “suốt đời họ sống lang thang trong rừng sâu. Họ chỉ sống ở chỗ nào mà: “Nằm ngửa thấy ong, nằm nghiêng thấy cá”; tục “nong mốt, nong đôi” hay tục “ngủ ngồi, dùng cọc gỗ chống vào cằm; nhúng trẻ sơ sinh xuống dưới nước để làm những dũng sĩ a-sin”. Ở nơi khác là tục ngủ thăm, “phong tục diễm tình nguyên sơ của rừng già”. Đôi lúc, có cảm giác trong phóng sự Đỗ Doãn Hoàng là sự pha trộn của rất nhiều “phong cách văn chương”, một chút của Tô Hoài sắc sảo, uyên sâu trên những trang miêu tả phong tục tập quán người miền ngược, một chút của Nguyễn Tuân trên những trang viết tài hoa về núi rừng Tây Bắc hoặc trận “thủy chiến” giữa ông lão lái đò và dòng sông.
Đi, ghi chép, tìm hiểu rồi trăn trở, băn khoăn, phóng sự của kẻ “làm xiếc miệt rừng” họ Đỗ không chỉ dừng lại ở chỗ phản ánh thiên nhiên huyền bí hoặc núi rừng Cao nguyên và sự khắc nghiệt của đá. Anh khiến những phiến đá cũng biết ước mơ, giấc mơ “đèn lồng đỏ”, những ngọn núi lửa cũng biết trả lời dù cho đã ngủ quên tự vạn cổ. Chuyện đường rừng của anh còn gắn với “cánh bướm miền Đông”, Hổ, gấu và rừng hoang liệt truyện, và Đàn chó sói ăn thịt đàn bò...Cứ nơi nào anh tới là nơi đó, cuộc sống với hình thù vẹn nguyên được “di” vào phóng sự, bởi bản thân cuộc sống ấy có quá nhiều điều để nói mà chưa hề được nói đến bao giờ. Đây là Bù Chồng Cha, cái rốn của mại dâm và ma túy. Kia là vương quốc pơ-mu bị xẻo thịt lột da. Đây là triết lý đích thực của núi rừng: bên này ngọn núi người ta sống với bóng đêm và tục ngủ thăm, bên kia ngọn núi người ta “ăn mì tôm, đi xe máy”, “tuyệt nhiên không có tục ngủ thăm”. Kia là “người Khơ mú nhìn đời từ một góc nghiêng chẳng giống ai, từ một độ cao chỏm chòe lưng núi, từ một góc rừng dốc dác chốc chốc lại một lần linh động theo vô số những biến ảo của mây mù”.
Nặng lòng với Tây Bắc, yêu Tây Bắc nhất và đau nhất khi trong lòng Tây Bắc ấy có một Góc tối tăm ở thiên đường du lịch Sa pa. Liệu có ai ngờ được rằng giữa chốn “thiên đường” Mường Tiên (tên gọi khác của Sa pa) ấy lại tồn tại những cảnh đời “sống dưới mức chịu đựng của con người” như thế. Một em gái bé mới 7 tuổi “dễ thương và hồn nhiên như núi rừng” nhưng “đã nghiện lâu rồi”, “răng sún, đen xì hết cả” , “lúc thèm thuốc, nó chửi cả bố mẹ để đòi”, quằn quại, nóng sốt, vật vã mỗi khi cơn nghiện thuốc phiện kéo đến... Bố mẹ em nghiện đã kéo theo cả em, sai khiến em như một cái cần câu cơm. Gần 15 năm ròng nghiện ngập, chẳng còn gì để mua thuốc trắng, họ phải bán nhà, bán nương rẫy để sống cảnh ‘ăn lông ở lỗ” trong các hang đá lạnh lẽo, tối tăm: “Nhà của họ là một cái hang đá theo đúng nghĩa đen, trần hang cao độ 90cm, lòng hang chỗ phình nhất, tôi đo được 1,3m. Tức là, vợ chồng cu cùng hai đứa con chỉ có cách nằm bẹp trong hang, bên cạnh bếp lửa, thì mới vừa. Trong 3 năm nay (kể từ khi chuyển từ hang cũ đến “hang mới” này) họ chưa bao giờ được đứng trong nhà mình, chắc chắn thế!”. Anh đã lột tả cái thế giới cùng cực ấy một cách chân thực, thẳng thắn đến phũ phàng: “Kiếm được cái gì ăn cái nấy, nước thì đi bưng ở dưới suối, chứ cái can nhựa múc nước rách mất phần quai, chả xách được. Cũng may, người nghiện ở trong hang núi này, họ không có nhu cầu tắm giặt hay đánh răng rửa chân gì sất. Trong túi không có một xu. Trong bếp không có gì ngoài cái kiềng, cùng một lô xích xông những ống bơ dùng để đun thuốc phiện, tất cả các ống hút đã được luộc đi luộc lại nhiều lần để “mót sái”. Ngoài cửa hang, kim dùng để tiêm chính vứt ngổn ngang. Núi đá tai mèo đen xì làm mặt họ càng xám ngoét đi”. Và anh lại đau, đau với nỗi đau cùng cực của những mảnh đời bất hạnh khi miêu tả cả cảnh người vợ sinh con trong hang đá giữa cơn vật thuốc phiện. Khi Đỗ Doãn Hoàng đến, anh đã đóng vai một người khách hiếm muộn tìm... trẻ em về làm con nuôi, và câu chuyện về những người nghiện ở hang đá bán con với giá hơn 2 triệu đồng một đứa trẻ còn đỏ hỏn bắt đầu được anh khám phá, bóc trần. Tất cả, tất cả, trần trụi nhưng là sự thật.
Mỗi chuyến đi, với ý thức nghiêm nhặt của một người luôn đeo đẳng chủ nghĩa dấn thân chân thành, Đỗ Doãn Hoàng luôn cố gắng góp nhặt từng chi tiết dù là nhỏ nhất để dựng lên một bức tranh đầy đủ và trọn vẹn ở mỗi vùng đất mà anh đã đi qua. Không bao giờ anh chịu yên vị một chỗ trong một thời gian... đủ dài để “ấm chỗ”. Nhà báo Trần Đức Chính, phó Tổng biên tập báo Lao động khẳng định: “Nhờ có Hoàng và một số cây bút phóng sự như Hoàng mà chúng ta mới “đến"”được những vùng “khỉ ho cò gáy”, mới biết được trên đời này có nhiều số phận, nhiều câu chuyện ám ảnh và tử tế, và hiến thân, và bi đát hơn người ta hình dung rất nhiều”.
Đúng thế, nhờ có anh mà chúng ta không thể lãng quên Những ô cửa nằm chờ rong rêu trên thị xã Lai Châu tự khi nào, nhờ có anh mà những thân Nến cong và lửa thẳng ở vùng Di Linh lam sơn chướng khí không bao giờ ngã, tắt. Nhờ có anh, cái ngã ba biên giới Sín Thầu – A Pa Chải mới hiện hình ra Phía sau mây mù và núi cao biết bao điều cần nói, nơi có cả những người anh hùng “cắm bản” dạy chữ, giữ rừng và đám người đục khoét, vong ân...
