My Opera is closing 3rd of March

Subscribe to RSS feed

Một cái làng phải nói là bí ẩn và khá... quyến rũ.

Làng biệt thự cổ bị bỏ quên ở Hà Nội

Ghi chép của: Phạm Thị Ích Xì

Có một ngôi làng cổ kính, thâm trầm với chập trùng các toà biệt thự kiến trúc Việt - Pháp tuyệt đẹp nằm ngay ở Hà Nội mà hầu như không được ai nhắc đến bao giờ. Những ngôi nhà mà từ hơn nửa thế kỷ hoặc gần một thế kỷ trước, nó vừa mới được trang hoàng khánh thành đã bị... bỏ hoang.

Trên mạng tìm kiếm (ví dụ như Google), các thông tin về “nàng công chúa ngủ trong rừng” này chỉ cung cấp một hai kết quả “trung tính” không nói lên điều gì. Dầu vậy, đều đặn mỗi khóa thực tập, các thế hệ sinh viên kiến trúc, mỹ thuật ở các trường Đại học của Hà Nội vẫn rủ nhau về ngồi chi chít ở các góc làng quyến rũ này để lấy cảm hứng và chọn nguyên mẫu (phong cảnh) sáng tác.

Mỗi lần về làng Cựu (xã Vân Từ, huyện Phú Xuyên, Hà Nội), tôi cũng đều thấy lưu luyến, ngẩn ngơ, “đi thì cũng dở, ở (mãi) cũng chẳng xong”. Bởi, ở bất cứ đâu, nếu có một vài dáng dấp “biệt thự Pháp” ở Sa Pa, Đà Lạt, Mẫu Sơn, Tam Đảo thế này, cũng xứng đáng để du khách trải lòng mình thăm ngắm - huống hồ làng Cựu lại cả một rừng “điền trang thái ấp” của những người giàu có trong “buổi giao thời của lịch sử” (được xây dựng khoảng những năm 1920 cho đến năm 1945) như thế. Nhưng, cái đáng nói hơn, đáng nao lòng hơn ở “làng biệt thự”, lại chính là số phận gợi nhiều ưu tư của những con người đã xây nên “làng nhà Pháp” vừa khánh thành đã bị bỏ quên này.









Làng biệt thự ra đời nhờ... thần lửa

Làng Cựu nổi tiếng từ thời nước ta còn thuộc Pháp (khoảng từ những năm 1910) là làng thợ may “đệ nhất Hà thành”. Buôn vải bán áo, mua một bán mười, họ phục vụ cái việc “trưng diện” cho người Pháp và giới giàu có nói chung ở Hà Nội, với các thương hiệu đến nay còn vang lừng trong ký ức của nhiều người, như “Phúc Mỹ, Phúc Hưng”. Có lẽ cái hiệu Âu Hoá của ông bà Văn Minh trong tiểu thuyết “Số đỏ” nổi tiếng của cố nhà văn Vũ Trọng Phụng, thể nào cũng sử dụng bàn tay đắp điếm, đào tạo hay chính các cây kéo vàng của làng thợ may xã Vân Từ. Họ giàu đến mức nào? Đến mức họ chiếm lĩnh toàn bộ thị trường may mặc ở Hà Nội (có biệt tài may comple), ai cũng có dãy nhà dãy cửa hiệu ở Hà Nội rồi mở rộng thị trường vào tận Sài Gòn - Chợ Lớn. Ai cũng về làng xây biệt thự nguy nga. Tới mức, ông Chu Văn Luận, một nhà buôn giàu khét tiếng ở làng Cựu còn “tài trợ” cho làng mình biến thành khu dân cư ăn chơi nhất nông thôn Việt Nam thế kỷ 20, với mỗi ngõ ngách trong xóm được “cung tiến” một cái cột đèn bê tông, có mỏ neo sắt, treo một cái đèn bão Hoa Kỳ chạy bằng dầu hỏa suốt đêm (kiểu như đèn ngành đường sắt giao cho công nhân xách đi kiểm tra đường ray trong gió bão). Nghĩa là, giữa điệp trùng biệt thự, đường lát đá tảng xanh 3 - 4 hàng song song, ngõ xóm đã được trang bị hệ thống “đèn cao áp” cho đinh tuần suốt đêm đi bảo vệ cư dân làng Cựu giàu có. Họ giàu tới mức nào? Nghe tôi cật vấn mãi, ông Bùi Văn Khánh, 65 tuổi, cháu cụ Phó Du (một người giàu, năm 1919 đã xây một ngôi biệt thự rất đẹp trong làng) bèn “bán” cho tôi một chi tiết khoái chá: “Ông Chu Văn Luận và các thương gia thành đạt của làng tôi còn xây cả một cái trường mang tên cụ Huỳnh Thúc Kháng ở đầu làng, nhằm đào tạo con em cho ra hồn ra kiếp. Xây nhà thương, xây nhà văn hoá. Xây mỗi anh con một cái biệt thự cao tầng, toà ngang dãy dọc, cột đại đăng khoa tiểu đăng khoa lừng lững”.

