Viết nhân dịp ngồi nhớ cao nguyên Đắc Lắc
Wednesday, January 7, 2009 5:53:29 AM
Y Mip Ayun - đem cồng chiêng đi khắp thế gian…
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Chiếc điện thoại di động buộc dây xích của Y Mip Ayun
Tôi đi tìm buôn Ko Siêr và ông “Nghệ nhân dân gian” Y Mip Ayun - tên thân mật là Ama Kim, người dân tộc Ê đê trên Đắc Lắc. Tên buôn làng và tên Ama Kim đều trúc trắc, cứ tưởng đường xá phải khúc khuỷu gập ghềnh lắm. Ai ngờ, đường nhựa vào tận cổng nhà Y Mip Ayun, có tên phố tên đường với số nhà và ngách rẽ chỉ bấm di động một phút là các chú lái taxi săng sái của TP Buôn Ma Thuột tìm đến ngay. Lại thêm, Ama Kim quá trẻ so với cái tuổi 65 của mình. Và, sự tân tiến của Ama Kim đã chút đỉnh lộ ra, khi ông móc từ trong bụng mình ra một cái điện thoại di động cũ để tê-lê-phôn cho đội trưởng đến tiếp khách Hà Nội. Điện thoại được trói bằng một sợi dây xích dài, đầu xích móc vào nút áo ngực Ama Kim, ông nói chậm dãi: để phòng khi rượu say chệch choạng leo lên nhà sàn nó rơi mất thì có mà… “mếu”.
Những tưởng chuyến hành hương của tôi về với không gian cổ sơ - cồng chiêng Tây Nguyên - sẽ bị bẽ bàng vì những thứ lai căng, tân cổ giao duyên đang phũ phàng xuất hiện. Nhưng không! Ama Kim phải được trang bị điện thoại di động, để đi lang thang khắp Tây Nguyên lựa mua tre nứa và những quả bầu già đen nhoáy về chế tác nhạc cụ, phải bất thình lình được trưởng đội cồng chiêng buôn Ko Siêr vời về để đi biểu diễn ở sân khấu nào đó, tỉnh nào đó, quốc gia nào đó trên tít tắp nhân gian. Ama Kim nói chuyện chậm rãi. Cuộc sống đô hội, tất tật không ba động gì được vào cái khối nguyên chất, hoang sơ, cổ xưa, thô nhám vẫn ngự trị trong ông già Ama Kim. Như lửa trong nhà sàn ông đang ngồi, muôn đời vẫn vậy, mặc điện thoại di động reo, mặc còi ô tô xe máy tán loạn khắp buôn làng. Ama Kim nhìn mọi thứ cứ thật thà như con dao nhỏ cong vút đóng chuôi bằng cây mây rừng già cũng hình bán nguyệt chuyên để vót khoét hàng chục thứ nhạc cụ khác nhau kia. Y Mip Ayun tự tay nổi lửa, tự tay nung sắt làm dao dựa, tự tay đẽo vót, đúc cả chiêng đồng, rồi đem các nhạc cụ của mình, cùng với các bộ chiêng cổ cha ông để lại từ mấy trăm năm trước mà đi biểu diễn. Ông đã rời buôn Ko Siêr, cùng các nghệ nhân Ê đê là hàng xóm của mình đi bao nhiêu quốc gia? “Thụy Điển, Italia, Pháp, Bỉ, Campuchia, đi khắp Việt Nam…, ôi, đi miết, đi riết mãi, lâu lâu lại đi Tây một chuyến dài dài, không nhớ hết đâu. Riêng Thụy Điển đi hai lần, cái lần sau đi một lèo khắp nước Pháp, ăn Tết ta ở thành phố Li-ông của họ cơ mà!”.