Với Đỗ Doãn Hoàng, viết về đề tài dân tộc luôn là niềm đam mê cháy bỏng, khát khao nhất trong suốt những năm tháng đã và đang làm báo của mình. Động lực lớn nhất thôi thúc anh mải miết đi, đi như một “con dê núi” (chữ dùng của Phạm Ngọc Dương) không biết bao giờ dừng chân là nguyện ước nhân sinh: “là làm sao tác phẩm của mình đem đến những hiệu ứng tốt đẹp hơn cho hiện thực. Một chiến dịch giúp đỡ vùng cao xây nhà, xây trường học, tặng chăn màn quần áo, hay tặng con trâu con bò cho bà con; hay chí ít ra cũng để người phố thị hiểu rằng đất nước mình đẹp lắm, nhưng vẫn còn biết bao mảnh đời bất hạnh, khốn khó. Chúng ta hãy làm một cái gì đó vì đồng bào chịu nhiều thiệt thòi của mình...”. Đỗ Doãn Hoàng đã từng tâm sự như thế trong một cuộc trò chuyện riêng.
1.2. Đào xới đến tận cùng “thân phận con người”, những mảnh đời bên bờ tuyệt vọng
Nhân vật, đó là yếu tố sống còn của phóng sự. Đọc phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng, người ta luôn cảm thấy đâu cũng ngồn ngộn chất sống, năng lượng sống bởi khả năng phát hiện bản chất nhân văn của cuộc sống qua số phận con người ở tác giả tinh nhạy và bạo liệt quá! Anh không viết nhiều những phóng sự chân dung song bản thân mỗi tác phẩm của anh đã chứa đựng biết bao chân dung của cuộc sống. Những phóng sự chân dung tiêu biểu của anh, như: Người đàn bà khóc trong rừng săng lẻ, Người đàn bà khóc qua ba thế kỉ,“Bà Nhàn lòa” nuôi bốn con học đại học, Lão nông muốn vá lại tầng ô zôn, Coi nhà xác - Trần gian còn một thứ nghề, Nỗi niềm đời sông nước.
Nhân vật trong Coi nhà xác - Trần gian còn một thứ nghề là tập thể những người làm nghề coi xác ở bệnh viện Bạch Mai. Thoáng đọc, người ta có thể liệt nó vào dạng phóng sự hiện trạng, phóng sự vấn đề bởi nó khiến người ta gai người khi lầm đầu tiên được biết đến một thứ nghề đầy hi hữu, đầy nhân đạo như này. Nhưng đọc kỹ rồi, mới thấy các nhân vật được giấu tên (vì lý do tế nhị) mới chính là linh hồn của bài viết, mới chính là ám ảnh của lòng ta. Ở một phóng sự khác, Đỗ Doãn Hoàng lại dành ưu tư cho những người thợ chài – những đời sông nước, sẵn lòng đi tìm câu xác người xấu số chết đuối, đọc mà thấy con nước vỗ thăm thẳm những sóng nhân văn. Nến cong và lửa thẳng lại như một bản “hoan ca” không có nhiều cung cao, bè trầm cũng ít hơn nhiều phóng sự khác. Phóng sự dài 22 trang dành trọn tấm tình cảm phục, ngợi ca, cùng cái nhìn yêu thương, trìu mến cho những người có tấm lòng bác ái dám hiến cả cuộc đời mình bù đắp phần nào cho nỗi đau ở làng cùi Di Linh.
Tuy nhiên, nhân vật chiếm số lượng “áp đảo” hơn cả trong các tác phẩm của Đỗ Doãn Hoàng lại là những số phận bi thương, những mảnh đời bên bờ tuyệt vọng của người phụ nữ, các em bé anh coi như con mình, các cụ già đáng tuổi ông bà, bố mẹ, đôi khi, đơn giản, có thể chỉ là một người bất hạnh anh gặp đâu đó trên cuộc bôn tẩu, viễn du của mình. Hoàng thường tự nhận mình có nét giống Đônkihôtê, và nhiều đồng nghiệp của anh cũng phải thừa nhận: “Càng ngày tôi càng thấy Hoàng giống Đônkihôtê hơn ở sự dấn thân và quên mình”. “Sự dấn thân và quên mình” mang anh đến với dân tộc Hà Nhì, khiến anh thao thức quá mà buộc phải thốt lên lời cảm thán Thương về a-nhí. Những cô gái, những phận đàn bà của thế kỉ XX mà lầm lụi như con ngựa, con lạc đà gồng mình chở củi tận thủa đêm trường trung cổ. Họ cắm cúi, chịu thương, chịu khó đến mức đời họ gói trong “mái nhà tròn hình nấm tối om”. “Họ khâu tháng khâu năm, khâu cả nỗi buồn của mình vào bóng tối thân phận”. “Sự dấn thân và quên mình” còn mang anh đến với cuộc đời bất hạnh của 6 mẹ con nhà chị Mai (Phú Thọ) để truy kích đến cùng thảm cảnh “mưa sa vũng bùn” mẹ con chị phải hứng chịu từ người chồng bất nhân. Dày đặc trong phóng sự là những đoạn văn tư liệu tác giả sao chụp được từ nhật ký chị Mai để tăng thêm tính “trần trụi” của địa ngục trần gian đày ải chị. Trần trụi, không thô lỗ, khiến người ta phải rùng mình vì sợ để rồi phẫn nộ vì tình đồng loại và vai trò của các cơ quan chức năng trước mạng sống của mấy con người.
Đã có con, được làm bố, anh thấu hiểu dường nào nỗi đau của người cha người mẹ phải nhìn con mình bất lực chờ chết. Phóng sự Thơ ơi, em đừng… chết! kể về một cô bé 14 tuổi, ở Ứng Hoà, Hà Tây cũ, bị bệnh tim bẩm sinh, phải xin các suất ăn thừa ở Bệnh viện Tim Bạch Mai suốt nhiều tháng để chờ được mổ tim trong tuyệt vọng đã ẩn chứa phần nào nỗi đau vô hình ấy. Vì không kiếm đâu ra 50 triệu đồng chi phí phẫu thuật tim cho con, mẹ em đau đớn phát bệnh tâm thần bỏ đi lang thang biệt tích. Bố thì đã chết mấy năm trước vì bệnh tật. Cô bé là học trò nghèo vượt khó học giỏi cấp huyện. Phóng sự ngay sau khi xuất hiện đã giúp không chỉ một, mà là hai con người - hai mẹ con cô bé tái sinh.
