Lại xúc cảm vài dòng về "anh bạn già" Tilo Nadler, bị anh bạn đặt bài báo Tết gắt gao quá, phải viết. Sorry 
Monday, January 5, 2009 2:43:31 PM
Ở xứ sở của lòng nhân ái…
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
Đề nghị tha thiết: xem (lại) chùm ảnh cái bọn đang yêu kia trước khi đọc bài;
http://my.opera.com/dodoanhoang/blog/bon-voc-nay-gan-bo-voi-thang-hoang-qua-nhieu-lan-nao-vao-cuc-phuong-cung-co-ca
Đã từ lâu lắm, lần nào vào Vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình), tôi cũng có cảm giác mình đang trở về nhà. Vì anh bảo vệ, cậu lễ tân, chị đầu bếp và mấy đời các ông giám đốc vườn đều nhận ra tôi và quá ư thân thiện ư? Vì tôi từng cùng ông Tilo Nadler đi bắt vọc, vượn ở khắp mọi nơi, cùng gã người Mường Bùi Đăng Phong và anh chàng Tim người Anh lang thang trong rừng rậm dò sóng tìm chị rùa sa nhân được định vị GPS toàn cầu để nghiên cứu ư? Hay vì những sáng tinh sương, vừa thức dậy đã thấy tiếng hào hển như còi cảnh sát, còi cứu hỏa ú chan chan tứ bề, hú mấy tiếng đồng hồ không dứt, ai nấy tá hỏa truy tìm nguồn cơn, thì ra là đàn vượn khổng lồ của ông Tilo nó thi nhau hót gọi ông mặt trời lên cao?... Không chỉ vì riêng xúc cảm nào, mà là vì tất cả những điều đó và vì nhiều cảm giác nữa, tất cả vun đắp nên một ám ảnh về lòng nhân ái của con người ta với muôn loài.
Nhân ái với người tận khổ, bao dung với cả kẻ thù của mình đã khó; nhân ái với muôn vật mới lại càng tôn rõ cái cung cách Người trong mỗi chúng ta hơn. Vọc, vượn, khỉ, cu ly, rùa, cầy vằn, gà rừng, cua núi đặc hữu Việt Nam, con voi, con kiến, con bay trên chín tầng trời, con dũi dưới lòng đất sâu… - tất cả bọn chúng đều bình đẳng trong cái quyền được tồn tại, được đối xử nhân ái. Chúng cần thiết cho loài người, cho quả đất như nhau. Hằng ngày, hằng giờ, nhiều năm nay, những loài động vật tưởng như “chim trời cá nước” vu vơ kia đã được chăm sóc tận tình, được nghiên cứu miệt mài bởi nhiều người Việt Nam và các người bạn ngoại quốc. Miệt mài và nhân ái đến khó tin.
Ông Tilo Nadler năm nay gần 70 tuổi rồi, mặt vẫn đỏ, râu vẫn rậm, dáng vẫn lừng lững, cái nhìn vẫn ngờ nghệch rất là giang hồ. Đến xuân 2008 này, Tilo ở Việt Nam đã tròn 15 năm ròng rã. Bỏ lại vợ con, gia đình đuề huề ở nước Đức, đi nửa vòng trái đất, Tilo sang Việt Nam, tình nguyện cắm chốt bảo vệ mấy con mà người Việt Nam quen miệng gọi là cái “của khỉ” (linh trưởng). Không mang một cá thể linh trưởng nào về chính quốc của mình, càng không bán buôn, lương bổng hay tham ô tham nhũng gì ở thiên nhiên và con người Việt Nam, Tilo xả thân như một hiệp sỹ bảo vệ động vật hoang dã cho chúng ta, chỉ bởi vì ông là hiệp sỹ. Ông đã dạy cho tôi và nhiều người xung quanh tôi biết rằng, sống phải có cái tinh thần hiệp sỹ ấy, để rồi phải nhân ái như thế nào với muôn loài. Tôi từng viết trên báo, Tilo là vị cứu tinh của tinh thần hiệp sỹ đang bị thất truyền của chúng ta.