Ngoài cái điện thoại tróc ghỉ, và mái tóc bổ luống giữa lòa xòa (Ama Kim thích thú tự nhận là giống ông Trần Văn Lạng, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Đắc Lắc - nay đã chuyển công tác “lên Trung ương” ở ngoài Hà Nội – người rất say mê đội chiêng), Y Mip Ayun là một “không gian”, một miền cổ sơ của Tây Nguyên đích thực. “Hôm vừa rồi, tôi đi dạy đánh cồng chiêng cho các cái người trẻ ở khu vực Thác Trinh Nữ (tỉnh Đắc Nông), đang biểu diễn thì thấy một người có mái tóc bổ đôi như tôi ra chào. Trời ơi, ông Lạng. Gặp lại đội cồng chiêng buôn Ko Siêr, ông Lạng mừng lắm. Cứ ôm vai nhau nói chuyện tíu tít. Độ ấy, ông đang định tổ chức cho chúng tôi đem cồng chiêng lên tàu bay sang Tây Ban Nha biểu diễn, đang rậm rịch thì ông lại được điều chuyển ra Hà Nội, tiếc quá…”. Đi dọc ngang địa cầu, cồng chiêng, các dụng cụ do Ama Kim chế tác bằng tre nứa, dây đay, quả bầu cũ cong vẹo… - đó, có lẽ là những dụng cụ mộc mạc tre pheo cỏ rả của Việt Nam được đi máy bay nhiều nhất! Ama Pur, trưởng đội cồng chiêng buôn Ko Siêr cầm sổ tay của tôi, viết mấy chục phút, chữ nghĩa loằn ngoằn mới đủ tên của 10 thành viên đội chiêng buồn mình, từ Y Duê Niê đến H’ Thuy, rồi Ama Pur tự hào: Ama Kim là linh hồn của đội chiêng chúng tôi. Hai nghệ nhân đã mở cái kho toàn dụng cụ khổng lồ, dài ngoẵng ra, họ bế những cái chiêng to như cái nong xảy ra giới thiệu với khách. Mắm mỏ nhấc một “hồn chiêng cổ” lên, tôi chợt giật mình: ngần này “dụng cụ” cho những cuộc lưu diễn nước ngoài, riêng tiền “cước tàu bay” đã là khổng lồ rồi. Đấy là chưa kể hơn chục ông bà đóng khố mắc váy người Ê đê của buôn nhà Ama Kim nữa chứ. Chơi sang quá.
Vẫn con dao bé như lá lúa, cong veo như một vành trăng khuyết và sắc như nước lạnh, Ama Kim tiếp tục gọt đẽo dụng cụ, thỉnh thoảng nghỉ tay thử gõ chiêng làm sao để tập cho “trái tim chiêng” có được nhịp đập quyến rũ nhất. Ông chẳng để ý đến cước máy bay, cũng chẳng nhớ mình đã đi bao nhiêu quốc gia để tấu lên những giai điệu nguyên sơ tối cổ của đại ngàn Tây Nguyên, chẳng cần biết cả thế giới đang chiêm ngưỡng “không gian văn hóa cồng chiêng” như thế nào, khi mà các giá trị này đã chính thức được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Trong nhà Ama Kim có treo tấm Bằng công nhận Nghệ nhân dân gian do đích thân GSTS Tô Ngọc Thanh, Tổng thư ký Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam trao trặng, Ama Kim cũng chẳng mấy quan tâm. Ông là báu vật nhân văn sống ư? Điều đó có nghĩa gì nhiều không nhỉ, khi mà danh hiệu “nghệ nhân” với chữ ký, triện đỏ, bảng vàng vừa mới trao cho ông được mấy tháng, trong khi, suốt nửa thế kỷ qua, Ama Kim đã là người chơi nhạc cụ hào hoa và hào sảng nhất của khu vực. Chơi và chế tác các nhạc cụ, với ông là một nhu cầu như cơm ăn nước uống, là cái gì đó hẳn nhiên như máu nóng chảy dưới da mềm của con người, của chính ông.