Giàu đến mức, khi thi công toà nhà của cánh các ông chủ hiệu may nổi tiếng đệ nhất Hà thành Phúc Mỹ, Phúc Hưng, họ bận buôn tàu bán bè, phục vụ áo váy cho ông Tây bà đầm ngoài thủ đô, họ bèn phải chuyển “cục” tiền khổng lồ về gửi ở trên huyện cơ mà. Tức là tiền nhiều, lúc giao thời nhố nhăng, để ở nhà thì sợ cướp, để ở Hà Nội thì xa (bấy giờ đi xe kéo tay hoặc giàu lắm thì có cái xe máy Ju-lếch), họ bèn nhờ “nha quan” với linh canh cẩn mật ở huyện giữ tiền hộ. Cứ hết tiền, người nhà lại lên đó ký với thủ quỹ lấy tiền về thi công tiếp. “Lúc Chính phủ vận động ủng họ tiền vàng cho kháng chiến, nhiều người làng này ủng hộ cả yến vàng ròng. Họ sợ mang tiếng là... giàu nên, bí mật góp tiền thôi. Cụ Phó Du nhà tôi ủng hộ 1kg vàng”, ông Khánh tự hào.

Mà, cứ nhìn vào làng Cựu hôm nay, với các ngõ xóm lát đá xanh sang trọng, với tầng tầng lớp lớp cổng cổ, với ngõ xóm rêu phong, cùng các toà nhà nguy nga bề thế, một không gian “làng phố” cũ càng nước thời gian đã ngót ba vạn sau nghìn ngày trơ gan cùng tuế nguyệt... thì đã đủ biết những người xây nhà hồi thuộc Pháp kia họ đã giàu có đến mức nào. Mô-típ của các thương gia làng Cựu bấy giờ, thường là: bố mẹ mở cửa hiệu nổi tiếng, con cái học trường Tây, ra trường theo gót Chính phủ thuộc địa mà công tác. Thế thì có gì mà họ chẳng giàu. Giàu thì tậu nhà Hà Nội, còn tiền, về xây từ đường hoặc “điền trang thái ấp” ở chốn quê bần hàn xưa, vừa là để mở mày mở mặt với xóm mạc, cũng là để du hí cuối tuần (như mốt làm trang trại của người thành phố ở Việt Nam hiện nay!). Ngôi nhà của cụ Hàn Thăng rộng vài trăm mét vuông, kiến trúc thuần Việt, cột lim, hoành phi câu đối, sân gạch Bát Tràng, xây từ đầu thế kỷ 20, có lẽ là ngôi làng không có “chất” của biệt thự Pháp hiếm hoi của làng Cựu. Còn lại, toàn bộ làng, chỗ nào ta cũng thấy quen quen, như đã gặp đâu đó trong phố cổ Hà Nội, trong các khu nghỉ dưỡng của sỹ quan cao cấp người Pháp ở Đà Lạt hay Tam Đảo, Sa Pa vậy. Còn phải nói, những thương hiệu của “Làng May tây” nổi tiếng như Thuận - Thịnh, Toàn - Thuận Anh, Toàn - Thuận Em, Phúc Hưng, Phúc Mỹ (cũng là 2 anh em ruột)... đã làm nhà bề thế, cầu kỳ tới mức nào. Có nhà thờ... con tôm vắt ngang qua cổng; có nhà làm cầu cong cong như cầu Thê Húc, bắc từ toà nhà nọ sang toà nhà kia, ở giữa là ngõ xóm xanh um hoa trái, các kiến trúc trang trí tuyệt kỹ kiểu như toà lâu đài thời Trung cổ nào đó. Vào làng, hỏi nhà ai, người ta chỉ ngay, nhà “ở cổng có đắp con công”, “trước hiên có con phượng (hoặc con nghê)”; “lối vào có hàng chữ Hán, hai bên đắp đôi câu đối Tàu”..., những cung cách trang trí, kiến trúc đó đã tạo nên thương hiệu cho từng ngôi nhà, từng chi nhánh trong các tộc họ ở làng Cựu. Với bà con, đó là một niềm tự hào lớn, cứ nhắc nhà đắp con tôm hay nhà có bà phượng múa may, đủ biết đó là dòng dõi “phú gia địch quốc” nào.