Năm 1992, khi Tilo sang Việt Nam, là một gã quay phim lang bạt kỳ hồ. Anh ta đi tìm loài vọc mông trắng đã được báo cáo là tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Nó chỉ tồn tại với hình dáng ngộ nghĩnh trên con tem ố cũ của một nhà sưu tập ngoại quốc. Tilo đi nhiều ngày trong rừng tìm vọc, đặt máy quay trên ngọn cây, ròng dây xuống đất, rồi chặt những cây chuối rừng dựng lều đợi vọc từ các vách núi ra tán rừng kiếm ăn. Nắng nỏ, nhiều lượt lều lợp lá chuối xanh bị ố vàng, vọc vẫn chưa ra, đói thì ăn quả xanh, khát thì uống nước suối. Có khi giữa hoang vu, tiếng súng kíp nổ ran rợn người, một đàn vọc rơi xuống đất như những lọn lá héo. Mãi rồi, Tilo ghi nhận được hình ảnh vọc mông trắng (kèm theo đó là cảnh người ta nhốt vọc vào lồng tre, đem ra chợ bán cho nhau ăn thịt như bán mèo bán chó), các nhà khoa học quốc tế đổ xô vào nghiên cứu. Hội Động vật Frankfut đã đầu tư kinh phí và chuyên gia cho Tilo đứng ra thành lập Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp quý hiếm tại Vườn quốc gia Cúc Phương (năm 1993). Vào thời điểm bấy giờ, việc làm của Tilo được coi là điên khùng và không ít người tỏ ra nghi ngờ thiện chí của Tilo và đồng đội của anh ta. Họ sợ gã mắt xanh mũi lõ này sẽ ủ mưu bắt hết vọc, khỉ của Việt Nam, cứu hộ quấy quá rồi đưa tuốt về “đất nước của anh ta”. Lại thêm, những ngày đầu mới hoạt động, Tilo đã hiện diện như một cỗ xe tăng Đức sắt đá nhất, dữ tợn nhất. Ông trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng của những kẻ săn bắt thú hoang, chặt phá rừng, dùng kích điện tận diệt các loài thủy sản, thậm chỉ cả các toán sơn nữ lẻ tẻ đi hái măng hái nấm trong mấy chục nghìn héc ta rừng Cúc Phương, hễ trông thấy là Tilo bắt giữ triệt để.
Một cái còng số tám, một dùi cui điện và một cuốn sách “luật” (các quy định) về bảo vệ rừng, động vật rừng, cũng như môi trường sinh thái của Việt Nam, Tilo cứ gặp cái gì sai luật là “tấn công” không để cho chúng nó thoát. Tilo còng tay bọn phá rừng, rút dùi cui điện dí lẹt xẹt cháy tay chân những kẻ dám chống trả “cảnh sát kiểm lâm ngoại quốc” bằng đòn hội đồng. Có khi, đang đi trên ô tô, gặp người dùng bình ắc quy xịt điện ra làm cho ba đời bảy kiếp thủy tộc chết “trắng bụng”, thế là Tilo nhảy ào ào xuống sông, suối, ruộng đồng, bắt quả tang người phạm tội. Bắt rồi, áp tải kẻ thủ ác lên xe, ướt như chuột lột, một tay lái vô lăng, một tay thò ra khỏi cửa xe ô tô, Tilo rong thêm chiếc xe đạp tang vật cho nó bon theo.