Thế giới sáng tạo trên nhà sàn của “bố Kim”
Khi kiểm kê lại số lượng chiêng ở Tây Nguyên, người ta rùng mình thấy nó bị mai một quá khủng khiếp. Những tượng nhà mồ đẹp nhất, giờ đã biến mất, thay vào đó là… tượng chim công với lại ngà voi “dựng” bằng bê tông cốt thép. Có khi tại một quán cà phê của chàng nghệ sỹ nọ ở Kon Tum, có khi ở Bảo tàng Dân tộc học ngoài Hà Nội, tượng nhà mồ lại được làm bằng gỗ cũ mốc, đẹp hơn cả. Những người gọi hồn cho chiêng đích thực, từng được các bộ tộc bên Lào cho mời sang “chỉnh chiêng” như một huyền thoại bằng da bằng thịt, giờ chấp nhận hiu hắt nghèo mà vẫn không được sống bằng nghề. Giữa bối cảnh đó, Ama Kim vẫn lặng lẽ sống trong cái mạch ngầm cổ xưa của mình, ông chống lại sự biến mất của những giá trị truyền thống, chỉ bằng một động thái tự nhiên nhi nhiên, ông không quan tâm đến những vấn đề cao siêu, kinh viện khác, đơn giản là ông thấy mình cần phải làm thế: ông rời ngôi nhà bê tông mà con cháu mới xây, cất một nếp nhà sàn nhỏ bé, ra ở riêng. Ở đó, là không gian sáng tạo và tôn vinh của nả ông bà để lại để ơn… Giàng. Tràn ngập bằng khen trên bốn bức vách ván thưng. Hai bầu ngực tròn căng mọng bằng gỗ đẽo trên cầu thang lên nhà (là hai cây gỗ lớn). Căn phòng ám khói đen kịt. Ở đó, treo la liệt các vật dụng xưa cũ, đen nâu bóng nhẫy nước thời gian. Nhiều nhất là các lại nhạc cụ. Đó là một tổng kho với hàng trăm quả bầu, hàng ngàn ống nứa để ngày ngày Ama Kim chế tác nhạc cụ. Có khi ông phải bắt xe đò vượt hơn 100km về tận Đắc Nông để tìm mua tre nứa vàng óng, thon thả, theo đúng yêu cầu khắt khe của các vật liệu chế tác nhạc cụ. Nhạc cụ làm xong, có khi Ama Kim đem cho người khác, có khi đem nhượng cho các đoàn nghệ thuật. Đây là đinh năm, tù và, đinh puốt, đinh tặc tà, mỗi dụng cụ một hình dáng yêu yêu, thứ âm thanh chúng tấu lên, thì có sức ma mị lòng người. Ama Kim đã thổi hồn mình vào cho cỏ cây, để thảo mộc cũng vang lên những thứ ngôn ngữ nhiệm màu kỳ lạ.
Ama Kim gọt đẽo, rồi ông biểu diễn nhiều thứ nhạc cụ trước mặt tôi, đến con trai và con dâu ông cũng phải ngỡ nàng. Đây là Đinh Năm, làm từ một quả bầu và 6 ống sáo nứa; kia là Đinh Tặc Tè, vẫn là một quả bầu, song chỉ có duy nhất một ống nứa thẳng đuột nâu bóng; tiếp đến là đủ thứ dụng cụ mà Ama Kim mới “gọt” ra: Đinh Buốt (Đinh Klẽ), đàn Gông Kram, Đinh Tốt, Đinh Ktút…
Lễ mừng cơm mới, đám ma, lễ cúng chúc phúc, liên hoan văn hóa ở tỉnh, ở Tây Tàu, hễ có lời mời là chàng lãng tử trong ông già 65 tuổi Ama Kim lại hào hứng ra khỏi buôn. Nếu không cảm được từng tiếng chiêng, thì rất khó để nói cho người ta biết về cái khó của việc đánh chiêng. Mỗi anh nghệ nhân “ôm” một chiêng, khi đánh, sẽ: hoặc là thành cái bài gọi nhau về sum họp; hoặc bài chào khách, bài mô phỏng theo tiếng thác đổ ầm ào, tiếng mưa đá thống thiết, bài mơ màng như tiếng chong chóng quay ngoài gió lộng cao nguyên với biền biệt hoa cúc quỳ nở rộ. Rất khó để dạy cho người khác học để… biểu diễn kiếm tiền. Vừa rồi, đội chiêng buôn Ko Siêr nhận lời dạy cho các người trẻ làm du lịch ở thác Trinh Nữ, họ không thể học được, là bởi vì mỗi người phải phụ trách một cái chiêng, 8 chiêng mới đủ, mà “quân” du lịch chỉ muốn học qua loa đánh lèng phèng gọi là có chiêng cho nó ra cái không khí Tây Nguyên. Đủ người rồi, cũng không nên thay đổi vị trí từng người biểu diễn, từng nhạc cụ (chiêng), vì mỗi chiêng làm một nhiệm vụ, mỗi chiêng phát ra một âm thanh khác, phải có người “chuyên sâu” thì mới nhuyễn được. Học rồi, đánh phèng phèng được rồi, ít ngày không biểu diễn là học viên lại quên béng. Với chiêng, nghệ nhân phải gắn bó với nhạc cụ của mình như chân như tay. Phải đánh trúng tim của chiêng, gọi được hồn chiêng về, nhưng cũng lại phải sử dụng toàn thân chiêng để biểu diễn. Hễ không tài hoa trong điều khiển, là sẽ để lạc mất tiếng chiêng đích thực đã gắn bó với bà con mình từ nhiều thế hệ, từ mấy trăm năm ròng kia.
