Bài 3: :Leo thang đá, nghĩ về cái giá của sự hoang sơ
Wednesday, December 24, 2008 4:31:49 AM
“… Ai ngờ được, người ám ảnh tôi nhất chính lại là cụ Lương Bà Toán, nỗi đói nghèo và sự tủi phận trong cụ dường như đã lên đến tận cùng. Căn nhà sàn gỗ cũ kỹ, bé không thể bé hơn, tài sản duy nhất trên nhà là con chó mẹ với đàn chó con 5 con, mỗi con chỉ bé bằng bắp ngô. Lũ chó óng ánh ướt lông, chúng còn chưa kịp mở mắt,con mẹ còn đang cần mẫn nằm liếm láp các con con. Bên cạnh là bếp lửa đốt rần rật giữa nhà, bà đang nấu cám lợn. Người bà và người tôi đều nhễ nhại mồ hôi. Chăn, chiếu, màn, áo, quần cái nào cũng rách bươm và cáu bẩn. Ngoài đàn chó húc mãi vào bầu vú mẹ, ngoài ngọn lửa, hầu như cuộc sống trong căn nhà này đứng yên”.
Bài 3: Người đàn bà ba mươi năm không vấn tóc và vài câu chuyện nữa
Những ngày ở Phá Đáy, tôi thấy ông trưởng bản Bình thích nhất là ngồi một mình, cái đầu trọc tựa vào cây cột nhà trắng nhờ bằng gỗ mới dựng. Ông Bình nhìn hút ra những tán rừng già lúp xúp, trên cao vòi vọi là những mảng đá vôi trắng lốp vói tới tận tấm rèm trời xanh. Đá trắng tinh khôi, cứ như là có kẻ nung vôi nào vừa đánh mìn phá núi ngoài kia vậy.
Ông nói tiếng Việt chậm rãi, lơ lớ, nghe thoảng qua đã biết là giọng của một người Thái chính tông: bao giờ chú Lãng Quân quay lại, ông sẽ để tóc dài đến vai như lão chụp ảnh ngoài thị trấn kia kìa, kiểu ấy ông thích lắm, “Chú sẽ chụp cho tôi một pô, treo ở chỗ cái sừng trâu trên cột nhà kia kìa”! Chốc chốc, bà vợ ông lại xổ ra một tràng tiếng Thái, ông lại lũn cũn xách xô chạy xuống chân cầu thang, ra suối xách nước về cho vợ, từng xô một, hết lại xách. Không có giếng, nhà ông Bình cũn chỉ có một cái xô xách nước. Khi tôi đem đi vục một xô nước Nà Cao về để trước chĩnh rượu cần, voọc sừng trâu vào tiếp nước cho hai cái ống hút của vợ chồng ông, thì mọi công việc liên quan đến nước trên nhà sàn như ngừng trệ. Cái xô trở thành ché trong mâm rượu cần. Sau dăm chầu rượu, tôi ước chừng mình phải uống mất mấy xô nước suối Nà Cao (chưa kể uống nước, ăn cơm, canh cũng bằng nước suối), quả là tôi có ý chờ cái ngày mình bị ngã nước hay ít ra là bị đau bụng gì đó, nhưng tuyệt đối không việc gì. Ông Bình bảo, cái men lá nó tuyệt lắm, uống với nước suối thì cứ là... vô tư.