Ngoài ra, anh còn có một loạt phóng sự rất hấp dẫn về những người tù, những thầy giáo cô giáo chỉ nhận lương 500.000 đồng/tháng, những người điên và sự vô cảm người đời. Người đàn bà là con của Mẹ Núi, Đắng lòng Hin Pén, Chú voi già bên dòng Sêrêpok, Ngã ba Đông Dương - Viết ra kẻo nữa rồi quên, Lại nghe “Tiếng chày trên sóc Bom Bo...khiến người đọc giật mình về những tai ương vô tình ập lên những kiếp sống nhỏ nhoi, ngày ngày gắng gỏi bước qua những ranh giới mỏng manh để mưu sinh, dẫu biết mình luôn cận kề cái chết. Cái chết có thể đâu đó ngay dưới chân, cái chết ngay bên cạnh mình, cái chết có thể trên trời giáng xuống. Nhưng số phận người mong manh, yếu thế và không có gì để bảo vệ...
Cuộc sống là “dấu cộng của những chuyến lang thang bé” (lời Đỗ Doãn Hoàng) và phóng sự là dấn thân hết mình... Anh dấn thân vào cuộc sống và số phận nhân vật rồi phơi bày lên mặt báo, rất thật, rất tự nhiên đã làm biết bao độc giả phải khóc, phải cười. Đỗ Doãn Hoàng từng là một người rất nghèo. Sinh ra dưới chân núi Ba Vì, lớn lên với người Dao, người Mường. Cuộc sống nghèo đói với khoai sắn trên mảnh đất đá sỏi gan trâu ấy khiến anh không bao giờ “nhìn lên” mà luôn “nhìn xuống” với con mắt đồng cảm, sẻ chia. Cuộc sống khốn khổ đó đã đem đến cho anh nhiều vốn sống, nhiều xúc cảm trước cuộc đời.
Thân phận con người là thứ cao nhất mà báo chí, văn chương cần khám phá. Thời nào cũng thế, với ai cũng thế. Và trong những “chuyến lang thang bé” của anh, anh luôn “đào xới” đến tận cùng phận người. Với Đỗ Hoàng Hoàng, báo chí hay cụ thể hơn, phóng sự chính là “Thân phận, thân phận và... thân phận”.
1.3. Cháy bỏng một niềm tin vào sự hướng thiện của con người trước những mặt trái của xã hội cuộc đời.
Tận dụng nhiều điều kiện thuận lợi hơn người khác để khai thác những mảng tối trong đời sống xã hội ở những đề tài ăn khách của báo chí hiện nay khi công tác tại báo An ninh thế giới, tờ báo của ngành Công an, tác giả của Trần gian còn một thứ nghề “đã lặn lội, đôi khi quá mạo hiểm điều tra và khá táo bạo đưa ra chính kiến để có thể đưa vào tác phẩm của mình những thực tế ngồn ngộn, đầy tính thuyết phục, và không thể chối cãi được” trong những chuyến Săn cave hay làm 27 phóng sự xã hội.
Nói tới những mặt trái của xã hội, ngòi bút của Đỗ Doãn Hoàng tập trung chủ yếu vào những “mảng miếng” như: tệ nạn xã hội (mại dâm, ma túy, trộm cướp, HIV/ADIS, tham nhũng, suy đồi đạo đức, những giá trị văn hóa), tội phạm kinh tế - môi trường (khai thác gỗ, phá rừng, săn bắt động vật quý hiếm). Những phóng sự nóng của đề tài này là Săn cave, Sự tổn thương lớn và phiên tòa đặc biệt, Lời buồn bã từ đồng quê gửi người đang ở phố, Đàn chó sói ăn thịt đàn bò, Ba ngày ở vương quốc pơ-mu, Làm thịt pơ-mu, Công nghệ làm mới di tích, Khi lòng tin bị “xơi tái”, Vì giàu nên phải khóc, Cả xóm bị mổ bụng...
Và dù bằng cách này hay cách khác, nghiêm nhặt, gay gắt hay nhỏ nhẹ, ưu tư, Đỗ Doãn Hoàng đều hướng con người đến chữ thiện. “Bản chất cuộc sống này là sự ngự trị của cái tốt, con người ai ai cũng vốn là tính bản thiện. Thế nên, cái đáng phê phán chỉ là hiện tượng, là kết quả của một vài sự tha hóa nào đó. Sở dĩ cái xấu, cái đáng phê phán “bị” người ta biết nhiều, đơn giản chỉ vì… nó là thứ xấu, thứ đáng bị phê phán! Hình như Đỗ Doãn Hoàng cũng biết như thế, nên chàng trai đã tìm cho mình một lối ngợi ca riêng, một cái nhìn nhân ái vượt ra ngoài những khuôn mẫu, những chỉ định quen nhàm. Hoàng dấn thân vào cuộc sống, Hoàng gắn bó cảm thông đến tận cùng của số phận để tin, yêu và viết về những phẩm chất tốt đẹp của con người. Sự hướng thiện trong các tác phẩm của Hoàng thường được phát sáng trong bối cảnh các nhân vật đã và đang đánh vật một mất một còn để chiến thắng hoàn cảnh, chiến thắng bản thân mình. Nghĩa là cái Tốt, cái Thiện trong góc nhìn (phóng sự) của Hoàng không mấy khi tốt tươi no đủ; mà thường lấm láp, mong manh trong khoảng tối sáng vật lộn của từng hoàn cảnh, từng phận người”. Trong mòn mỏi “viết tiếp về những thân gái quê”, tác giả mừng đến thót ruột khi biết đã có người bỏ nghề, hoàn lương. Trong Làm thịt pơ-mu, anh nhận ra rằng: “những gã sơn tràng khốn khổ như Tư cũng biết rằng, cái sự phá đi những di sản thiên nhiên đang bảo vệ loài người trước thiên tai như thế còn có thể ngụy biện là một sự bất đắc dĩ được ư? Tư tứ cố vô thân, Tư mồ côi và chưa có sự lựa chọn nào khác. Nhưng với những gã buôn lậu gỗ, những cai chủ gỗ, những gã bảo kê cho phá rừng mà tôi đã gặp, thì không có cách nào khác, đành gọi họ là những kẻ bất lương, những kẻ uống thuốc độc để giải khát, những kẻ đập chiếc bình quý để hòng giết vài con gián”.