Sự thẳng thắn và tuân thủ pháp luật tuyệt đối của Tilo đã khiến cán bộ Vườn quốc gia Cúc Phương, kiểm lâm sở tại phát hoảng. Có lần Tilo trông thấy người ta trưng bày một tiêu bản vọc quý hiếm tại tiền sảnh một khách sạn lớn ở Ninh Bình. Tilo bất bình đòi tịch thu, chủ khách sạn bảo không được thu, đất nước chúng tôi, đi đâu chả gặp thú vật nhồi trấu để chơi. Vẫn quyển luật trong tay, Tilo gọi công an và kiểm lâm đến, yêu cầu xử lý đúng pháp luật. Cán bộ cơ sở nghe chủ khách sạn trình bày là mua tiêu bản động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng trên toàn cầu kia với giá 30 đô la. Nếu ông Tilo quyết tâm thu, nể ông tử tế với “khỉ”, ông trả 30 đô la và mang cái của khỉ ấy đi đi. Tilo trả tiền, bắt ký văn bản. Rồi Tilo cầm các quy định bảo vệ động vật hoang dã, cầm tờ giấy “biên nợ” 30 đô la và tiêu bản vọc ngũ sắc kia lên thẳng Cục Kiểm lâm Việt Nam. Rằng tôi bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm cho các ông, yêu cầu các ông thanh toán 30 đô la cho tôi. Phải có buổi “lễ” trao trả 30 đô la, và phải có giấy tờ xác nhận việc này. Ông Nguyễn Bá Thụ, bấy giờ là Cục trưởng Cục Kiểm lâm Việt Nam, “thụ lý hồ sơ” xong, biết là Tilo làm đúng; quý mến cái tinh thần hiệp sỹ ấy lắm, nhưng nghĩ lại, nếu Cục đứng ra thanh toán 30 đô la tiền “coi thường pháp luật” kia thì “ngượng” quá. Mới bèn đi nói khó với Tilo xí xóa cho. Ông Thụ và nhiều người trong cuộc đã trực tiếp kể lại cho tôi (tác giả bài viết) nghe câu chuyện này với lòng ngưỡng mộ nhân cách Tilo không giấu diếm.
Ở Việt Nam, sau 15 năm cống hiến, được Nhà nước ta tặng Huân chương Lao động hạng Nhì, và nhiều phần thưởng xứng đáng khác, Tilo đã có rất nhiều học trò xuất sắc. Cả những tiến sỹ đẳng cấp quốc tế về bảo tồn linh trưởng. Nhưng, tôi nghĩ, Tilo xuất sắc hơn cả trong vai trò là một “giáo chủ” cổ súy cho lối sống nhân ái với muôn loài. Tilo và cộng sự đã biến Trung tâm cứu hộ của mình thành tổ ấm tin cậy cho 15 loài linh trưởng quý hiếm nguy cấp nhất Đông Dương trú ngụ. Việt Nam có 25 loài linh trưởng, trong đó 15 loài cần phải cứu hộ gấp gáp, nhất là 4 loài đặc hữu (trên toàn thế giới, chỉ Việt Nam mới có), thì Tilo đã dang tay tiếp đón đầy đủ. 15 năm qua, hầu như mỗi ngày, nhân viên của Tilo và cả Tilo cùng vợ ông ta, đều bắt đầu bằng việc vào rừng kiếm hàng chục loại lá lẩu tươi hơn hớn về phục vụ việc ăn uống, chữa bệnh và sinh sản cho đàn linh trưởng. Để rồi, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nhiều loài vọc, vượn quý đã được Trung tâm tổ chức nuôi dưỡng, cho sinh sản thành công. Trong các hội thảo quy mô quốc tế được tổ chức tại Cúc Phương, báo giới Việt Nam không khỏi ngạc nhiên khi thấy các cô gái mắt xanh xinh như mộng, các chàng trai hào hoa như tài tử xi-nê cầm mi-cờ-rô hú huýt giả làm tiếng vượn để phân tích âm thành của vượn đực vượn cái, vượn non và vượn đã trưởng thành (phục vụ đi thực địa, nghiên cứu). Có cô gái đi hàng nghìn cây số đường biên ở khắp Đông Dương để điều tra về linh trưởng. Có người, suốt nhiều năm nghiên cứu xương cốt, chất thải hay tiếng hót của linh trưởng rồi sang Anh, sang Đức làm luận án tiến sỹ… khỉ. Tilo thì hễ có tin báo vượn, vọc, khỉ, cu ly bị xâm hại, là lại tất tả lên đường. Có khi lái ô tô suốt từ sáng đến tối, vào tận Quảng Nam, Đà Nẵng bắt một con chà vá bị thương. Dọc đường, bị kiểm lâm kiểm tra, ông Tilo to lớn bế chú vọc trọng lượng 2kg, tanh tưởi máu mủ đau thương vì trúng bẫy trên tay, bản thân Tilo đứng rãi nắng chày chày, nhưng ông vẫn không quên lại bẻ nắm cành lá tươi xòe thành cái lọng xanh che nắng cho con vật tội nghiệp.