Cũng có nhiều cảnh đời khổ đến tận cùng ở Phá Đáy, khổ mà vẫn vui sống, vẫn mặc váy loè xoè lội bùm bũm dọc dòng suối ra đón khách mỗi khi thấy người lạ đi về phía nhà sàn của mình. Bà Tuyến là người đã cưu mang cô giáo Mùi từ những ngày cô suy sụp vì... tìm ra bố đẻ què cụt, ngoang nguếch ở vùng đất xa lạ Phá Đáy. Cả bản coi Mùi như người thân, bởi cả bản là anh em họ hàng với dì ghẻ của Mùi, đơn giản mà mềm lòng thế đấy. Bà Tuyến chưa già, nhưng cười thì vêu vao, bà có 5 người con, chẳng đứa nào có nghề ngỗng gì. Ông chồng bà thì suốt ngày say rượu, đến nỗi đoàn làm phim đưa tiền nhờ ông đi mua rượu về cùng uống, ông đi từ sáng đến tối mới về, ông bước đi lẹo dẹo, hai tay giơ ra đằng trước múa may, người ông vặn vẹo y phoóc một con rắn đang trườn vào bản. Có lần tôi sang nhà bà Tuyến, thấy mấy anh thanh niên to như tấm phản ở trần, nằm ngửa, thở phì phò, tay vung quạt mo ngắm trời đất qua vách nhà tre thủng loang lổ. Gặp khách, họ ngồi dậy giót nước rồi ngồi bần thần xem khách nói chuyện với mẹ, hiền lành, củ mỉ, câm lặng, bã bượi. Nhàn cư, cái nhàn của người không biết tính kế sinh nhai; nghèo vậy mà vẫn không "bất thiện" như người ta thường lo và chép miệng. Mới đây, đứa con gáu thứ hai tên Hoà (SN 1982) nhà bà đi lấy chồng ở Khe Ba ngoài Thuận Lập, cô bé hiền quá, anh chồng hay say rượu lại đánh đập liên hồi kỳ trận, cô bé mới tức tưởi khóc bỏ về với bà Tuyến. Bà Tuyến thương con một đằng; một đằng cũng không có tiền mà "thanh toán cuộc hôn nhân", khi mà nhà người ta lại còn vào đòi lại tiền cưới tiền hỏi, đòi những hai triệu bảy cơ. Thế là bà phải tất tả ra nhà bà Yến ngoài xã mượn được một con trâu, lại cho nhà chồng con bé vào chuồng bắt nốt cả con lợn với mụ mái gà đang vỗ béo, đúng là khuynh gia bại sản chỉ vì một trục trặc tình duyên. Nghèo lắm, đói lắm.
Có phải đấy là tục lệ, hay chỉ đơn giản là sự lấy thịt đè người của anh chồng nghiện ngập trước sự cam chịu của gia đình bà Tuyến? Ông Sầm Văn Tuyền (chồng bà Tuyến) cũng là người quá ít nói (ông không biết nói tiếng Kinh thì đã đành), quá nhẫn nhục cơ. Ông bà chẳng biết tính toán gì cho ngày mai, ruộng bỏ đó không thèm cấy cày. Ngày trước nhà ông ở Hoa Tiến, ông bà ăn ở với nhau, rồi bà rủ ông ngược Phá Đáy này ở rể chỉ với lý do đơn giản là vào đây, sống trong vách núi bị lãng quên, thì người ta không tính thuế má gì, gặt được bao nhiêu ăn tất. Nhưng cái người đã không biết tính, ở đâu cũng vẫn cứ nghèo.
Phá Đáy hoang sơ đã dạy tôi những gì?