Hai bên làng hai cái cổng cao vót, có cánh đóng mở, có trương tuần cai quản đêm ngày, có ngõ lát đá tảng xanh ba hàng dọc song song bóng nhẫy, vuông vức, lối xóm đều có cột đèn dầu hoả treo trên cao sang trọng..., bên trong là một “thế giới biệt thự” trăm hồng ngàn tía - phải nói, làng Cựu là một di sản “vô danh” mà kỳ thú, rất đáng để chiêm ngưỡng, trải nghiệm.

Khối làng ở đất nước này có người giàu, ai giàu chả muốn về làng “vinh quy bái tổ”, mở mày mở mặt đóng góp cho sự đi lên của quê hương, thế sao chỉ riêng làng Cựu này là sự giàu lên của “những người thợ may Tây” lại đồng nghĩa với việc ra đời thế giới kiến trúc buổi giao thời đầy thú vị mang tên “làng biệt thự Pháp”? Câu hỏi hóc búa, khiến các bô lão nhàn tản bên các thớt đá xanh trong ngôi làng cổ suy tư một cách lạ lạ. Cuối cùng, cụ Trần Văn Côn - tròm trèm thất thập lại có thói ham tìm hiểu chuyện quê xưa - đưa ra một nhận định khiến các cụ gật gù tán thưởng: trước, làng này bị Tây nó đốt cháy trụi. Ruộng ít, không có nghề phụ, lại đông con, thế là các cụ tá hoả “đẩy” con đi kiếm kế sinh nhai tứ tán. Ví như nhà ông Phúc Mỹ - Phúc Hưng sau này quá nổi tiếng, có 5 anh em, bố mẹ họ đặt toàn những cái tên cũ xấu xí gắn với các con vật cho dễ nuôi, gồm: Hươu (cả Hồng), Nai (Phúc Mỹ), Cừu (Phúc Hưng), Cáo (Bùi Văn Cao, sau này tự đổi Cáo thành Cao là xong). Đàn con Hươu, Nai, Cừu, Cáo của hai người nông dân ít ruộng, nghèo khó, bị cháy nhà đã được bố mẹ rứt ruột quyết tâm cho ra đi tìm con đường sáng. Mỗi người nhận 10kg gạo và mấy đồng tiền, bố mẹ thả đi bộ ra khỏi làng vào Hà thành mà lặn ngụp với đời. Thế là họ ra đi và thành những ông chủ nổi tiếng, cứ là giàu nứt đố đổ vách. Họ trở về, xây dựng nhà cửa lại từ những bãi đất bên bờ các ao chuôm trống hoác. “Coi như thần lửa đã san ủi, giải phóng mặt bằng cho các ngôi nhà Tây đẹp rờ rỡ hai ba tầng của quê tôi mọc lên từ cuối những năm 1910 cho đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945”, ông Côn sắc sảo ví von. “Thế là một cái làng Tây giữa đồng trũng Phú Xuyên chúng tôi ra đời, chúng tôi giàu nhất khu vực này, nhưng rồi…”, ông Dương Văn Chức, 77 tuổi tự hào và... buồn bã.

