Người đàn bà khóc qua ba thế kỷ...
Thursday, October 21, 2010 3:21:58 AM
Người đàn bà khóc qua ba thế kỷ
Có hai điều không lẫn vào đâu được để người xóm Mộc heo hút của xã Minh Quang, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây nhớ nhiều về mế già Nguyễn Thị Ít. Thứ nhất, mẹ là Mẹ Việt Nam anh hùng, con gái mẹ là Nguyễn Thị Lượng từng đi mót lúa cóp tiền gửi Bác Hồ, từmg chở đò đưa quân và lương thảo qua sông phục vụ kháng chiến được đích thân Bác Hồ gửi thư khen ngợi (rồi chị hy sinh năm 20 tuổi). Thứ hai, xuân 2002 này, mẹ ít đã bước sang tuổi 109, mẹ đã nghèo khổ nheo nhóc sống trọn vẹn thế kỷ 20, sống vắt qua 3 thế kỷ. Nhưng, cuộc đời kỳ lạ của mẹ ám ảnh tôi hơn là bởi vì những giọt nước mắt, nước mắt của nỗi khổ qua hơn một thế kỷ lăn lóc ấy nó đắng đót, gặn chắt khía vào nhân tình hơn nước mắt của người đời...
Tám lần nuôi con, mẹ vẫn ở một mình
Tôi biết đến mẹ Ít trong một lần leo lên đỉnh non Tản theo dấu Những ngôi đền trên non Tản (núi Ba Vì). Theo sách cổ và các huyền tích dân gian thì đền tháp trên ấy nguy nga lắm, tháp cao đến 12 tầng, bao nhiêu vua chúa ham du khảo đều bị những ngọn gió thiêng thổi tới lấp đường lên hoặc che mất lối về. Mây núi tứ thời thắt cổ bồng trắng như những lọn lụa sốp vắt chùng chình lan man dọc ba đỉnh núi. Ba Vì là núi mẹ của tất tật cái thế đất trời Nam này; là núi Tổ, núi gắn liền với truyền thuyết Sơn Tinh-Thuỷ Tinh, trong công cuộc trị thuỷ của dân tộc và cuộc chiến giành lại công chúa Ngọc Hoa của hai vị thần “kẻ tám lạng người nửa cân” trong cả sự đa tỉnh lần sức mạnh chiến thắng (nhất là bây giờ lũ lụt nhiều nữa). Hôm ấy, anh Minh và anh Long, cán bộ văn hóa xã Minh Quang dẫn đường cho chúng tôi. Còn nhớ, hai anh là anh em đồng hao, cùng là rể của một ông trưởng bản... Đến đận nghỉ chân ở dòng thác Mơ, nơi mà cố nhạc sỹ Văn Cao (nghe đồn là) đã ngồi đó mà ngẫu hứng làm nên bài "Suối Mơ" bên rừng thu vắng kinh điển ấy, thì tôi nghe kể về mẹ Ít, bấy giờ mẹ đã ở tuổi 107. Trong khi đền Trung (nằm ở lưng chừng non Tản, rất hoang phế và kỳ thú, leo núi bằng chân mất độ vài tiếng đồng hồ thì đến) đang bị thâu tóm bởi mấy ông đồng cốt đấu thầu chia của rồi thừa đâu chạy đi mua gạch hoa lát cả vào gian giữa nhà Đền thì người ta cũng tiến hành dựng lại Đền Hạ. Đền Hạ vốn là một đống gạch vụn, trước khi có bàn tay của mẹ ít và dân làng Mộc hùn sức dựng lên. Khi tu bổ, có phần việc cơ bản phải nhờ vào sức già hơn 100 tuổi của mẹ Ít, đó là khi người ta cần có người lên xin Thánh ngài cho bộ ngai cũ đang vứt lăn lóc bên những hạng mục lở lói về để lắp vào đền Hạ (thì vẫn là để thờ chính ngài chứ ai vào đấy nữa). Sau khi thận trọng cho hai trai tráng hộ tống cụ, các cán bộ xã vẫn cứ van xin, cụ thương chúng con, nhỡ gió máy sa xẩy gì cụ lăn đùng ra đấy thì khổ cụ mà khổ cả chúng con; nhưng bản hội đã quyết, mà mẹ cũng muốn leo...