Đêm khuya, nằm ở ghế khách (nhà sàn Thái có ghế như kiểu ghế công viên ở sát mép lan can nhìn ra rừng), gác chân lên lan can nhà sàn, ông Bình thì thầm kể về cái hang mà dịch ra tiếng kinh là hang Dê Núi phía cuối bản. Đơn giản là hồi mà hổ, gấu còn về bản phá phách thì người Phá Đáy đi làm thấy trong cửa hang ấy có nhiều sơn dương vô cùng, sơn dương (là con dê núi) suốt ngày leo trên vách đá, sống trong hang đá ấy để cố thủ trước các loài thú ăn thịt hung dữ kia. Bởi thế nên người bản Thái bèn gọi thành tên. Nhiều người ở bản đã khám phá hang với hệ thống nhũ đá kỳ ảo trong các dịp lễ tết nông nhàn, coi đó như một thứ thời trân của tạo hoá. Bản này sống đơn giản, lành như hạt lúa củ khoai, chẳng màu mè lễ hội bao giờ, mới lấy việc ngắm hang như một nghi thức tín ngưỡng, như “hưởng thụ nghệ thuật”. Chúng tôi quyết định ở thêm một ngày để thưởng thức hang Sơn Dương, trưởng bản Bình dẫn đường, theo sau là độ 20 trai tráng, trẻ con và cả các... thiếu nữ. Các cô gái mắt đen như hạt nhãn, không biết nói tiếng kinh, rất quý khách và rất hay cười. Cực, gã trai bản “hủi” dạy tôi cách lần theo các dòng phân trâu nhà để tìm đường về bản khi bị lạc; lại cũng bảo, có nhiều đường lên hang nhưng cứ theo vệt phân trâu kiểu gì cũng đến. Bà con ít dùng trâu bò để cày, đàn trâu được thả bán hoang dã trong thung lũng. Dưới chân hang Dê Núi có một bãi cỏ rộng, người ta thường rắc muối trên cỏ để dụ trâu về ăn. Trâu ăn quen thứ cỏ mằn mặn ấy rồi, thế là dù đi đâu chơi ở đâu, gặm cỏ ở đâu, cũng cứ một lòng hướng về vách núi ấy hằng đêm để được nếm cỏ mặn. Thế là không cần xấn sẹo, chẳng cần đeo mõ mà trâu không bị lạc, cũng không cần dắt về buộc dưới nhà sàn cho nó… bẩn thỉu hay đi chăn thả gì! Cực bảo, cũng như cách nuôi chim sáo, chim chào mào của em thôi mà, em cho chim uống nước muối nhạt rồi thả lên trời, cứ đến cơn khát, chẳng dòng suối nào có nước mặn, thế là cu cậu lại bay về đầu hồi nhà hót "chào mào quých, chào mào quých". Đường vào hang, đi qua mấy khe suối, qua nhà Cực, nhà Cáng, nhà nào cũng cột sàn với bù rù lá cọ cắm xuống mặt đồi như con chim ướt lông đứng so ro trước gió lạnh. Mái tranh bé tẹo, cũ mục chêu vêu nằm như cái tổ chim mà con non đã ra giàng, bị bỏ hoang xơ xác. Trong nhà Cáng, đến dải võng cũng buộc bằng dây của loài cây dại to, uốn lượn như một con trăn mốc, Cáng bảo: “Thế mới là ở rừng chớ ớ...”. Lách mình qua những thân cây lớn, chui trong thảm lá rừng, chúng tôi đến vách núi cửa hang. Phải bấu vào những túm rễ si lớn, bò dọc vách đá để vào dần trong hang, càng vào càng lạnh buốt, nước ẩm tí tách nhỏ giọt. Bốn kẻ ở phố chúng tôi đang lo lắng, mồ hôi mồ kê, lại nghĩ đến chuyện nhỡ ra một chiếc rễ si lìa gốc thì không biết bao nhiêu cuộc đời bị... kết thúc. Ngước lên, Trời! Mỗi mỏm đá một đứa trẻ ngồi lểu bểu, đám thanh niên lớn hơn, cả trai lẫn gái thì leo lên các cọc cây lớn cao như cây tre dựng ăn-ten vô tuyến vậy! Một người thốt lên, đúng đoàn khỉ đại náo ở Hoa Quả Sơn. Đám trẻ hiếu kỳ nhanh chân lên trước, chúng ngồi nhe răng cười nhìn chúng tôi ì ạch lên sau, có tất cả 20 đứa trẻ theo gót chúng tôi (chưa kể đám thanh niên đã có vợ con, tình nguyện dẫn đường, xách hành lý). Những cây tre, gỗ dài bắc dọc các miệng hang, vách đá kia chính là cầu leo lên bắt... tổ ong của những anh chàng đã trưởng thành ở Phá Đáy. Ong ở đây cực nhiều, ong lấy mật, nhộng ong làm thức ăn, bắt ong ở đây cũng mạo hiểm như những người trèo tổ yến ngoài đảo khơi Khánh Hoà vậy. Vẻ đẹp của hang đúng là hiếm có, cũng hiếm và đẹp kiểu như hang Đầu Gỗ ngoài Hạ Long hay động Phong Nha, Quảng Bình vậy. Cái thú là sự hoang sơ. Chả trách, bà con Phá Đáy coi vào hang như một buổi lành lễ!