Từ khi còn là một cậu bé, những lúc cầm sừng trâu chiêu nước vào trong bình rượu cần phục vụ các cụ trong buôn; từ lúc tự thấy mình là người đàn ông vâm váp, chạy vạy ngược xuôi mổ lợn, giết trâu, hiếu động gõ chiêng ào ào trong các đám ma tràn ngập rượu, Y Míp Ayun đã được sống trong không gian đắm say và linh thiêng của cồng chiêng, của các nhạc cụ Ê đê giản dị mà nhiệm màu. Cứ gõ mãi, gõ lung tùng ụ xọe, cứ bị các Ama (cha) mắng cho tơi bời vì tay long ngóng như rễ cây, tai ù đặc như phiến đá - tự khắc hồn chiêng sẽ dần dà ngấm vào Ama Kim hay các chàng Ê đê hào sảng yêu ca hát nhảy múa khác. Cứ thế, những âm thanh kia nó ngấm vào các nghệ nhân, từ mỗi đêm nổi lửa, từ mỗi ngày chăm sóc hũ rượu cần cho bề trên, từ khi thúc tiếng chiêng lên mừng một sinh linh ra đời hay khóc thương một người già hết cõi. Thế nên, nếu ai đó hỏi Nghệ nhân dân gian nổi tiếng, linh hồn của đội chiêng buôn Ko Siêr danh tiếng là: “ông học biểu diễn cồng chiêng và chế tác các loại nhạc cụ của buôn làng Ê đê kia từ bao giờ?”, Ama Kim sẽ không biết. Sẽ chỉ cười trừ, gãi đầu, rồi lại miệt mài dùng con dao cong như một vành trăng khuyết tiếp tục vót, gọt, khoét các nhạc cụ hồn nhiên và tùy hứng khác.
Một quả bầu to, cái sừng (cuống) vểnh cong như vò rượu cổ, như cặp tuyết lê mơn mởn, nó được Ama Kim khoét lỗ, cắm vào một ống nứa hoặc dăm ba ống sáo nứa dài, thế là thành một vị thần âm thanh kỳ bí. Giai điệu của nó, mỗi “anh” mỗi khác, nhưng hễ nó ra nhời là người nghe thấy núi rừng, suối thác của Tây Nguyên ào đến rất gần. Quả bầu trắng, quả bầu ám đen bồ hóng, hay ống nứa vàng, ống nứa bé như một cây bút kim tinh, đều được Ama Kim thổi sự tài hoa của mình vào, biến nó thành nhạc cụ “quỷ khốc thần sầu” với hình dáng rất là hợp lý. Đó là lý do để từ buôn Ko Siêr, các nghệ nhân vi vui khắp nhiều quốc gia trên thế giới. Khi nhìn mười mấy người đàn ông, đàn bà Ê đê mặc áo bành tô sang trọng, đội mũ lông long lánh tuyết phủ, ngồi trên xe trượt tuyết, nằm trên bãi biển lộng lẫy trời xanh nắng vàng, hay tươi cười bên những bảo tàng cổ kính sang trọng của Pari hoa lệ, lòng tôi thấy xôn xao vui. Niềm vui ngỡ ngàng, lạ lạ. Dường như, tiếng cồng chiêng, tiếng réo rắt của các nhạc cụ truyền thống vùng cao nguyên lộng gió Đắc Lắc đã thổi đẩy những nghệ nhân quê mùa kia bay khắp nhân gian, phủ lên họ một thứ ánh sáng rộn ràng khác, khiến ta không còn nhận ra họ được nữa. Song, tôi nghĩ, chính lúc đó, họ mới đích thị là họ nhất, lúc đó, họ tài hoa và hào hoa như vốn có. Chỉ có điều chàng lãng tử Y Míp Ayun, trong lúc diễn tấu ở đám ma buôn làng, cúng nhà mới, lễ cơm mới, vẻ đẹp tâm hồn của chàng không thể hiện theo cái cách mà chúng ta trông thấy khi chàng ở những kinh đô ánh sáng Pari, Thụy Điển, Italia, Bỉ…