Nhưng, không ai ngờ được rằng, mẹ Ít lại còn đi nhanh hơn, khoẻ hơn cả những người trẻ, người ta càng tin rằng, mẹ Ít là người nhà Thánh từ những lần như thế. Mẹ mặc áo gấm, mắt đục lờ như một cùi nhãn khô nhìn vời vợi lên trùng trùng mây vắt lưng chừng non Tản, lưng mẹ còng gập, người mẹ còn một dúm, thế mà mẹ đi thoăn thoắt, còn ngoái lại bảo cánh trẻ: “các anh cứ đi thong thả, tôi lên với nhà Thánh kệ tôi...”. Anh Minh bảo, tôi cũng đứng tuổi rồi, cả đời ngửa cổ nhìn mây non Tản, thế mà thấy có hai chuyện lạ nhất. Thứ nhất là chuyện mẹ It leo đền Trung, thứ hai là hôm có một ông Tây mắt xanh mũi lõ, người trắng hồng, đội mấy bao xi măng lên tận đền Trung cung tiến tu sửa Đền...
Quả thật, đến những ngày này mẹ vẫn rất khỏe, 109 tuổi, mẹ vẫn gánh cả hai thùng nước, vẫn còn hầu như nguyên vẹn hàm răng đen nhánh, giọng nói sang sảng, kể chuyện đâu ra đấy, đậm đặc văn phong của người bến Mộc. Sức khoẻ ấy kể cũng là kỳ lạ. Một đời mẹ nghèo và khổ đến thế, tưởng như đã kiệt cùng rồi. Vậy mà... Hồi trẻ đói khát, vợ chồng bỏ làng vào làm thuê ở rừng cao su miền Nam kiếm ăn. Cao su đi dễ khó về cao su bủng beo ở đâu chả biết, ông bà vẫn trai trẻ về làng, đẻ một đàn con. Bao nhiêu đói rét, bệnh tật ở cái góc rừng heo hút ấy đã tràn qua tấm thân “suốt đời gầy nhẳng” của mẹ. Đến nay chỉ có tai mẹ hơi nằng nặng, thế thôi, tất cả vẫn khoẻ. Hỏi: “Mẹ ăn uống thế nào mà sống thọ thế ạ?”. Mẹ lại làm một câu ngoài mấu đòn gánh: “Nhà bác bảo tôi sống lâu thì sướng à? Sống già thành tinh đấy, sống lâu như tôi là giời đày đấy, tám lần chửa, tám lần sinh mà không phải sa sẩy gì. Cứ sa sẩy từ ngày đỏ hon hỏn, không tường mặt con đi cho đành một nhẽ. Đằng này, cứ nuôi lơn lớn rồi chúng nó chết hết. Tôi cầu cho tôi chết mà không được, ông giời ông ấy đày. Tôi khổ với nhà nó hơn 100 năm nay rồi. Sáu bảy đêm nay tôi không ngủ tý nào rồi, cứ nằm nghĩ chuyện lan man, chả đến đầu đến mấu gì cả...”. Mẹ thở dài, nghễnh ngãng thế mà mẹ nói chuyện hay lắm, chính xác từng chữ, ngày tháng rõ ràng. Chỉ có điều, cả cuốn băng ghi âm của chúng tôi hầu như câu nào cũng bắt đầu bằng hai chữ “Bấy giờ”. Tất cả với mẹ đã quá xa xôi, mẹ ở lại một mình quá đơn độc. Những gì thân thương níu giữ mẹ nhất, hầu như là ở cả những cái ngày xa xưa quây quần ấy.