Trong khi đám trẻ toả đi khắp các ngõ ngách của hang Dê Núi, tôi đành làm kẻ đi van xin chúng hãy ngồi lại một chỗ, nơi có ánh đèn pin của mình, thực sự tôi lo một con rắn, một cú trượt chân từ độ cao... rất cao. Mà chuyện ấy xảy ra, người đầu xỏ tổ chức chuyến thám hiểm… đích thị là tôi! Anh bạn tôi say sưa giải thích về cái việc hàng triệu triệu năm mới hình thành được cái hang như thế này, hoặc là nước biển dâng lên rồi rút dần, và sóng vỗ thành công chúa hoàng hậu trên nhũ đá; hoặc là nước nhỏ giọt mãi trên địa hình đá Kaster thành những vằn vện, những dòng suối nước chảy ngầm vạn thuở trong núi đá. Khi Cực giới thiệu, kia là hang Vua với ngai vàng lộng lẫy, tôi quay sang hỏi Vân, cô bé 15 tuổi có khuôn mặt bầu bĩnh: nếu anh vào đó ngồi làm Vua, em làm Hoàng hậu được không? Vân quay mặt đi, chạy trốn. Tôi chợt nhớ ra, em chỉ nghe mà không nói được tiếng gì ngoài tiếng Thái. Mà nói được thì chắc gì em đã hiểu Hoàng hậu với Vua là thế nào với nhau? Bằng tuổi em, con gái ngoài huyện đã chán chê son phấn rồi, bỗng dưng, thấy hơi quặn lòng, vừa vui vừa buồn...
Đường về, ai nấy mồ hôi nhễ nhại, nhem nhuốc bùn, đất và lá mục. Tôi trở ra đến bờ suối Nà Cao, cũng là lúc đám khỉ nhỏ ngồi trên các mỏm đá lúc nãy đã xếp hàng đằm bên suối cả rồi. Mỗi khúc một đứa. Cả một đời tắm suối, chỉ có cách duy nhất là tắm suối. đã dạy cho đám trẻ biết thế nào là lễ độ của tự nhiên. Chúng cắm chân hoặc bệt mông xuống bùn, cát, đá của dòng suối và ngồi yên, tay chân kỳ cọ trên mặt nước để khỏi làm đục nước, vấy bùn lên người kỳ cọ ở cuối dòng. Không đứa này lanh chanh leo lên thượng nguồn cả, bởi như Thuỷ giải thích, chẳng ai biết thượng nguồn con suối này ở đâu để mà vống lên nữa, chỗ nào cũng là cuối dòng hết, vấn đề là mọi người đều phải biết giữ gìn cho dòng nước của mọi người. Bài học về môi trường chẳng cần ai dạy dỗ, chẳng cần đi xin mấy vạn mấy triệu chữ ký của người dân như cái cô tên là Hồng Hồng nào đó ở Thủ đô mới có được. Nếu hằng ngày anh đánh răng, rửa mặt, tắm rửa bên dòng suối ấy, thì chẳng bao giờ anh dám ném vứt rác bẩn xuống suối cả. Lần đầu vào Phá Đáy tắm suối, tôi ì ọp kỳ cọ rồi về bản tiếp tục uống rượu cần. Không ngờ, sờ lên đầu thấy sàn sạn toàn cát là cát. Dòng suối nông mà vục đầu xuống đó gội trong đêm đen như mực thế thì kiểu gì chẳng vã cát lên đầu? Thế ra, tắm suối cùng cần phải bài bản lắm, phải có nghệ thuật.