Gió bụi, liều lĩnh qua các bài viết xông vào “tận mục sở thị” những hang ổ của xã hội, phơi bày những mặt trái của nhiều lĩnh vực bằng cái nhìn sắc sảo, góc cạnh nhưng dứt khoát không phải là lối viết “bới bèo ra bọ”. Bằng những phát hiện xác thực, tác giả buộc người đọc phải thừa nhận những nghịch lý trong cuộc sống thông qua sự công phu của “nhà báo - điều tra”, qua đó, kêu gọi người đọc, xã hội phải quan tâm đến những vấn đề cụ thể, đến cuộc sống của những con người cụ thể, phần lớn là người ở những tầng lớp thấp nhất, nhiều khi thấp đến thê thảm, để chúng ta cùng có trách nhiệm đóng góp vào việc nâng cao dân trí, cải thiện đời sống, đảm bảo công bằng xã hội…
1.4. Cảm xúc luôn tươi mới dù đến hay trở về với những vùng đất khác nhau
Có một trạng thái tâm lý phổ biến là, đối với những gì đã trở nên quen thuộc, con người ta hay bị nhàm chán. Và như thế, “cảm giác thèm của lạ” lại xuất hiện. Nhưng Đỗ Doãn Hoàng có vẻ như đã vượt ra khỏi cái thói thường của nhân tình thế thái ấy. Dấu chân đã in trên khắp mọi tỉnh thành, song lúc nào, dù đến một vùng đất mới, gặp những con người mới hay trở lại với cố nhân, tri kỉ, anh đều có một dòng cảm xúc tươi mới. Sự tươi mới cảm xúc đó là một thế mạnh mà anh luôn tự hào. Và rất xác tín, nếu dùng từ Chân Thành với cuộc sống, với chính bản thân mình, để diễn tả “trạng huống” tươi mới, liên tục tươi mới kia của Đỗ Doãn Hoàng.
Sự tươi mới cảm xúc, trước hết gắn với nhiệt tình đi, nhiệt tình đến của tác giả. Các miền không gian của anh liên tục dịch chuyển, từ không gian đối nghịch với sự tận cảm của người cầm bút đến không gian với sự hòa hợp và nâng đỡ con người. Anh thường để mình bị cuốn trôi trong cái trục tung và trục hoành của không – thời gian đầy những trăn trở: “Trái đất này quá rộng/ Ngày nào người ta cũng nhắn tìm trẻ lạc trên tivi/ Trái đất này quá hẹp/ Để sáng gặp một thằng đểu/ Chiều lại gặp một thằng đểu/ Biết thế nào là khiếp với không kiếp”. Bằng cách sống nhiều cuộc đời trong một cuộc đời, Đỗ Doãn Hoàng đã trải nghiệm, bước qua mọi cung bậc cảm xúc, trạng thái tinh tế lẫn tế vi. Anh đã biết thế nào là nỗi đau của người mẹ phát tâm thần vì bất lực không có tiền chữa bệnh cho con (Thơ ơi! Em đừng chết), đã biết thế nào là cảm giác ân hận, tội lỗi khi ở quá gần với cái xấu mà không thể cứu rỗi hay làm gì tốt hơn cho họ (Góc tối ở thiên đường du lịch Sapa). Thậm chí, anh sống đời pơ-mu để lắng nghe cơ thể cây đau xiết âm ỉ đến mức nào khi bị “làm thịt”, đốn gỗ, phá rừng không quy hoạch. Anh cũng chẳng ngại ngần đi ngủ thăm để vỡ cho ra cái tục của người dân tộc với cái háo hức dè chừng của người khách lạ dưới xuôi, song nhiều hơn cả là nỗi day dứt, suy tư trước những hệ lụy mà hủ tục mang tới cho cuộc sống con người. Nhấm nháp một chút rượu trong trạng thái “ức cố nhân” để giật mình “khi tỉnh rượu, lúc tàn canh” thấm buồn cho làng rượu cổ mỗi ngày một biến thiên. Đỗ Doãn Hoàng luôn cố gắng vượt thoát ra khỏi sự bé nhỏ của con người trước thiên nhiên, luôn cố gắng lấy cảm xúc và nhiệt hứng của mình làm đứt gãy một đoạn trong cái vòng kim cô của không gian – thời gian trong nỗ lực tưởng như toàn năng của nó – nỗ lực chế ngự bước đi của con người. Bằng muôn sự ký thác tâm trạng, tấm lòng, anh luôn dặn lòng mình: “viết ra nữa kẻo rồi lại quên”. Khát khao viết đó, sự nặng nhọc của số phận con người ở vùng sâu vùng xa, ở nơi tăm tối nhất của cuộc sống chính là tiếng gọi thúc giục anh không ngừng “thay máu” cảm xúc, nhiệt tình. Những lối đi hoang rậm của rừng núi, cũng như thiên la địa võng thiện - ác của lòng người đều làm sực lên ở anh những dấu hỏi, những băn khoăn, những thôi thúc để tìm ra cho được khúc buồn của lời ru, ánh sáng nhân văn trong những mảnh đời triền miên đau khổ...
Sự tươi mới cảm xúc của người viết, bắt nguồn từ một thế giới nội tâm phong phú. Chính việc tiến hành trần thuật bằng cách thân phận hóa không - thời gian, tình huống, hoàn cảnh, tâm lý, số phận nhân vật đã tạo ra những sắc điệu phong phú cho cái Tôi trần thuật đa cảm, đa âm. Nhân vật tôi vừa là chứng nhân trước hiện thực buồn đến mức chẳng muốn kể thêm ra nữa, vừa trực tiếp trần thuật, thẩm định và không ngại ngần bộc lộ nội tâm, chính kiến. Khác với Huỳnh Dũng Nhân thường đẩy phóng sự đi theo hướng khái quát hóa gắn với những phân tích, phản biện xã hội, những trang viết của Đỗ Doãn Hoàng nhiều cảm xúc hơn và ít biện giải, đề xuất hơn. Chính yếu tố cảm xúc quá nồng đượm trong tác phẩm, mà nhiều khi bài viết của Đỗ Doãn Hoàng hay đi chệch chuẩn khỏi quỹ đạo của thể loại giáp ranh giữa văn với báo này, thiên về tùy bút, ký sự hơn là phóng sự đơn thuần. Qua miền Tây Bắc, Cao nguyên đá và giấc mơ đèn lồng đỏ, Những ô cửa nằm chờ rong rêu, Phía sau núi cao và mây mù, Cọ buồn trên đất lá...không một chút nào tơ vương cái ồn ào phố thị mà chỉ lặng thầm da diết, cái da diết thèm nhớ những giá trị vô hình nhưng thiêng liêng, trọng thị.
2. Thân phận hóa dòng trần thuật
“Tôn giáo” phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng là “thân phận” nhân vật, huyết mạch chảy trong dòng trần thuật của anh, bởi thế cũng là “thân phận”.
Phóng sự Việt Nam đương đại càng về sau càng ghi nhận nhiều sự tìm tòi, đổi mới trong cách trần thuật ở các cây bút khác nhau. Từ trước đến nay, hình thức trần thuật cơ bản của phóng sự là trần thuật ở ngôi thứ nhất với sự đa dạng các điểm nhìn. tùy vào cách thức tiếp cận hiện thực và vị trí của người kể đứng gần hay xa các sự kiện, nhân vật trong tác phẩm một cách cụ thể. Cụ thể hơn, thân phận hóa tình huống là cái tôi trần thuật nhập thẳng vào dòng sự kiện, trực tiếp bộc lộ cảm xúc, nội tâm của mình. Theo mỗi sự kiện, mỗi tình huống khác nhau là những thân phận khác nhau. Chúng tôi đặt vấn đề thân phận hóa trần thật hay cụ thể hơn là thân phận hóa cái Tôi trần thuật để tìm hiểu sâu hơn một bước cụ thể hóa hình thức trần thuật ở ngôi thứ nhất. Phóng sự không chỉ lôi cuốn sự chú ý của người đọc theo dòng các sự kiện mà còn lôi cuốn người đọc vào cả lời kể, cách kể một cách nghệ thuật. Nhờ thế đã tạo ra hai hiệu quả: tạo ra ảo giác ở độc giả về tính khách quan của nội dung câu chuyện trong phóng sự và thể hiện đậm nét dấu ấn chủ quan của người kể chuyện.