Các “điền trang thái ấp” vừa ra đời đã bị... lãng quên

Nhưng rồi…
Một ngôi làng cổ bị lãng quên thật sự, quá nhiều biệt thự tuyệt đẹp không có người ở. Dường như sự hoang phế kia dẫu buồn song cũng có vẻ đẹp u hoài riêng của nó. Chúng tôi lạc trong cái không gian làng buổi giao thời, buổi người Pháp còn tung hoành đau thương trên đất nước ta. Một khu làng cổ đẹp, nhưng có lẽ nó đẹp như thế mà không bị phá tan hoang, cải tạo cơi nói để mai một từng ngày như các làng du lịch đông đúc Đường Lâm, hay Cự Đà (cùng ở vùng Hà Tây cũ như làng Cựu)…, là bởi vì nó được “bỏ quên”. Không có người ở, không có hơi người và bàn tay chăm sóc của người thì nhà gỗ nhà tranh sẽ hỏng ngay. Nhưng các toà biệt thự kiểu Pháp bằng bê tông và vật liệu kiên cố kia thì lại khác. Đôi khi, không có người ở lại có nghĩa là sẽ dễ gợi về xa cũ hơn, tức là rêu mốc và “hoang vu” hơn; cũng tức là không bị bàn tay vụng về của người ít học tàn phá, cải tạo để phục vụ cuộc sống trước mắt hơn. Cho nên, dường như bởi tại thế mà làng Cựu vẫn “niêm phong”, “để trong tủ đá” được toàn bộ các giá trị kiến trúc và hơi thở của lúc nó ra đời, của buổi giao thời có nhiều chuyện để nói (khoảng từ năm 1925 đến 1945). Một không gian thuần khiết của “thời buổi lạ lùng”.

Lại một câu hỏi nữa của tôi dành cho các bô lão làng Cựu, sao cha ông họ xây cái làng này rồi lại cứ bỏ hoang lãng phí như thế này? Cả nước có nhẽ không có cái làng nào lạ như cái làng biệt thự xã Vân Từ. Đụng đến cái mạch của lòng tự hào ngấm ngầm bấy lâu trong mình, các bô lão làng Cựu hôm nay bắt đầu ngồi thống kê những ngôi nhà giàu nứt đố đổ vách, những tòa ngang dãy dọc đẹp như điền trang thái ấp của các hầu tước Âu châu thời cũ đang “ngự” trong làng Cựu. Nhà cụ Phó Du, làm năm 1929, bây giờ ông Bùi Văn Khánh đang ở, trước cổng nhà có đắp hình con tôm rất đẹp. “Lúc nhà nước vận động ủng hộ kháng chiến, cụ Phó Du (Nguyễn Ngọc Du) giúp nước cả ký lô vàng ròng”, ông Khánh tự hào. Cũng xây dựng cuối những năm 1920, “dinh thự” tại làng Cựu của ông Xã Vình, một nhà buôn gỗ lạt giàu có ở Thủ đô hồi trước cách mạng Tháng Tám (có con cháu vẫn ở phố Hàng Trống, Hà Nội hiện nay) đẹp một cách cầu kỳ nhất. Nhà cao, rộng, cột lớn, lối ngõ thênh thang lát đá tảng xanh, hai tòa nhà ở hai bên tả hữu của ngõ được nối với nhau bằng cái cầu bê tông cong cong, trang trí theo lối kiến trúc Pháp - Việt cầu kỳ. Các “linh vật” được đắp tạc dọc cổng và cầu bê tông trên cao, ven các hành lang, các tòa nhà rất công phu. Tòa “biệt thự” được coi là khổng lồ nhất ở làng Cựu, lại do ông Chu Văn Luận, một cư dân của làng làm nghề kinh doanh các lò vôi, đồn điền vùng phía Nam Hà Nội đầu tư, thiết kế. Sau khi hiến khắp làng, mỗi lối ngõ một vài cây cột bê tông, có móc cong treo đèn Hoa Kỳ thắp bằng dầu hỏa suốt đêm, sau khi lát ngõ xóm bằng đá tảng như một cách “tạ ơn” nơi chôn nhau cắt rốn, ông Luận giàu có quyết định xây một tòa nhà khổng lồ, làm trường học, chắp cánh ước mơ cho con em làng Cựu tiếp tục giỏi giang…. cống hiến cho chính phru thuộc địa đương thời. Trường xây xong, vật liệu thừa, xây thêm cái nhà mẫu giáo, cái trạm xá. Khu nhà sau bỏ hoang, sau cách mạng xã tận dụng làm trường học, làm trụ sở ủy ban, làm nhà mẫu giáo, và hiện nay, “dinh thự” bị bỏ hoang bề thế ngay đầu làng, khiến ai đi qua cũng phải trầm trồ ngạc nhiên hoặc dừng lại rồi ngỡ ngàng… chụp ảnh. Những ngôi nhà nền cao, sân thấp, kiến trúc trong nhà lớp lang, gác trong gác ngoài, bếp ngõ, sân chơi thênh thang, tổng thể rộng 800m2 khá nhiều ở làng Cựu. Ngôi nhà cổ nhất trong số các biệt thự theo phong cách Pháp Việt giao du ở làng Cựu, là nhà của cụ Tuần, nhà to, không cầu kỳ, được làm năm 1925. Đẹp nhất vẫn là nhà của cụ Hàn Thăng, người có nhiều con cháu làm trong chế độ cũ từ thời thuộc Pháp cho đến chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (đều ở cấp khá “to tát”). Đó là một tòa biệt thự mang dáng dấp đại quan, mái cổ, cửa bức bàn, cột gỗ to lim, nền nhà tôn cao, sân thấp mà rộng bát ngát, tòa ngang dãy dọc như ở chốn “tam cung lục viện”.