Sau những lần vục cát vàng lên mặt lên tóc, cũng lại đến lúc tôi trở nên láu cá với Phá Đáy. Tôi đi mãi đi mãi lên phía thượng nguồn suối Nà Cao trong một buổi sớm đất trời con tinh mơ bảng lảng. Nước mát lạnh, Thuỷ bảo, anh chưa quen, rất dễ trúng gió. Đi mãi, tôi gặp cả một đàn trâu trầm mình trong một vụng nước lớn, con nào cũng đen bóng những sợi lông cường tráng như lông... nhím. Nhìn qua dòng nước choá sóng trắng cũng lại thấy lũ trâu da trơn bóng như rái cá. Chúng nằm vô sự, nằm yên tới mức thân hình khổng lồ no mọng của trâu cũng chẳng làm nước đục được nữa. Bên dưới nước vẫn trong lẻo lẻo, hình như trâu lũ trâu lửng (nuôi bán hoang dã) này cũng đã biết cả nghệ thuật tắm suối rồi vậy. Tất nhiên, tôi chẳng đem câu chuyện này kể với đám bạn phố thị lúc nào cũng chề môi eo ôi chê bẩn ở phía dưới. Phía dưới là vùng nước phục vụ sinh sống của bản. Phía dưới nữa là khu vực ghềnh thác và vụng nước làm bãi tắm cho nam giới. Tít dưới nữa ở hạ lưu mới là bãi tắm cho phụ nữ Phá Đáy. Nền nếp của bản Thái nào cũng như thế, bãi tắm của nam nằm trên bãi tắm của nữ (tính theo chiều đi lên thượng nguồn dòng suối), rất phồn thực. Phồn thực nguyên thủy.
Cùng Lương Bà Toán đi ăn xin khắp núi rừng
Ai ngờ được, người ám ảnh tôi nhất chính lại là cụ Lương Bà Toán, nỗi đói nghèo và sự tủi phận trong cụ dường như đã lên đến tận cùng. Căn nhà sàn gỗ cũ kỹ, bé không thể bé hơn, tài sản duy nhất trên nhà là con chó mẹ với đàn chó con 5 con, mỗi con chỉ bé bằng bắp ngô. Lũ chó óng ánh ướt lông, chúng còn chưa kịp mở mắt,con mẹ còn đang cần mẫn nằm liếm láp các con con. Bên cạnh là bếp lửa đốt rần rật giữa nhà, bà đang nấu cám lợn. Người bà và người tôi đều nhễ nhại mồ hôi. Chăn, chiếu, màn, áo, quần cái nào cũng rách bươm và cáu bẩn. Ngoài đàn chó húc mãi vào bầu vú mẹ, ngoài ngọn lửa, hầu như cuộc sống trong căn nhà này đứng yên. Đã mấy chục năm nay ông về Trời, mình bà ở lại nuôi 7 đứa con và đã cả chục năm nay, căn nhà này đứng yên. Thời gian không trôi được nữa trên lớp da dăn deo, đôi mắt đục lờ của bà Toán. Bây giờ, bà sống một mình, 7 người con đã đủ lông đủ cánh lấy vợ lấy chồng cả. Không một người con nào sống với bà, không ai chịu trách nhiệm nuôi bà cả. Bà không nói được bất cứ một tiếng nào của người Kinh. Cũng không biết làm nghề gì kiếm sống, ngày lại ngày bà chỉ quẩn quanh nuôi con lợn con gà đem đổi lấy gạo, rau, muối, dầu. Tất cả đều tự túc, nấu lấy ăn lấy, tất cả là nhờ vào rừng, chặt quả đu đủ ở rừng, thái ra đun cho lợn ăn; con gà thả vào rừng, tối đến nó về rinh rích ngủ dưới chân nhà sàn; đói bà cũng bỏ vào rừng, đi xuyên qua rừng đến bản mà con trai con gái bà đang ở để xin ăn. Cực ngồi phiên dịch cho tôi, chị dâu cực là chị Mai cũng là con gái bà. Mai sinh năm 1982, là đứa duy nhất lấy chồng ở bản, vẫn gần gũi bà trong những ngày này, nhưng nhà Mai nghèo lắm. Bố Mai mất cách đây đã hai chục năm trời, ban đầu ông bị đau ruột thừa, đau dạ dày nên mới uống thuốc phiện để giảm đau, uống mãi rồi nghiện. Ông chết rạc trong cơn nghiện ma tuý. Bà quần quật làm lụng nuôi con, cánh tay bà co rút, không làm được việc gì nữa vì di chứng bệnh phong cùi. Tuyệt đường hy vọng!