Hai lần mẹ cưới vợ cho chồng mình, những tưởng mình đã hoá đá, “tôi khổ bằng ấy rồi mà bây giờ vẫn khổ. Tôi không còn mầm mống gì ở đời; tôi khổ cả trăm năm rồi, thế mà tôi còn chịu được, bây giờ già, sống nay chết mai, đời nó đối xử thế nào thì cũng mặc kệ chứ có thiết tha gì...". Mẹ kể về những người con đã ra đi vội vàng của mình trong dòng nước mắt tắc nghẹn, đôi mắt nhăn lại chỉ còn là tin hin, tưởng như không nhìn thấy gì nữa; nhưng mà qua ngấn nước đục lờ như vương một lọn mây châm khói tít đỉnh Tiểu Đồng kia, mẹ vẫn nhận ra tôi từ lần gặp trước đó 3 năm. “Anh hỏi bao nhiêu chuyện, tôi chỉ biết kể thật thôi, chứ tôi có còn giữ được văn bản giấy tờ gì đâu, ngày con Lượng nó chết, nó ngoan quá, lại mới vừa 20 tuổi (chị Lượng cũng là một Mẹ Việt Nam anh hùng, chuyện sẽ được kể ở phần sau), tôi đau quá, tôi đốt hết cả nhà cửa giấy tờ, làng bản người ta bảo tôi hoá điên. Thế mà rồi cũng phải tỉnh, có điên mãi được đâu...".
..."Năm ấy tôi còn ở bên Đề Thám, bên kia sông Đà (đất Phú Thọ, tên một căn cứ chiến khu xưa), một năm tôi chết mất 4 thằng con trai. Mà chúng nó chết như đùa ấy, bác ạ. Một thằng đã nuôi đến năm 26 tuổi, thế mà nó nói ngọng có 3 ngày rồi chết; đứa thứ hai 20 tuổi, cũng chỉ đau bụng một lúc rồi "đi"; một thằng nữa 18 tuổi, chạy nhanh như con hoẵng, ấy thế mà sốt rét đúng một ngày, nó bảo con nhìn cái gì cũng xoay tròn tròn, nó nhắm mắt dần rồi ôm chặt lấy tôi "đi rất bất ngờ". Lạ nhất là thằng 12 tuổi, nó đương chạy đi chơi, nhảy khắp xóm nhắm mắt lao tùm xuống dòng sông Đà, thế mà nó mò mẫm về nhà giữa buổi trưa, nó nói khe khẽ "con đau đầu quá", mẹ ơi. Tôi mới bảo con vào nằm đi, để mẹ đi lấy lá về cho con uống, tôi vừa ra đến cổng thì thấy nó giãy chết, chả biết tại thế nào mà nó chết. Đàn con gái cũng vậy, đứa chết khi lên 5, đứa lên 8, đứa 20, chúng nó chết tất... Tôi lấy vợ cho ông ấy, bảo rằng để ông đẻ con sau này tôi dựa vào con ông, bây giờ tôi chả còn mầm mống gì nữa. Thế mà ông ấy, bà ấy và các con của tôi đã đi cả rồi. Vẫn chỉ một mình tôi. Ngày ấy dịch bệnh, đói khát, người ta chết hàng đàn hàng đống nhưng sao mà tôi không chết...".