Đến mức, sau này, nhiều người giàu có xây biệt thự trong làng bị quy địa chủ, nhà của “đại quan”, “đại địa chủ” bị “chia cắt”, nhiều người bị thu hoặc tự nguyện hiến nhà cho nhà nước - các “tòa nhà Pháp” được “xẻ” ra, chia cho các nông hộ, vì ngại ở nhà to quá, bà con bèn phá rỡ các biệt thư cao tầng ra lấy vật liệu xây được rất nhiều ngôi nhà! Cột đèn mới bị rỡ bỏ gần đây, các ngõ xóm lát đá tảng cũng bị bóc lên, với các lý do là nó xóc nảy cho xe cơ giới, nó trơn trụi dễ ngã vào mùa mưa, nó nhớp nháp hơn đường rải bê tông đồng loạt. Đình cũng bị rỡ, các chân cột khổng lồ nằm la liệt, bóng nhẫy đá xanh cũ ở gốc cây đề cổ thụ đầu làng. Một cái cổng làng cao ngất, có cửa đóng mở, có khu vực điếm canh cho trương tuần đi canh gác nghỉ chân cũng bị… phá tan năm 1977, giờ chỉ còn một anh người làng Cựu có ở gần vị trí cổng cũ là giữ được “di ảnh”. Phom cổng đối diện nay vẫn còn. Tóm lại là, sau bao nhiêu dâu bể của chừng 80 năm chiến tranh, giao thời, cải cách, xây mới, kiến thiết lại, các kiến trúc Pháp ở làng biệt thự xã Vân Từ đã bớt đẹp đi rất nhiều. Nhiều ngôi nhà hoang phế, nhiều nhà bị rỡ, bị bịt lối ngõ, bị chia năm xẻ bảy cho các chủ nhân khác nhau (nhà quá rộng). Thậm chí, làng bị quên lãng đến mức, vừa rồi người ta bán những biệt thự này với giá vô cùng “mềm”, khoảng hơn 300 triệu/ ngôi, khiến người từng mê đắm làng Cựu cảm thấy xót xa. Bà con người làng cũng cảm thấy rất là ưu thời, tiếc nuối.