Cuối cùng ông đã thành công. Nhận thức của người Việt Nam về sự cần thiết phải nhân ái với thế giới hoang dã đã được nâng lên rất nhiều. Tilo đã trở thành một biểu tượng tuân thủ luật pháp và sống tử tế với muôn loài. Khi ông mua vé máy bay, cho tôi (nhà báo) và nhân viên của ông vào tận Lâm Đồng “đòi” lại một con vọc bị kiết lỵ ốm yếu từ kẻ nuôi nhốt trái phép; khi ông mời mấy chục người, cả ông giám đốc một vườn thú bay từ bên nước Đức sang, cả nhiều giáo sư tiến sỹ Việt Nam vào Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng… để chứng kiến lễ thả 4 con vọc Hà Tĩnh của ông vào trung tâm bán hoang dã sau thời gian “cứu hộ” - khi ấy, Tilo đã thành công trong việc đưa ra một sự kiện để người Việt Nam, giới trí thức, giới truyền thông Việt Nam (và quốc tế) cùng suy ngẫm. Tilo bỏ 15 năm đẹp đẽ của đời mình vừa qua ra chăm sóc linh trưởng, để làm gì? Tilo và các cộng sự muốn đưa ra một biểu tượng, để mọi người theo đó mà chung tay bảo vệ thế giới hoang dã, bảo vệ cái tay nôi của sự sống này, bảo vệ chút lòng nhân ái với thiên nhiên còn sót lại trong mỗi chúng ta.
Trong khi ngay cả Thủ đô Hà Nội mênh mông cũng chỉ ỏn sót có được cái Vườn thú Thủ Lệ quá èo uột, muông thú sống mòn khổ sở, hổ không ra hổ, báo chẳng nên hình báo, thì ai ai cũng phải thảng thốt ao ước về một thế giới động vật được chăm sóc tử tế và nhân ái; để muông thú vui vầy nó làm giàu thêm những tinh túy của nhân cách mỗi con người. Trong nỗi hiu hắt kia, tôi đã gặp thế giới tràn ngập tình nhân ái với cái quyền được tồn tại, được bảo vệ của muôn loài, ở Cúc Phương. Vượn hót ầm trời mỗi ban mai, vọc sinh sản và nô giỡn trên các tán rừng thung thăng, vọc vượn rẽ rừng mà lướt đi như cơn bão lá. Đêm, khách du lịch trong và ngoài nước cầm đèn pin, nhúng chân trong các bể hóa chất diệt khuẩn để được tìm đến thế giới hôi nồng của cầy vằn, cầy mực trong các tán rừng được giăng dây thép bảo vệ. Ngày, hàng chục chàng trai cô gái xứ Mường cùng các nhà khoa học miệt mài làm việc ở trung tâm cứu hộ rùa, những con rùa to như nong sảy được chăm sóc theo tiêu chuẩn quốc tế, được đón từ sân bay về bằng xe chuyên dụng tiền tỷ. Nhiều chuyên gia nước ngoài ăn dầm nằm dề trong rừng già Cúc Phương để dùng máy dò sóng tìm các chú rùa sa nhân được gắn chíp điện tử định vị toàn cầu…
Cửa rừng Cúc Phương có tấm biển: “Bạn đừng đem ra khỏi rừng cái gì, ngoài những tấm ảnh đẹp. Bạn đừng bỏ lại trong rừng cái gì, ngoài bước chân của bạn”. Sống trách nhiệm và tử tế với môi trường, thiên nhiên, muông thú và sự sống nói chung…, đó cũng là điều mà Tilo và các nhà bảo tồn xả đã và đang thân cống hiến kia muốn bày tỏ, muốn chứng minh. Không hiểu sao, tôi cứ nghĩ, Tilo đã đến Việt Nam, bằng cách cưỡi lên một đám mây chứa nhiều khát vọng về tình nhân ái.