Khổ với nhà nó gần 100 năm rồi, giờ tôi vẫn khổ
Có duy nhất quãng đời hơn 10 năm từ lúc đẻ ra đến lúc lấy chồng (từ ở thế kỷ thứ 19) của mẹ là có vẻ thanh thản, vô tư con gái miền sơn cước một tý. Cách Hà Nội chưa đầy 100 cây số, nhưng quả thật, cách đây 3 năm, chúng tôi vào thăm mẹ, vẫn cứ phải vác xe máy qua những khu rừng vắng lổn nhổn đá mẹ đá con, đá nằm chổng kềnh ra cả những bờ ruộng nhôm nhoam ít màu đất thịt. Nhà mẹ ở sau dốc Sổ, phía trong xóm Sổ, con dốc cao vòi vọi trong tiếng thông reo, núi xổ ra đổ dộc người ta xuống. Nhưng đó không phải là cái nét xổ của người viết bút lông mèo, nét xổ cương trực vun vút thẳng, dốc Sổ ngoằn ngoèo trắc trở. Người Minh Quang giờ vẫn khó khăn vì những con dốc hù người như thế, những con đường chạy bên nách dòng Đà giang độc bắc lưu. Đến nay, tất nhiên, cho dù đường đã được rải nhựa, xe chạy một lèo. Đường thông, cũng là lúc núi Chẹ, cái nôi của những đàn khỉ đông và đẹp nhất xứ Bắc này giờ cũng bị nổ mìn phá đá tan hoang, tất nhiên tiếng loé choé truyền cành của đàn khỉ, cái linh thiêng của mỏm Hàm rồng, hơi lạnh bí ẩn của dòng sông ngầm trong khe núi Chẹ cũng chỉ còn trong hoài niệm.
Mẹ khổ, ban đầu là khổ vì ông ấy. Vợ chồng lang bạt vào trời Nam, rồi trở về bến đò Mộc, ông chèo đò chở khách qua sông, nghêu ngao câu hát, rượu chè, cờ bạc và không loại trừ cả giai gái! Có một nỗi uất hận sau những khát vọng bị cùn mòn vì nỗi đời của ông. Mẹ Ít rất kiệm lời mỗi khi nhắc về ông: “... ông ấy mất năm 1972, năm ấy ông mới 73 tuổi. Còn kém tôi mấy tuổi cơ mà!”. Chỉ có thế, ký ức về cuộc tình duyên không suôn sẻ này còn in đậm trong những người hàng xóm, một bà kể: “Trước nhà tôi ở bến đò, ông ấy chèo đò đưa khách qua sông, ngày nào tôi chả gặp ông ấy, ông nhỏ thó, râu dài, thưa và trắng như cước. Ông ấy chết, có người bảo vì quá uất ức sau những trận thua bạc...”. Chính mẹ Ít cũng bảo, hai lần mẹ đi hỏi vợ cho ông ấy, mẹ cũng chả thiết tha gì lắm; nhưng có ông Thọ ông ấy phụ trách cái bến đò Mộc dưới này, ông ấy bảo, thôi cứ cho ông ấy lấy vợ bé đi, bướng là không xong đâu. Hai nữa, ông ấy cứ nghĩ ra trò rượu chè, cứ sinh sự để đánh mẹ, đòi được đi lấy vợ. Mẹ không ưa gì mấy bà kia, nhưng ông ấy đã phải lòng bà ấy rồi.
“Tôi toan không đi (hỏi vợ) nhưng ông ấy đánh, đánh mãi; mà ông ấy với cái nhà bà ấy cũng đã muốn nhau lắm rồi. Ông chở đò ở dưới bến Mộc, bà ấy thì chạy chợ tập tàng loăng quăng. Bà đầu tiên, tôi đã phải mất 128.000 đồng, thế mà có lấy được đâu. Bà ấy bỏ cái nhà anh ấy lâu lắm rồi, dững tưởng thế thì mình hỏi cho ông ấy, ai ngờ tôi đã làm mấy mâm cơm mời hàng xóm đến ăn để có nhời; cái nhà anh ấy lại xông sang đòi vợ lại... Thế là thôi. Ông lấy bà sau này cũng ở bên sông phải cái hay bị động kinh cứ lên cơn là lăn đùng ra đất, bà ấy sinh được 4 người con. Chính tôi cũng vừa làm cải cát cho bà ấy năm ngoái. Tôi vẫn ở một mình anh ạ!”.