2.1. Cái Tôi trần thuật nhập vào dòng sự kiện, thân phận hóa tình huống
Xu thế chung của phóng sự hiện đại là “chất truyện nhạt dần”, tăng cường chất thông tấn, vì vậy, khái niệm “tình huống”, cái cốt lõi để tạo nên chất truyện thường không phổ biến. Tuy nhiên, hiểu theo một cách khác, ở nghĩa rộng hơn, tình huống có thể được xem như những hoàn cảnh có vấn đề, mà ở chỗ đó, phóng sự có thể “rơi” ra trong sự bức bách phản ánh hiện thực không cưỡng lại được. Các tình huống trong phần lớn những phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng đều mang rõ dấu ấn của thân phận ở đó.
Trong Nến cong và lửa thẳng, tình huống được xây dựng từ cái tứ hình dáng của hai đồ vật có mối quan hệ nhân quả với nhau: nến và lửa. Thông thường, chúng ta thường nghĩ vì lửa mà phấn hết phận sinh tồn nhưng bằng tư duy “thân phận hóa”, “nhân cách hóa” nến và lửa thành những con người, Đỗ Doãn Hoàng đã mang tới một liên tưởng và ý nghĩa đảo chiều cho chúng: “Nhưng, may thay, bệnh phong không di truyền, và cũng như ngọn lửa trên thân nến cong, những đứa trẻ sinh ra từ làng phong trong góc rừng kia vẫn lành lặn, xinh xẻo như bất cứ đứa trẻ nào khác. Thế nên người ta thường gọi những người có tấm lòng bác ái dám hiến cả cuộc đời mình bù đắp phần nào cho nỗi đau ở làng phong là thắp lửa thẳng trên những thân nến cong”. Từ điểm gợi mở này, tác giả đi vào tái hiện chiều sâu của chặng đường chuyển đổi dài dặc, cam khó, đớn đau, từ “những làng phong ma quái, lay lắt chờ chết trong các cánh rừng của miền Đông Nai Thượng năm xưa, từ vị cha xứ người Pháp sống cả đời với sốt rét, thú dữ, rồi yên nghỉ tại trại phong chỉ với mong muốn thu gom và chữa bệnh cho người cùi; cho đến nữ tu Mai Thị Mậu và hội nữ tu bác ái dám vì những người bệnh phong mà đem cả tuổi xuân chôn vùi với lam sơn chướng khí”. Xét trên góc độ đặc trưng thể loại, về mặt trần thuật, tình huống này cho phép tác giả nhập hẳn vào sự kiện để trực tiếp bộc lộ cái Tôi nội cảm của mình. Không phải ngẫu nhiên tác giả mở đầu loạt phóng sự của mình bằng hai câu hỏi về những lời đồn thị phi xung quanh việc nuôi người cùi ở trại phong. Đặt ra câu hỏi để câu trả lời xác đáng hơn, hình tượng nhân vật trở nên trọn vẹn hơn và những nguyên nhân điều trần hiện thực cũng thuyết phục hơn, theo kiểu “nói có sách, mách có chứng”. Xét trên góc độ ý nghĩa, một bên nó khơi gợi lòng cảm thương cho những phận người bất hạnh, mặt bên kia, nó khơi gợi lòng cảm phục trước các nữ tu. Giá trị nhân sinh của phóng sự, theo đó, mà tỏa đi thành nhiều dòng phức hợp.
Coi nhà xác - Trần gian còn một thứ nghề thì đeo đẳng mãi cái tứ bàn tay. Tình huống của phóng sự chỉ đơn giản là sự chao chát, nhói lòng trước phát hiện của tác giả về một nghề giữa trăm nghề: nghề coi nhà xác song chính cái tứ bàn tay mà người viết đay đi đay lại đã biến tình huống đó từ vô tri trở nên có thân phận một con người – bàn tay lặng lẽ làm việc tốt cho đời, mà phải giấu giếm vợ con, cha mẹ, láng giềng; bàn tay lặng lẽ cống hiến mà sự ghi nhận của xã hội và người đời chưa thỏa đáng; bàn tay lặng lẽ viết đơn bỏ việc bởi những cơn bạo bệnh rồi cầm lòng chẳng đặng lại quay lại nghề...Thượng vàng hạ cám những thứ rùng rợn đều qua đôi tay của các anh H, anh T – cái tên chung chung, tế nhị như chính công việc của họ vậy, đôi tay mà tác giả dù hiểu, dù trân trọng mà cũng “chưa dám bắt tay”.
Trong trái tim đa cảm của Đỗ Doãn Hoàng, Tây Bắc là duyên, là nghiệp nhưng vùng đất Phú Thọ quê vợ anh với Cọ buồn trên đất lá mới là nơi đọng nhiều hoài ức nhất, hoài ức được nối dài từ mấy trăm năm tuổi của những thân cọ buồn cộng lại. Cọ hiện lên song hành với cuộc đời và thân phận con người. Cọ giản dị nên phận người ở miền trung du này cũng giản dị như thế, cọ hắt hiu buồn như đời người thanh bạch với bùn đất, cọ nền nã như kiếp người lành lẽ, đơn sơ. Đời cọ dài mà phận người mỏng. Người ta sống vì cọ, chết cũng vì cọ. Cọ cũng có một đời sống riêng, vừa nhập vào con người, vừa tách ra ở cái phần kỳ bì của thiên nhiên. Ngay ở tên nhan đề bài viết, tác giả đã mang đến cho cọ một thân phận buồn. Những thương nhớ, những nhói lòng vì cọ, cố gắng lắm cũng chỉ làm cọ buồn hơn. Dầu vậy, cọ vẫn “cứ già nua và thơ ngây quá đỗi”, vẫn “giản dị như đống rơm rạ khô đốt trong chiều muộn”, “không lửa táp, không gió đồng cũng không hương vị gì hoa hòe hoa sói”.
Kiểu trần thuật thân phận hóa tình huống còn có thể gặp trong khá nhiều tác phẩm khác, như Chia xa dòng nậm tộc (thân phận tự ti, côi cút của một cộng đồng chỉ hơn 300 người), Mõ làng liệt truyện (thân phận là nạn nhân của định kiến, bị hắt hủi, dị nghị và xa lánh), Làm thịt pơ-mu (thân phận bị tuyệt diệt của tín ngưỡng pơ-mu), Phía sau núi cao và mây mù (thân phận của những con người chốn sơn cùng thủy tận bị lãng quên và cố tình lãng quên), Nổi nênh nghiệp rối (thân phận phù du, bảy nổi ba chìm với nước non của nghiệp rối, người làm nghề gắn với rối)...Mỗi tình huống phóng sự được thân phận hóa tổ khúc thành cái nhìn hợp lưu, nhiều chiều của Đỗ Doãn Hoàng về hiện thực, thứ hiện thực “không dễ đi và đến” tận cùng bản chất.