Cúc Phương, tháng 12 năm 2008
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
Đề nghị tha thiết: xem (lại) chùm ảnh cái bọn đang yêu kia trước khi đọc bài;
http://my.opera.com/dodoanhoang/blog/bon-voc-nay-gan-bo-voi-thang-hoang-qua-nhieu-lan-nao-vao-cuc-phuong-cung-co-ca
Đã từ lâu lắm, lần nào vào Vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình), tôi cũng có cảm giác mình đang trở về nhà. Vì anh bảo vệ, cậu lễ tân, chị đầu bếp và mấy đời các ông giám đốc vườn đều nhận ra tôi và quá ư thân thiện ư? Vì tôi từng cùng ông Tilo Nadler đi bắt vọc, vượn ở khắp mọi nơi, cùng gã người Mường Bùi Đăng Phong và anh chàng Tim người Anh lang thang trong rừng rậm dò sóng tìm chị rùa sa nhân được định vị GPS toàn cầu để nghiên cứu ư? Hay vì những sáng tinh sương, vừa thức dậy đã thấy tiếng hào hển như còi cảnh sát, còi cứu hỏa ú chan chan tứ bề, hú mấy tiếng đồng hồ không dứt, ai nấy tá hỏa truy tìm nguồn cơn, thì ra là đàn vượn khổng lồ của ông Tilo nó thi nhau hót gọi ông mặt trời lên cao?... Không chỉ vì riêng xúc cảm nào, mà là vì tất cả những điều đó và vì nhiều cảm giác nữa, tất cả vun đắp nên một ám ảnh về lòng nhân ái của con người ta với muôn loài.
Nhân ái với người tận khổ, bao dung với cả kẻ thù của mình đã khó; nhân ái với muôn vật mới lại càng tôn rõ cái cung cách Người trong mỗi chúng ta hơn. Vọc, vượn, khỉ, cu ly, rùa, cầy vằn, gà rừng, cua núi đặc hữu Việt Nam, con voi, con kiến, con bay trên chín tầng trời, con dũi dưới lòng đất sâu… - tất cả bọn chúng đều bình đẳng trong cái quyền được tồn tại, được đối xử nhân ái. Chúng cần thiết cho loài người, cho quả đất như nhau. Hằng ngày, hằng giờ, nhiều năm nay, những loài động vật tưởng như “chim trời cá nước” vu vơ kia đã được chăm sóc tận tình, được nghiên cứu miệt mài bởi nhiều người Việt Nam và các người bạn ngoại quốc. Miệt mài và nhân ái đến khó tin.
Ông Tilo Nadler năm nay gần 70 tuổi rồi, mặt vẫn đỏ, râu vẫn rậm, dáng vẫn lừng lững, cái nhìn vẫn ngờ nghệch rất là giang hồ. Đến xuân 2008 này, Tilo ở Việt Nam đã tròn 15 năm ròng rã. Bỏ lại vợ con, gia đình đuề huề ở nước Đức, đi nửa vòng trái đất, Tilo sang Việt Nam, tình nguyện cắm chốt bảo vệ mấy con mà người Việt Nam quen miệng gọi là cái “của khỉ” (linh trưởng). Không mang một cá thể linh trưởng nào về chính quốc của mình, càng không bán buôn, lương bổng hay tham ô tham nhũng gì ở thiên nhiên và con người Việt Nam, Tilo xả thân như một hiệp sỹ bảo vệ động vật hoang dã cho chúng ta, chỉ bởi vì ông là hiệp sỹ. Ông đã dạy cho tôi và nhiều người xung quanh tôi biết rằng, sống phải có cái tinh thần hiệp sỹ ấy, để rồi phải nhân ái như thế nào với muôn loài. Tôi từng viết trên báo, Tilo là vị cứu tinh của tinh thần hiệp sỹ đang bị thất truyền của chúng ta.