Thêm một mùa xuân nữa đằng sau cái “ba vạn sáu nghìn ngày” lầm lụi và kiên trinh của mẹ. Mẹ sống trong căn nhà tình nghĩa rộng, mà không có bếp, ky cóp mãi xây được cái bếp nhỏ. Chưa bao giờ tôi lội vào một cái cổng thụt nước và trơn truội đến vậy, xung quanh nhà là chuồng lợn chuồng gà, các loại chuồng nhớp nháp, không có bờ be gì hết; chúng chỉ là những khoảnh đất được quây cọc gỗ lưa thưa bốc mùi. Đấy cũng không phải là những vật nuôi của mẹ. . Tôi tình cờ phát hiện ra điều này sau khi để ý thấy trong căn nhà nhỏ treo đến hai cái bằng Gia đình văn hoá, một của mẹ Ít, một của chủ hộ Nguyễn Văn Thình. Vậy là có hai gia đình sống trong một căn nhà tình nghĩa. Lợn gà, đồ đạc phần nhiều là của vợ chồng con cái anh Thình, anh Thình là con bà vợ lẽ của ông (chồng mẹ Ít). Các con ông, mẹ cũng chăm bẵm bú mớm cho như con đẻ của mình, sau này mấy anh mẹ còn đi xin việc cho, giờ ở cái đội giồng cây (lâm sinh) làm ăn khấm khá lắm. Hàng xóm bảo, mẹ Ít là người kỹ tính. Có thể mẹ nói hơi nặng lời, mẹ bảo: “Nó chiếm nhà của tôi, hai ngăn tủ của tôi nó đựng hết, quần áo tôi treo vật vạ khắp căn buồng này!”. Anh Thình, vợ và hai con đã bán nhà mình ở xóm dưới định bụng đi Nam làm ăn, sau đánh đề thất thố, mới đành chuyển ra ở với mẹ Ít. Thực tế thì, mẹ già, cũng cần có người ở cạnh chăm nom. Tuy nhiên, mẹ trách vợ chồng anh lắm. Mẹ đã đẵn bốn mươi cây xoan trong vườn nhà mình, nhờ xóm mạc cất nhà cho anh Thình ở, thế mà anh “phá phách mất cả”. Trách nhất là bây giờ về ở ké ở đây, anh còn phá hết vườn tược của mẹ, phá rồi cứ để nó sủm lên cỏ rả bao nhiêu. Nhìn nó ngứa mắt mẹ lại phải ra làm lụng. Mà những bức ảnh tôi chụp cụ tẽ ngô, sâu kim, cắm chỉ, không phải là bố trí gì đâu, mẹ vẫn làm được những công việc ấy bằng thật, làm việc hằng ngày.
Nhưng không hiểu, anh Thình và chúng ta nên giải thích thế nào về việc hằng ngày mẹ vẫn ăn riêng, một mình một nồi – trong khi nhà ấy anh không hề neo đơn tý nào với 4 khẩu, đứa bé nhất cũng đã 15 tuổi! Vậy là mẹ Ít không hài lòng cho anh ở chung? Do mẹ khó tính hay do vợ chồng anh ăn ở không phải thì nỗi khổ đau của mẹ cũng vẫn thế. Một mình một niêu, băng ghi âm của chúng tôi có đoạn ầng ậng nước mắt: “Sáu, bảy đêm nay tôi không ngủ tý nào. Tôi nấu cơm một lần ăn cả ngày. Cũng có hôm tôi mua thức ăn, có hôm ăn muối trắng, nhưng phần nhiều là ăn muối. Mà ăn cơm nó cứ nghèn nghẹn, nhiều ngày chỉ ăn có bữa thôi”. “Cụ thích ăn gì bây giờ?”. Lại một câu ngoài mấu đòn gánh: “Mà tôi thì tôi tự xét trong người tôi thấy không có bệnh tật gì, răng tôi còn nguyên, chỉ có cái đầu nó hay đau từ đỉnh thốc xuống, làm điếc cả tai. Bác cứ nói to lên, thì chả phải lo gì nữa. Thế nhà bác quê ở đâu? Ơ, Hà Nội thì mai bác sửa hộ tôi cái tai nghe nhé. Cái tai này Nhà nước cho tôi, cái thằng phải gió ở bên này nó lại ăn trộm mất, xin mãi nó mới trả, nó nghịch hỏng mất rồi. Tôi nhờ thằng cháu đem về Sơn Tây sửa, nhưng mấy tháng nay chả thấy nó đem trả. Hàng xóm bảo tôi xin Nhà nước cái khác, tôi bảo: “Nhà nước người ta còn bao nhiêu triệu triệu người, chứ mình gì tôi. Mà tôi không đi khỏi vùng này về với thằng cháu ở dưới kia cũng là vì ông Nhà nước đấy. Ông Nhà nước ông ấy quan tâm đến tôi, mà tôi lại bỏ đi thì ông ấy biết đâu mà tìm!?".