Làng Cựu đẹp đến nỗi, sau hơn nửa thế kỷ bị bỏ đó (rất nhiều ngôi nhà không có người ở), bị mai một đủ cách, trong đó có cả sự hắt hủi do cách nghĩ chưa “đến” của một thời “tẩy chay cái cũ”; nhưng, các kiến trúc còn sót lại của “làng biệt thự” hôm nay vẫn cứ đẹp.

Trở lại câu chuyện với làng Cựu và các bậc túc nho của làng đang nói về lý do tại sao “thế giới biệt thự bị bỏ quên”. Không có ai bỏ quên cả, nó chỉ rêu mốc và hoang phế như vậy thôi. Nhà nào cũng cửa đóng then cài, dù mỗi tuần có người vẫn dọn dẹp. Nhà nào cũng tuềnh toàng như chủ nhân bỏ đi từ nảo nào, nhưng hằng ngày họ vẫn ở đấy, chỉ có điều nhà năm tòa bảy lớp, họ chỉ ở một góc thôi, các góc còn lại cho mưa gió dập vùi. Ngay từ hồi xây dựng, cách đây gần 100 năm, hầu hết các ông chủ đều tính: nếu thất thế mới về làng vui thú điền viên, nhược bằng đời còn phù hộ làm ăn phát đạt thì dĩ nhiên họ sẽ cứ ở Thủ đô làm nghề may comple với lại váy đầm cho ông Tây và những người “ra nhập làng Tây”, con cái tiếp tục phát mả làm anh ký anh thông hoặc cu ly long tong cho Chính phủ thuộc địa. Các tòa biệt thự khang trang ở làng Cựu bị cháy nghèo khổ xưa, với họ, chỉ như nhà thờ, như cái cõi để nhớ về buổi bần hàn, để họ có “nhà nghỉ cuối tuần” nơi thôn ổ mà thôi. Bấy giờ, nhiều người có xe tay riêng, có phu kéo riêng, như xe hơi có lái xe riêng bây giờ vậy. Nhưng, mọi chuyện bắt đầu từ cái thở dài và ba chữ “buổi giao thời”. Bấy giờ, “ra nhập làng Tây”, nhiều người cung phụng Chính phủ Thuộc địa, thân Pháp, phục vụ áo xống cho người Pháp, con cái học trường Tây, làm việc với Tây, cách mạng nổ ra, nhiều người cũng…tút sang Tây. Không phả ai cũng “ra đi” cả, nhưng đúng là làng Cựu có số người ở Mỹ, Pháp, Canada…, nhiều đến kỷ lục. Đấy là chưa kể một xê-ri những nhân vật tăm tiếng trong chính quyền Sài Gòn cũ. Nghĩa là họ phất lên nhờ buổi giao thời, có ngôi nhà hoành tráng đang xây, mới hoàn thiện tầng 2, thì chiến tranh nổ ra, vĩnh viễn ngôi nhà dở dang ở đó; nghĩa là, họ quên cái làng mình từng chăm chút các ngôi biệt thự đẹp kia, cũng vì ba chữ “buổi giao thời”. Chiến tranh nổ ra. Sau cách mạng Tháng Tám, lại đánh Pháp, lại cải cách ruộng đất, lại có cuộc di tản của nhiều người thân với ngoại bang năm 1975. Mấy mươi năm, nhiều “thương gia nổi tiếng” của làng Cựu cùng thân nhân của họ chao đảo, đáng cảm thông hay đáng phê phán, chuyện đó hãy để lịch sử phán xét; nhưng có một sự thật hiển hiện, ai cũng tỏ tường: những ngôi biệt thự đã vì sự suy vi, lao đao của chủ nhân mà ngày càng hoang phế. Nói khác đi, làng biệt thự đã bị bỏ hoang ngay khi đang xây dựng dở dang, đang trưng diện kiến thiết dở dang, hoặc mới vừa trang hoàng “đưa vào sử dụng” được ít năm. Nhiều người yêu nước, tặng nhiều tiền cho Chính phủ hồi kháng chiến khó khăn, họ vẫn ở Hà Nội, vẫn không ở trong các biệt thự của mình giữa làng. Họ coi đó như từ đường, vẫn coi sóc từ… xa, hoặc cho họ hàng ở nhờ quét tước, hoặc hiến một phần cho cách mạng. Họ không bán vì họ không thiếu tiền. Vì không ai bán từ đường. Cũng có khi, nhà đông anh em, người muốn bán người không muốn bán, thành thử chẳng ai dám mua. Thực tế, vì nhiều lý do khách quan, nhu cầu mua biệt thự cũ kiểu này, ở cái làng đặc biệt như làng Cựu cũng rất ít. Vừa rồi xã bán vài ngôi cho người Hà Nội về, nhưng giá rất “bèo”, vì cái giá rẻ đó, nên các gia đình càng không có ý định bán.