Những ngày ở trời Tây lạnh giá, sững sờ trước thiên nhiên và các công trình tráng lệ của nước bạn, đôi khi, Y Míp Ayun lại muốn bật khóc vì tự hào, khi mà những người bạn ngoại quốc hứng khởi xông lên sân khấu, cùng vỗ tay, nhảy theo nhịp múa của các đàn ông, đàn bà người Ê đê đóng khố, váy đỏ rực rỡ. Khi mười mấy người buôn Ko Siêr có dịp đón cái Tết Việt Nam tại thành phố Ly - ông trong chuyến biểu diễn xuyên nước Pháp dài 20 ngày, Ama Kim thấy người mắt xanh mũi lõ họ trân trọng rà tay lên mặt đồng đen bóng, đỏ au của bộ chiêng cổ hơn 200 năm rồi xuýt xoa, ông mới hiểu vì sao không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên lại được công nhận là kiệt tác văn hóa của nhân loại. Lại có khi được biểu diễn cho các bậc đại thụ đã gắn bó máu thịt với âm nhạc và văn hóa dân tộc thưởng thức, như GS Trần Văn Khê, GS Tô Ngọc Thanh, Ama Kim vui lắm. Ông và đội cùng “ra quân” như nhập đồng, sau bài chào khách, là làn gió đong đưa dịu nhẹ, man mác, rồi tiếng chiêng đổ mạnh dần, sầm sập, tiếng chong chóng hút gió quay tròn (bài Chong chóng quay). Lại tiếng mưa đá ào ạt (bài Mưa đá). Tiếng đinh tặc tà, cứ tặc tà rà, tặc tà rà ngân lên. Chỉ là những ống tre, thanh tre, là quả bầu đi ở đâu trên đất nước này cũng bắt gặp, nhưng, khi được thổi hồn của người nghệ nhân chắt chiu như Ama Kim vào, các nhạc cụ đó và âm thanh của nó, trở thành “báu vật” của nhân loại. Là kiệt tác truyền khẩu. Bản thân những người nghệ sỹ có vẻ đẹp đàn ông lãng đãng kia là những “báu vật nhân văn sống”.
Box:
Ama Kim (Y Míp Ayun), sinh năm 1943. Vợ chồng ông sinh được có 6 người con, họ đều sống nghèo, không có rẫy, không có đất ruộng. Lại thêm đứa con bị bệnh tâm thần dật dờ ngoài đầu ngõ, có đứa nát rượu đánh vợ nhiều đến mức phải ly dị. Con trai, con dâu đều đi làm thuê, mỗi tháng được mấy trăm nghìn đồng, công việc khi có khi không. Nhưng, với Ama Kim, ông chấp nhận cuộc sống bần hàn, chỉ cần đủ cơm ăn, rồi được biểu diễn và sáng tạo các nhạc cụ cha ông, là vui lắm rồi. Thì tuổi già, biết làm gì hơn? Với ông, niềm vui với thế giới vừa vi diệu vừa hùng tráng của cồng chiêng, của đinh năm, đinh puốt, đinh tặc tà, là lớn hơn hết thảy.
Buôn làng, nhiều khi thấy Ama Kim nổi lửa nung sắt thép rèn dao, dựa, cuốc, xẻng rồi cả những con dao lá lúa cong vút để chế tác nhạc cụ (có khi ngẫu hứng, ông còn nấu đồng để đúc chiêng!), người ta bảo, ông Ama Kim sắp khùng (điên rồ). Nhưng, Ama Kim đã đúng. Tài hoa của ông, tâm huyết của ông đã được cả Việt Nam và nhiều quốc gia ghi nhận: ông là nghệ nhân dân gian ưu tú. Là tấm gương tiêu biểu cho linh hồn của cồng chiêng, khi di sản này được UNESCO công nhận là kiệt tác vô giá của nhân loại. Ama Kim từng đoạt các danh hiệu - giải thưởng: nghệ nhân xuất sắc trong liên hoan văn hóa nghệ thuật Tây Nguyên; Giải Bông sen Vàng, liên hoan hòa tấu âm nhạc dân tộc TP HCM lần 2; Giải nhất môn đánh chiêng của Buôn Ma Thuột năm 1997; huy chương vàng tại Liên hoan Văn hoá cồng chiêng toàn quốc; huy chương vàng các tiết mục hoà tấu nhạc cụ đing năm, tù và, đing puốt, đing tặc tà...