Năm 1992, khi Tilo sang Việt Nam, là một gã quay phim lang bạt kỳ hồ. Anh ta đi tìm loài vọc mông trắng đã được báo cáo là tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Nó chỉ tồn tại với hình dáng ngộ nghĩnh trên con tem ố cũ của một nhà sưu tập ngoại quốc. Tilo đi nhiều ngày trong rừng tìm vọc, đặt máy quay trên ngọn cây, ròng dây xuống đất, rồi chặt những cây chuối rừng dựng lều đợi vọc từ các vách núi ra tán rừng kiếm ăn. Nắng nỏ, nhiều lượt lều lợp lá chuối xanh bị ố vàng, vọc vẫn chưa ra, đói thì ăn quả xanh, khát thì uống nước suối. Có khi giữa hoang vu, tiếng súng kíp nổ ran rợn người, một đàn vọc rơi xuống đất như những lọn lá héo. Mãi rồi, Tilo ghi nhận được hình ảnh vọc mông trắng (kèm theo đó là cảnh người ta nhốt vọc vào lồng tre, đem ra chợ bán cho nhau ăn thịt như bán mèo bán chó), các nhà khoa học quốc tế đổ xô vào nghiên cứu. Hội Động vật Frankfut đã đầu tư kinh phí và chuyên gia cho Tilo đứng ra thành lập Trung tâm cứu hộ linh trưởng nguy cấp quý hiếm tại Vườn quốc gia Cúc Phương (năm 1993). Vào thời điểm bấy giờ, việc làm của Tilo được coi là điên khùng và không ít người tỏ ra nghi ngờ thiện chí của Tilo và đồng đội của anh ta. Họ sợ gã mắt xanh mũi lõ này sẽ ủ mưu bắt hết vọc, khỉ của Việt Nam, cứu hộ quấy quá rồi đưa tuốt về “đất nước của anh ta”. Lại thêm, những ngày đầu mới hoạt động, Tilo đã hiện diện như một cỗ xe tăng Đức sắt đá nhất, dữ tợn nhất. Ông trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng của những kẻ săn bắt thú hoang, chặt phá rừng, dùng kích điện tận diệt các loài thủy sản, thậm chỉ cả các toán sơn nữ lẻ tẻ đi hái măng hái nấm trong mấy chục nghìn héc ta rừng Cúc Phương, hễ trông thấy là Tilo bắt giữ triệt để.
Một cái còng số tám, một dùi cui điện và một cuốn sách “luật” (các quy định) về bảo vệ rừng, động vật rừng, cũng như môi trường sinh thái của Việt Nam, Tilo cứ gặp cái gì sai luật là “tấn công” không để cho chúng nó thoát. Tilo còng tay bọn phá rừng, rút dùi cui điện dí lẹt xẹt cháy tay chân những kẻ dám chống trả “cảnh sát kiểm lâm ngoại quốc” bằng đòn hội đồng. Có khi, đang đi trên ô tô, gặp người dùng bình ắc quy xịt điện ra làm cho ba đời bảy kiếp thủy tộc chết “trắng bụng”, thế là Tilo nhảy ào ào xuống sông, suối, ruộng đồng, bắt quả tang người phạm tội. Bắt rồi, áp tải kẻ thủ ác lên xe, ướt như chuột lột, một tay lái vô lăng, một tay thò ra khỏi cửa xe ô tô, Tilo rong thêm chiếc xe đạp tang vật cho nó bon theo.