Mấy chục năm nay bà không tự vấn tóc được cho mình. Mà phải vấn tóc mới đúng phong tục người Thái, phải thế mới đẹp; phải vấn mớ tóc dài, dày ấy lên thì mới đích thị là gái đã có chồng, đã tẳng cẩu mà. Bỏ tóc xuống, chẳng hóa ra bà lại nói với thần linh, với người chồng quá cố là bà đã và sẽ tái giá ư? Thế nên, chiều nào trẻ con xóm giềng cũng phải sang vấn tóc cho cụ Lương Bà Toán. Nước dùng cho sinh hoạt, bà Toán phải chân trần run run lần ra bờ suối, vục một xô nhỏ, vừa đi vừa sóng sánh, lên đến cửa nhà sàn, nước đã tưới vũng vĩnh ở chân cầu thang, suốt chặng đường già cả xô dạt, thau nước còn lại chỉ vài ca. "Bây giờ bà thiếu những cái gì?", tôi ghé sát vào tai Cực, muốn nó nói thật biểu cảm cái câu cũ kỹ ấy; ai ngờ bà cũng rất biểu cảm, huơ huơ cánh tay liệt lòng khòng ra nói bằng tiếng Thái: "Cái gì cũng thiếu. Chăn, màn, chiếu, quần áo đều không có. Ruộng cấy không, sắn cũng không. Xã không cho cái gì bao giờ".Trước lúc về, tôi làm cái việc không đành lòng là biếu bà ít tiền lẻ, mắt bà nhìn mênh mông (vẫn qua phiên dịch): "Có khi tại bà nghèo quá, không có tiền nạp cho con đi làm rể làm dâu nhà người ta, nên bây giờ mới khổ quá thế này…!". Mỗi lần đi chợ, bà mất cả ngày đường, mua vài thứ lèo tèo. Đúng là bà ăn hết chả bao nhiêu. Lúc khoẻ, bà đi trồng vu vơ vài cây đủ đủ trong rừng, cũng chẳng biết rừng ấy ở vào đất của nhà ai nữa. Nhưng trồng thêm cây thì ai người ta bắt tội bao giờ. Thế là cây tự lớn, tự đơm hoa, kết quả, lần nào bà nhanh thì kịp vào hái lấy quả đu đủ xanh về luộc ăn, còn đâu cho lợn. Những trái đu đủ to, xanh ngọc, cùi dày, người ở Phá Đáy bao giờ cũng băm cho lợn cả. Lúc đói quá, bà đi lang thang xin ăn, xin của bản Phá Đáy rồi xin dần sang các bản khác, xin nhà con cháu của bà. Lúc tôi đến, bà vẫn còn gạo, gạo ấy mới đi xin được ở nhà cô con gái tên Loan, và anh con rể tên Kim ở bản Kiềng, cách Phá Đáy đúng 6 tiếng đồng hồ đi bộ. "Bà có 5 anh con trai, đã lớn cả, khoẻ mạnh cả, nhưng có mô (gì đâu) mà chúng nó cho được, chúng nó cùng nghèo cả. Người ta bảo bà là người khó tính, không ở được với đứa con nào, nên mới khổ". Bản bên cạnh có anh Vinh con trai bà cũng ngót 50 tuổi rồi, mà vẫn nghèo, bà chả nỡ xin anh ấy cái gì bao giờ "nó còn vợ, còn cả đàn con, vất vả lắm".
(còn nữa)
Kèm theo chùm ảnh