2.2. Cái Tôi trần thuật nhập vào dòng sự kiện, thân phận hóa không – thời gian
Đặc điểm dễ nhận thấy trong các phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng là anh huy động tất cả điểm nhìn bên ngoài và bên trong với đủ kiểu xuất phát để tươi mới liên tục các phóng sự của mình. Theo sự dịch chuyển điểm nhìn ở mỗi tác phẩm, không – thời gian của tác giả có những kiểu tổ chức khác nhau nhưng đều nhất quán ở chất keo “thân phận hóa”.
Hạn chế sử dụng kết cấu trực tuyến vì với lối kết cấu này, phóng sự sẽ trở nên đơn tuyến, sự kiện, vấn đề chỉ chạy theo một trục thời gian – không gian tuyến tính, Đỗ Doãn Hoàng thường dụng công ở các kết cấu liên hoàn, lôi kéo, lắp ghép sự kiện theo dạng móc xích, song song hoặc bậc thang. Kết cấu này cho phép anh không tự giới hạn không gian thời gian trong phóng sự của mình. Chúng được vận động và mở ra tự do, gắn với liên tưởng, suy tư của tác giả, và luôn có một điểm tựa là thân phận con người.
Mở đầu bài viết Thương về a-nhí, anh đưa ra hai địa danh (có ý nghĩa như không gian cụ thể) như Lai Châu, Lào Cai, vài ba số liệu thời gian tuy không chính xác tuyệt đối nhưng cũng không quá mơ hồ (trong năm qua, trong ký ức của tôi) nhưng khi đi vào nội dung phóng sự, không gian ấy được thu lại ở một điểm nhìn tương phản giữa một bên là núi rừng hoang rậm với một bên là những nóc nhà “tròn như cây nấm với mái cỏ dày cả mét so mình thu lu như chú gà buồn trong giá rét”. Sự tương phản càng đặc tả rõ sự bé nhỏ của người phụ nữ Hà Nhì. Thậm chí cái không gian tồn tại của họ còn thu hẹp đến cực đại ở cái dáng cúi mặt lầm lì hòa trộn vào cây cỏ, núi rừng, ở cái điệu đi lui cui như những người đeo gông – những người bị cầm tù bởi chính họ. Không gian nghệ thuật dịch chuyển từ lớn (núi rừng) đến bé (mái nhà), cực tiểu ở cái chấm cảm trong dáng đi con người nhưng đều chịu sự chế định của thân phận người nên nhuốm màu buồn tủi và đôi chút xót xa.
Thời gian trong Thương về a-nhí cũng chịu sự chế định ấy, nhất là thời gian về đêm và sương sớm. Trong phóng sự xuất hiện nhiều mốc, điểm thời gian song có ý nghĩa nhất là hình ảnh bóng tối. Chính tác giả đã lí giải cảm quan không gian – thời gian của mình: “Bản Nậm Mít hiện ra mới hai chục mái nhà tròn hình nấm tối om, vẫn những người đàn bà ngồi khâu miệt mài trong bóng tối. Họ khâu tháng, khâu năm, khâu cả nỗi buồn của mình vào bóng tối thân phận”; “Người Hà Nhì đến từ nước bạn, lại mang đầy mặc cảm thân phận, nên bà con thường chọn biên ải, với các vùng núi thật cao, các cánh rừng thật sâu, đường đến thật hiểm trở để “ẩn dật”. Vậy là tương xứng với không gian, thời gian là phong tục, tập quán nết đất, nết người. Chẳng phải để làm điều đó, Đỗ Doãn Hoàng đã thân phận hóa không – thời gian của mình đó sao?
Theo một cách thức khác, điểm nhìn của “tôi” luôn di chuyển trên trục thời gian gấp khúc (quá khứ - hiện tại – tương lai) soi chiếu trên một toạ độ không gian rộng nên đã tạo ra tính chất nhiều giọng, lời văn nhiều cảm xúc. Những thây người mang hình dấu hỏi, nội cái nhan đề ấy thôi, đã ướt đầm những nỗi niềm thân phận. Tác giả tái hiện lại mốc thời gian quá khứ 40 năm trước đây 50 cán bộ nhân viên ngành y tế Yên Bái bị tử nạn bởi Mỹ ném bom phá hoại (quá khứ), song song với đó là viết lên trăn trở của những người sống sót về một chế độ thỏa đáng cho đồng đội của mình (hiện tại) và cuối cùng là một dấu hỏi cho diễn biến về sau của uẩn khúc không đáng có này (tử nạn trong khi đang làm việc mà lại không được công nhận là hy sinh vì nhiệm vụ tổ quốc chỉ bởi không có giấy phân công nhiệm vụ) (tương lai). Thời gian ở trục gấp khúc ấy đã trở nên khái quát hơn, biến nỗi đau nhân theo thời gian cũng càng thống thiết hơn. Không gian luân đổi liên tục, khi là không gian chiến trang, không gian thời bình, khi là khu vực y tế bị bom rơi, khi là con đường đi của một tờ giấy (có nghĩa hay vô nghĩa? cần thiết hay không? hình thức hay là sự trốn tránh trách nhiệm? Tắc trách hay là cố tình lãng quên?). Không gian - thời gian ấy khiến những ai có lương tri, biết về câu chuyện này không thể im lặng. Mang theo nỗi hờn oan của 50 người liệt sĩ xuống mồ, thời gian nhân lên thêm nỗi đau của thân nhân, đồng đội còn sống sót, không gian hoán cải, biến đổi vi tang điền rồi sẽ ném những dấu tích còn lại vào mất mát, biến thiên. Còn lại chỉ là một dấu hỏi chưa có lời giải đáp mà thôi.
Là tín đồ của chủ nghĩa dấn thân nên cảm quan không gian trong phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng tồn tại như một lẽ tự nhiên. Vấn đề là, anh đã không để nó tồn tại như một điểm chết hay đơn giản như một công cụ để đào bới lên trong đó các sự kiện, tình huống có vấn đề để phục vụ cho ngòi bút của mình. Anh đã thân phận hóa không gian ấy, mang đến cho mỗi khoảnh, vùng hiện thực anh tiếp cận một nỗi niềm, một số phận riêng.