Sự thẳng thắn và tuân thủ pháp luật tuyệt đối của Tilo đã khiến cán bộ Vườn quốc gia Cúc Phương, kiểm lâm sở tại phát hoảng. Có lần Tilo trông thấy người ta trưng bày một tiêu bản vọc quý hiếm tại tiền sảnh một khách sạn lớn ở Ninh Bình. Tilo bất bình đòi tịch thu, chủ khách sạn bảo không được thu, đất nước chúng tôi, đi đâu chả gặp thú vật nhồi trấu để chơi. Vẫn quyển luật trong tay, Tilo gọi công an và kiểm lâm đến, yêu cầu xử lý đúng pháp luật. Cán bộ cơ sở nghe chủ khách sạn trình bày là mua tiêu bản động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng trên toàn cầu kia với giá 30 đô la. Nếu ông Tilo quyết tâm thu, nể ông tử tế với “khỉ”, ông trả 30 đô la và mang cái của khỉ ấy đi đi. Tilo trả tiền, bắt ký văn bản. Rồi Tilo cầm các quy định bảo vệ động vật hoang dã, cầm tờ giấy “biên nợ” 30 đô la và tiêu bản vọc ngũ sắc kia lên thẳng Cục Kiểm lâm Việt Nam. Rằng tôi bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm cho các ông, yêu cầu các ông thanh toán 30 đô la cho tôi. Phải có buổi “lễ” trao trả 30 đô la, và phải có giấy tờ xác nhận việc này. Ông Nguyễn Bá Thụ, bấy giờ là Cục trưởng Cục Kiểm lâm Việt Nam, “thụ lý hồ sơ” xong, biết là Tilo làm đúng; quý mến cái tinh thần hiệp sỹ ấy lắm, nhưng nghĩ lại, nếu Cục đứng ra thanh toán 30 đô la tiền “coi thường pháp luật” kia thì “ngượng” quá. Mới bèn đi nói khó với Tilo xí xóa cho. Ông Thụ và nhiều người trong cuộc đã trực tiếp kể lại cho tôi (tác giả bài viết) nghe câu chuyện này với lòng ngưỡng mộ nhân cách Tilo không giấu diếm.
Ở Việt Nam, sau 15 năm cống hiến, được Nhà nước ta tặng Huân chương Lao động hạng Nhì, và nhiều phần thưởng xứng đáng khác, Tilo đã có rất nhiều học trò xuất sắc. Cả những tiến sỹ đẳng cấp quốc tế về bảo tồn linh trưởng. Nhưng, tôi nghĩ, Tilo xuất sắc hơn cả trong vai trò là một “giáo chủ” cổ súy cho lối sống nhân ái với muôn loài. Tilo và cộng sự đã biến Trung tâm cứu hộ của mình thành tổ ấm tin cậy cho 15 loài linh trưởng quý hiếm nguy cấp nhất Đông Dương trú ngụ. Việt Nam có 25 loài linh trưởng, trong đó 15 loài cần phải cứu hộ gấp gáp, nhất là 4 loài đặc hữu (trên toàn thế giới, chỉ Việt Nam mới có), thì Tilo đã dang tay tiếp đón đầy đủ. 15 năm qua, hầu như mỗi ngày, nhân viên của Tilo và cả Tilo cùng vợ ông ta, đều bắt đầu bằng việc vào rừng kiếm hàng chục loại lá lẩu tươi hơn hớn về phục vụ việc ăn uống, chữa bệnh và sinh sản cho đàn linh trưởng. Để rồi, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nhiều loài vọc, vượn quý đã được Trung tâm tổ chức nuôi dưỡng, cho sinh sản thành công. Trong các hội thảo quy mô quốc tế được tổ chức tại Cúc Phương, báo giới Việt Nam không khỏi ngạc nhiên khi thấy các cô gái mắt xanh xinh như mộng, các chàng trai hào hoa như tài tử xi-nê cầm mi-cờ-rô hú huýt giả làm tiếng vượn để phân tích âm thành của vượn đực vượn cái, vượn non và vượn đã trưởng thành (phục vụ đi thực địa, nghiên cứu). Có cô gái đi hàng nghìn cây số đường biên ở khắp Đông Dương để điều tra về linh trưởng. Có người, suốt nhiều năm nghiên cứu xương cốt, chất thải hay tiếng hót của linh trưởng rồi sang Anh, sang Đức làm luận án tiến sỹ… khỉ. Tilo thì hễ có tin báo vượn, vọc, khỉ, cu ly bị xâm hại, là lại tất tả lên đường. Có khi lái ô tô suốt từ sáng đến tối, vào tận Quảng Nam, Đà Nẵng bắt một con chà vá bị thương. Dọc đường, bị kiểm lâm kiểm tra, ông Tilo to lớn bế chú vọc trọng lượng 2kg, tanh tưởi máu mủ đau thương vì trúng bẫy trên tay, bản thân Tilo đứng rãi nắng chày chày, nhưng ông vẫn không quên lại bẻ nắm cành lá tươi xòe thành cái lọng xanh che nắng cho con vật tội nghiệp.