Bức thư của Bác Hồ và những người Anh hùng
Tôi còn nhớ, một lần báo Hà Tây đăng nguyên văn bức thư của Bác gửi con gái mẹ, bé Nguyễn Thị Lượng năm 1951. Thư viết: `
"Gửi cháu Nguyễn Thị Lượng, bến đò Mộc, xã Minh Quang, nhờ Uỷ ban Hành chính Kháng chiến huyện Bất Bạt (nay là huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây-NV). Bác gửi lời khen cháu đã chịu khó mót lúa, bán lấy tiền để giúp bộ đội. Thế là yêu nước, Bác mong các cháu nhi đồng khác biết yêu nước như vậy. Bác cũng cảm ơn bố mẹ cháu đã dạy cháu yêu Tổ quốc, yêu đồng bào.
Bác hôn cháu
Tháng 8.1951".
Lá thư được đăng nguyên văn trên Báo Cứu Quốc số ra ngày 27.8.1951, là niềm tự hào của bà con vùng đất cổ trải dài và mênh mông núi rừng Bất Bạt (cũ) này...
Ngoài 20 tuổi chị Lượng hy sinh trong một lần chuyển quân vượt ghềnh thác sông Đà. Con của chị đỏ hon hỏn trên tay mẹ Ít được hơn 1 ngày tuổi thì đã mồ côi mẹ. Cậu bé lớn lên, xung phong vào bộ đội, rồi hy sinh, con của Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Ít cũng trở thành một Mẹ Việt Nam anh hùng... Mẹ còn khoe: “Thằng bé con ông anh trai tôi, tôi cũng nuôi nó khôn lớn, nó xung phong từ hồi chống Pháp, cũng hy sinh ở đẩu đâu, bây giờ chỉnh trang giấy tờ mãi mà chưa thấy. Nhà tôi vừa tôi, vừa con, vừa cháu là anh hùng hết".
Có một điều người Minh Quang luôn tự hào, họ sống trong vùng đất là cái nôi để cất cánh cho nhiều cuộc trường chinh bảo vệ tổ quốc. Những đoàn quân qua bến đò Mộc, sang đất Tu Vũ của Hoà Bình để lên với miền Tây Bắc, với Điện Biên hào hùng. Chính mẹ Ít, chồng mẹ và các con, xóm làng nơi này đã đổ xương máu bảo vệ con đường huyết mạch ấy. Đến những ngày của thế kỷ 21 này, đón mùa xuân thứ 109 của mình, mẹ vẫn đau đớn, vẫn… khoẻ mạnh, giọt nước mắt của trăm năm chắc là mặn lắm, chát lắm; những hành động anh hùng, những cống hiến anh hùng chắt ra từ những giọt nước mắt. Mẹ bảo, trăm năm mới hiểu được tình đất, tình người, mới hiểu được thế nào là Chất ngất mây trời non Tản, mênh mang bọt nước sông Đà...
Ba Trại, cuối năm 2001