Cần phải nhắc lại, đó cũng là các lý do để kiến trúc lạ của làng Cựu không bị tàn phá, mai một như các làng đẹp đang được tôn vinh quá mức khác, như Cự Đà, Đường Lâm.

Giống như một thành phố bị chôn vùi trong băng tuyết, bị hóa thạch sau thảm họa núi lửa rồi một ngày người ta “khai quật” ra nọ, làng Cựu với các kiến trúc biệt thự kiểu Pháp kia đã bị chìm vào quên lãng, quên mãi cho đến gần đây. Gần đây có các họa sỹ, các tay chơi ảnh và ham khám phá như chúng tôi đã tình cờ dạo qua, các sinh viên Đại học mỹ thuật vượt sông Hồng từ Hưng Yên sang ngồi vẽ, thế rồi tất cả cùng say mê, đều đặn, mỗi kỳ thực tập người của trường Mỹ thuật Đông Dương (tên gọi xưa của Học viện Mỹ thuật Việt Nam) lại lang bang về làng Cựu. Họ thăm ngắm, họ đằm mình ở từng lối ngõ, góc uốn khúc của các tòa biệt thự, họ ngồi và vẽ. Nhiều người ưa du lịch hoài cổ, trải nghiệm lịch sử và kiến trúc, bỗng dưng giật mình gặp một “nàng công chúa ngủ trong rừng” với số phận long đong kỳ lạ trập trùng “nhà cổ” như làng Cựu.

Những kiến trúc phủ rêu phong, mơ màng thôn ổ mà cũng không kém phần… quý tộc ở làng biệt thự xã Vân Từ luôn khiến người ta cảm hoài, xao xuyến về về một không gian đẹp. Một cái làng có nhiều chuyện để xúc cảm, các khu điền trang thái ấp hầu như bị bỏ quên ngay từ khi mới khánh thành hoặc chưa kịp khánh thành đó nó khiến ta nghĩ nhiều về những thân phận người đặc biệt ở “buổi giao thời” quá nhiều sự kiện không thể nào quên... Đến làng Cựu, để ngẫm nhiều hơn về những điều không chỉ gói gọn trong cái làng vùng chiêm trũng ấy. Hóa ra, với làng biệt thự kia, việc bị lãng quên, nó cũng có cái giá trị tích cực riêng của nó. Nếu tôn vinh xứng tầm được cho di sản kiến trúc và những câu chuyện lịch sử đáng nói ở làng Cựu, có lẽ, không chỉ chúng ta, mà cả những chủ nhân bỏ tiền xây dựng “làng biệt thự” kia cũng sẽ cảm thấy mát lòng mát dạ, sẽ được ngậm cười ở nơi xa xôi đó. Cái gì của lịch sử, xin cứ mạnh dạn trả nó về cho lịch sử.

(het)

Kèm chùm ảnh hơn 20 chiếc.

Các gương mặt người trong ảnh, chú thích như sau:

"Những người già ở làng Cựu đều băn khoăn hoài niệm về số phận của những ngôi biệt thự và những con người đã xây "làng nhà Pháp" trong buổi giao thời, khoảng từ năm 1915 đến 1945".


Các ảnh kiến trúc nhà, ngõ xóm, làng quê chú thích như sau:

Các kiến trúc nhà kiểu Pháp, các phom cổng và họa tiết trang trí cổ, các lối ngõ lát gạch và đá xanh ở làng Cựu, xã Vân Từ (Hà Nội).


February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28