Thời gian trong tác phẩm của anh cũng thế. Mỗi chuyến vượt rừng, ở bản của anh ít thì dăm bảy ngày, nhiều thì nửa tháng, một tháng. Lên miền ngược hay về miền xuôi anh đều đi mà không chịu sự gò bó, câu thúc của thời gian. Xuất phát từ quỹ thời gian tạm gọi là vừa đủ cho mỗi lần dịch chuyển ấy, anh luôn bắt mình phải tìm hiểu con người, sự kiện ở nhiều chiều. Khi trôi ngược về quá khứ, lúc đến tương lai trong những mộng tưởng, ước mơ, tất nhiên hiện tại vẫn là chất thời sự chủ âm của bài viết. Từ đêm sang ngày, từ mùa xuân sang mùa hạ, từ ngày này qua tháng khác phận người cứ thế “khâu” mình vào những bước tiến thời gian.
Lấy một ví dụ khác, phóng sự Mưa sa vũng bùn viết năm 2006 của anh. Trong bài có đoạn viết: “Chị Mai thề độc “tôi mà nói sai, trời đánh chết bỏ 5 đứa con tôi” rồi kể: có những trận đòn kéo dài suốt từ trưa đến tối. Trước sự chứng kiến của nhiều bà con, sau trận đòn nhừ tử, chị Mai ngất, Kháng vứt ra sân, đổ chậu nước lã vào mặt cho tỉnh lại. Rồi lại đánh, lại lôi ra ao dìm xuống. Kháng dọa, đánh chết vợ rồi buộc vào vạy cho trâu lôi ra bãi tha ma. Rồi anh ta mua mấy lít xăng ở quán nhà ông Toàn về dọa sẽ đốt chết chị Mai. Ngày nào Kháng cũng đánh vợ. Nhà nằm giữa vùng ao hồ và những gò đất trung du. Có đợt hai mươi ngày trời, chị Mai phải ngủ ngoài gò sau nhà. Nhiều đêm rét quá, chị mon men vào chuồng lợn ngủ. Các con cũng vác chiếu ra ngủ ngoài cổng. Chị Mai kể, chị bị chồng bắt ăn cơm của chó. Chị muốn tự tử vì nhục, song rồi chị cũng phải bốc cơm ăn, thè lưỡi ra liếm từng hạt cơm dưới đất. “Tôi thử ăn hết chỗ cơm của chó xem có chết được không, xem anh ấy có hả giận không” – chị khóc nức nở. Tiếng khóc giữa đầm sen mênh mông của Tam Nông, vang vọng như tiếng tru. “Có đêm, tôi bị đánh ba trận liền, ngủ ngoài gò sợ lắm, định sang nhà các chú, các dì ngủ. Song Kháng dọa, nhà ai mở cửa cho tôi ngủ thì anh ta sẽ đốt nhà ấy. Từ ngày 1/10 đến ngày giỗ mẹ tôi (chị Mai), 18/10/2005, suốt 18 ngày giời, tôi toàn ngủ ngoài rừng!”. Các không gian gắn với số phận nhân vật xuất hiện chồng chéo lên nhau như các từ in đậm biểu đạt. Có không gian của vật (sân, ao, dưới đất, trong chuồng lợn, giữa đầm sen), có không gian của phiêu bạt (ngoài cổng, ngoài gò), có không gian của ma quỷ (bãi tha ma) nhưng rặt không hề có không gian của con người (ngôi nhà). “Nhà” xuất hiện trong đoạn văn có ý nghĩa hoán dụ, chỉ từng gia đình cụ thể, chứ không hề có ý nghĩa không gian, như một nơi để ở, để sống, để yêu. Là con người đó, mà sống như loài cầm thú. Là con người đó, mà sống như đã chết. Chị chết dần trên từng trang “nhật ký” – một hình ảnh ám gợi Đỗ Doãn Hoàng trong lúc đi “nhặt chữ của giời” đã bắt trúng. Vẫn tiếp tục thân phận hóa thời gian: “Cuốn nhật ký mở đầu như là những lời tuyệt mệnh (đã có sửa lỗi chính tả): “Tôi viết (nhật ký) để lại cho đời con tôi sau này hiểu về cuộc đời của mẹ chúng. Còn quãng đời tiếp theo của tôi mãi về cuối đời ra sao thì tôi nhờ vào thần phật chứng dám và soi xét, thật là trớ trêu và cay đắng”. Liên tục, trong nhiều trang nhật ký, toàn chữ và số, rặt một nội dung, “ngày…, anh Kháng đánh tôi”; ‘ngày… anh Kháng đánh tôi rất dã man”; “ngày… anh Kháng đánh tôi chết đi sống lại”. Đặc biệt, đau lòng là “ngày 27/9/1997, anh Kháng đánh tôi tưởng chết, vì khi đó tôi đang có bầu đứa thứ 4, (anh) đánh tôi nằm chết trên đống củi, rồi vác lên nhà trên, có cả bà chị dâu đến…”. Sử dụng chính tư liệu của nhân vật để làm dẫn chứng cho phóng sự của mình, bản thân tư liệu ấy đã mang theo nỗi đau rất thật của một con người, một số phận.
Các không gian – thời gian mang mặc cảm thân phận con người theo bước chân của kẻ hải hồ, mở ra xa tít tắp, từ biển Tây vào Gia Lai đến Lũng Cú, Tây Bắc, Mù Căng Chải...khi hoang lạnh bởi khí núi, khí đá, khi âm u bởi núi cao, mây mù, khi là cả đồng rừng khi ai oán như tiếng khóc người đàn bà trong rừng săng lẻ!