Cuối cùng ông đã thành công. Nhận thức của người Việt Nam về sự cần thiết phải nhân ái với thế giới hoang dã đã được nâng lên rất nhiều. Tilo đã trở thành một biểu tượng tuân thủ luật pháp và sống tử tế với muôn loài. Khi ông mua vé máy bay, cho tôi (nhà báo) và nhân viên của ông vào tận Lâm Đồng “đòi” lại một con vọc bị kiết lỵ ốm yếu từ kẻ nuôi nhốt trái phép; khi ông mời mấy chục người, cả ông giám đốc một vườn thú bay từ bên nước Đức sang, cả nhiều giáo sư tiến sỹ Việt Nam vào Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng… để chứng kiến lễ thả 4 con vọc Hà Tĩnh của ông vào trung tâm bán hoang dã sau thời gian “cứu hộ” - khi ấy, Tilo đã thành công trong việc đưa ra một sự kiện để người Việt Nam, giới trí thức, giới truyền thông Việt Nam (và quốc tế) cùng suy ngẫm. Tilo bỏ 15 năm đẹp đẽ của đời mình vừa qua ra chăm sóc linh trưởng, để làm gì? Tilo và các cộng sự muốn đưa ra một biểu tượng, để mọi người theo đó mà chung tay bảo vệ thế giới hoang dã, bảo vệ cái tay nôi của sự sống này, bảo vệ chút lòng nhân ái với thiên nhiên còn sót lại trong mỗi chúng ta.
Trong khi ngay cả Thủ đô Hà Nội mênh mông cũng chỉ ỏn sót có được cái Vườn thú Thủ Lệ quá èo uột, muông thú sống mòn khổ sở, hổ không ra hổ, báo chẳng nên hình báo, thì ai ai cũng phải thảng thốt ao ước về một thế giới động vật được chăm sóc tử tế và nhân ái; để muông thú vui vầy nó làm giàu thêm những tinh túy của nhân cách mỗi con người. Trong nỗi hiu hắt kia, tôi đã gặp thế giới tràn ngập tình nhân ái với cái quyền được tồn tại, được bảo vệ của muôn loài, ở Cúc Phương. Vượn hót ầm trời mỗi ban mai, vọc sinh sản và nô giỡn trên các tán rừng thung thăng, vọc vượn rẽ rừng mà lướt đi như cơn bão lá. Đêm, khách du lịch trong và ngoài nước cầm đèn pin, nhúng chân trong các bể hóa chất diệt khuẩn để được tìm đến thế giới hôi nồng của cầy vằn, cầy mực trong các tán rừng được giăng dây thép bảo vệ. Ngày, hàng chục chàng trai cô gái xứ Mường cùng các nhà khoa học miệt mài làm việc ở trung tâm cứu hộ rùa, những con rùa to như nong sảy được chăm sóc theo tiêu chuẩn quốc tế, được đón từ sân bay về bằng xe chuyên dụng tiền tỷ. Nhiều chuyên gia nước ngoài ăn dầm nằm dề trong rừng già Cúc Phương để dùng máy dò sóng tìm các chú rùa sa nhân được gắn chíp điện tử định vị toàn cầu…
Cửa rừng Cúc Phương có tấm biển: “Bạn đừng đem ra khỏi rừng cái gì, ngoài những tấm ảnh đẹp. Bạn đừng bỏ lại trong rừng cái gì, ngoài bước chân của bạn”. Sống trách nhiệm và tử tế với môi trường, thiên nhiên, muông thú và sự sống nói chung…, đó cũng là điều mà Tilo và các nhà bảo tồn xả đã và đang thân cống hiến kia muốn bày tỏ, muốn chứng minh. Không hiểu sao, tôi cứ nghĩ, Tilo đã đến Việt Nam, bằng cách cưỡi lên một đám mây chứa nhiều khát vọng về tình nhân ái.
Cúc Phương, tháng 12 năm 2008