2.3. Cái Tôi trần thuật nhập vào dòng sự kiện, thân phận hóa hoàn cảnh – tâm lý và tính cách nhân vật
Mỗi phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng luôn làm tròn sứ mệnh “thông tin về sự thực của các giá trị nhân sinh” (ý của PGS.TS La Khắc Hòa) thông qua lát cắt số phận nhân vật của mình. Anh không cố tãi chi tiết hay kiếm nhặt những ngôn từ thống thiết nhất để mô tả như một sự cầu xin sự xót thương của độc giả với nhân vật của mình. Anh cũng không làm ra vẻ khách quan chủ nghĩa, khoác cái bộ mặt dửng dưng bên ngoài một tấm lòng nặng trĩu trước nỗi đau con người. Anh là anh, nhiệt huyết và chân thành bên những mảnh đời, những số phận mình đi qua. Thân phận hóa hoàn cảnh, tâm lý và tính cách nhân vật, tuyệt đối không làm cho họ trở nên nhỏ bé, thấp hèn. Chỉ giản dị, đó là cách cái tôi trần thuật có thể bộc lộ suy nghĩ, nội tâm của mình về hiện thực thành thực nhất. Thành thực như thể chính mình cũng mang hờn tủi trong tấn bi hài kịch của những người điên. Phóng sự Những tấn bi hài kịch trong thế giới “người điên” khá dài, được chia làm nhiều kỳ (10 kỳ) lấy những số phận, những gương mặt của người “tay nhặt lá chân đá ống bơ” làm điểm tựa hướng về xã hội tỉnh táo đến nhẫn tâm, tàn ác ở bên ngoài. Hiện lên trong phóng sự là rất nhiều thân phận: một Phó Tổng Giám đốc “tiền tỷ” của cái Bộ giàu có nhất Việt Nam chỉ thích “bị lừa”, một giáo sư ngành Y – bàn tay vàng phẫu thuật, một chuyên gia ngân hàng học ở Đức về, một thạc sĩ ngành dược có tiếng, một Phó Tổng Giám đốc, trưởng ban dự án xây dựng thủy điện X. ở vùng cao nguyên trung phần Việt Nam trở thành “ma Lộc (tên ông là Lộc - TKY), ma men” vì bị “vợ bỏ, nên đời mới đổ vào trong rượu” say mãi không tỉnh thế mà vẫn triết lý như người tỉnh nhất: “Đời chúng ta, đôi khi bị chuyển hướng, và trở nên tồi tệ, vì một người đàn bà, cậu nhỉ!”. Cả những sinh viên xuất sắc cũng về tề tựu trong thế giới người điên. Đào Duy V., sinh viên Đại học Dược Hà Nội, năm thứ 4 với ước mộng giúp đời: “mở những khoá học quan trọng, giúp các bạn sinh viên viết đơn xin việc thật đẹp, thật thuyết phục...Các câu lạc bộ thuyết trình (...), sẽ ăn đứt tất cả các chuyên gia ăn nói “có đầu có mỏ” nổi tiếng nhất hiện nay (...) Rồi sẽ thành lập những câu lạc bộ cho máu, sinh viên cả nước thường xuyên cho máu cứu người. Rồi nhờ việc cho máu ấy mà cuộc sống của sinh viên bớt eo hẹp đi (kiểu như bán máu!). Đặc biệt là nhóm của bọn em, sẽ trở thành toàn những người vĩ đại. Sẽ làm giàu cho đất nước và cả trái đất này (...) Chúng em sẽ thành lập một tập đoàn hoạt động đa quốc gia. Khoảng năm 2015, bảy lăm cái đầu tiến sĩ của bọn em sẽ làm thay đổi bộ mặt thế giới…”. Cậu cho rằng, mình phải vào đây như cái giá phải trả cho sự sáng tạo như một hành trình đi trước thời đại. Hoàng Trọng H., sinh viên Đại học Bách khoa, với niềm tin mình sẽ làm Chủ tịch… Thế giới, bởi tài năng thiên bẩm của cậu. Cậu tin, kể cả khi mình lấy xe đạp của bạn đi bán, cũng không ai trách mình, là bởi vì thế giới luôn tràn ngập nụ cười, của cải và lòng bao dung, hỉ xả…Và đây nữa, cả những người phụ nữ bị lạm dụng tình dục vì điên loạn lang thang, không khóc, không cười, chỉ âm thầm như chiếc bóng. Thế giới điên dại “muôn hồng ngàn tía” còn đón nhận cả người cựu binh chỉ ăn trộm dao và vị “tiều phu trên quốc lộ” hay những anh chàng, cô nàng chỉ thích lấy tự tử làm thú vui. Có chàng tên Kiên, cuộc đời là dấu cộng của những vết sẹo chí mạng, “hay đi bộ dọc hành lang khu “nhốt giữ”, lè lưỡi ra và mài lưỡi mình vào các gờ xi măng xù xì cho máu tươi phọt ra, máu loang khắp nơi phè phè (...) Tự tử mãi chưa được chết, anh ta bèn nghĩ ra cách lừa các bác sỹ, đi ra khu vệ sinh, tìm một cái bể đọng nước mưa ở mức sâu… 15cm. Chàng vục mặt, vục mũi xuống đó và thực hiện nghi lễ chết bằng mọi giá. Hít “vũng” nước nông choèn đó vào mũi để được “chết đuối”. Chàng đã chết”. Khó có nỗi đau đớn nào hơn sự điên dại đó. Khó có những văn bản nào miêu tả phần chìm, góc khuất của xã hội khẩn thiết hơn những chuyện đau lòng biết nói năng kia. Khó có thể nói, thân phận người nào bất hạnh hơn, bởi phải sống trong một thế giới bé nhỏ, chật hẹp, chịu nhiều sự kỳ thị và hắt hủi - thế giới của người điên đã là một bất hạnh không cùng của họ. Cái kỳ tài của Đỗ Doãn Hoàng là đã ghi chép trung thực, tường tận hiện thực rồi “đẩy” những chi tiết đó lên trang viết, trần trụi, không hoa lá cành, không thêm thắt, đắng chát, buồn tủi! Không bi kịch hóa nhân vật, không đẩy họ vào góc tối tăm hay những tiếng cười giễu nhại. Chỉ có “thân phận, thân phận và thân phận”.
Việc miêu tả hoàn cảnh, tâm lý, tính cách nhân vật trong phóng sự, dĩ nhiên khác biệt so với trong văn học. Nhân vật không thể được miêu tả ở bề dày tâm lý với tính trọn vẹn của một tính cách, một cuộc đời. Hoàn cảnh của nhân vật Đỗ Doãn Hoàng thông thường đều éo le, nghèo khó. Này là một anh có cái chân voi, đi không nổi, đứng không xong, quanh năm này qua năm khác chỉ nằm và ngồi, này là hai cụ già đã thất thập cổ lai hy mà đời vẫn chưa hết khổ, quanh quẩn nghèo, quanh quẩn nước mắt kèm nhem. Này là người đàn bà điên bởi nhằng nhịt vết chồng chém, chỉ biết khóc trong rừng săng lẻ. Và kia nữa những đóa hoa rừng lạc lối dưới chân Bù Chồng Cha âm u, sơ cổ dễ mê hoặc, hù dọa người ta theo bóng tối. Những kiếp người mòn mỏi sống tù túng nghèo nàn, không yêu thương, không hi vọng. Những phụ nữ quê mùa lam lũ bị những ông chồng vũ phu hành hạ coi như là con ở, là nô lệ tình dục. Đó là thân phận hèn hạ của những cô gái điếm. Đặc biệt là thân phận trẻ em nữ như bé Dung, bé Thơ... Ý nghĩa phổ quát toát ra từ những hiện tượng này lên tiếng kêu gọi toàn xã hội phải quan tâm hơn nữa, phải có những hành động thiết thực, cụ thể hơn nữa để giúp đỡ những mảnh đời vất vả khổ sở ấy. Trong khi đó chính những mảnh đời khốn khổ ấy trong sâu thẳm tâm hồn lại mang một vẻ đẹp nhân hậu thiết tha, sống với một khát vọng hướng thiện tự thân mãnh liệt. Nhân vật người kể chuyện dù phải chứng kiến nhiều chuyện đau lòng nhưng không bị cái bi quan làm chùn bước. Mỗi phóng sự đều lấy sự thân phận hóa nhân vật làm những mạch chìm nhân bản. Mạch chìm ấy là tình thương, là sự đồng cảm của tác giả dành cho nhân vật.
(Còn nữa)