(Bài có kèm chùm 5 ảnh, blog vẫn bị lỗi, chửa tải ảnh lên được, nỏ biết tại mô)
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Chiếc điện thoại di động buộc dây xích của Y Mip Ayun
Tôi đi tìm buôn Ko Siêr và ông “Nghệ nhân dân gian” Y Mip Ayun - tên thân mật là Ama Kim, người dân tộc Ê đê trên Đắc Lắc. Tên buôn làng và tên Ama Kim đều trúc trắc, cứ tưởng đường xá phải khúc khuỷu gập ghềnh lắm. Ai ngờ, đường nhựa vào tận cổng nhà Y Mip Ayun, có tên phố tên đường với số nhà và ngách rẽ chỉ bấm di động một phút là các chú lái taxi săng sái của TP Buôn Ma Thuột tìm đến ngay. Lại thêm, Ama Kim quá trẻ so với cái tuổi 65 của mình. Và, sự tân tiến của Ama Kim đã chút đỉnh lộ ra, khi ông móc từ trong bụng mình ra một cái điện thoại di động cũ để tê-lê-phôn cho đội trưởng đến tiếp khách Hà Nội. Điện thoại được trói bằng một sợi dây xích dài, đầu xích móc vào nút áo ngực Ama Kim, ông nói chậm dãi: để phòng khi rượu say chệch choạng leo lên nhà sàn nó rơi mất thì có mà… “mếu”.
Những tưởng chuyến hành hương của tôi về với không gian cổ sơ - cồng chiêng Tây Nguyên - sẽ bị bẽ bàng vì những thứ lai căng, tân cổ giao duyên đang phũ phàng xuất hiện. Nhưng không! Ama Kim phải được trang bị điện thoại di động, để đi lang thang khắp Tây Nguyên lựa mua tre nứa và những quả bầu già đen nhoáy về chế tác nhạc cụ, phải bất thình lình được trưởng đội cồng chiêng buôn Ko Siêr vời về để đi biểu diễn ở sân khấu nào đó, tỉnh nào đó, quốc gia nào đó trên tít tắp nhân gian. Ama Kim nói chuyện chậm rãi. Cuộc sống đô hội, tất tật không ba động gì được vào cái khối nguyên chất, hoang sơ, cổ xưa, thô nhám vẫn ngự trị trong ông già Ama Kim. Như lửa trong nhà sàn ông đang ngồi, muôn đời vẫn vậy, mặc điện thoại di động reo, mặc còi ô tô xe máy tán loạn khắp buôn làng. Ama Kim nhìn mọi thứ cứ thật thà như con dao nhỏ cong vút đóng chuôi bằng cây mây rừng già cũng hình bán nguyệt chuyên để vót khoét hàng chục thứ nhạc cụ khác nhau kia. Y Mip Ayun tự tay nổi lửa, tự tay nung sắt làm dao dựa, tự tay đẽo vót, đúc cả chiêng đồng, rồi đem các nhạc cụ của mình, cùng với các bộ chiêng cổ cha ông để lại từ mấy trăm năm trước mà đi biểu diễn. Ông đã rời buôn Ko Siêr, cùng các nghệ nhân Ê đê là hàng xóm của mình đi bao nhiêu quốc gia? “Thụy Điển, Italia, Pháp, Bỉ, Campuchia, đi khắp Việt Nam…, ôi, đi miết, đi riết mãi, lâu lâu lại đi Tây một chuyến dài dài, không nhớ hết đâu. Riêng Thụy Điển đi hai lần, cái lần sau đi một lèo khắp nước Pháp, ăn Tết ta ở thành phố Li-ông của họ cơ mà!”.
Ngoài cái điện thoại tróc ghỉ, và mái tóc bổ luống giữa lòa xòa (Ama Kim thích thú tự nhận là giống ông Trần Văn Lạng, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Đắc Lắc - nay đã chuyển công tác “lên Trung ương” ở ngoài Hà Nội – người rất say mê đội chiêng), Y Mip Ayun là một “không gian”, một miền cổ sơ của Tây Nguyên đích thực. “Hôm vừa rồi, tôi đi dạy đánh cồng chiêng cho các cái người trẻ ở khu vực Thác Trinh Nữ (tỉnh Đắc Nông), đang biểu diễn thì thấy một người có mái tóc bổ đôi như tôi ra chào. Trời ơi, ông Lạng. Gặp lại đội cồng chiêng buôn Ko Siêr, ông Lạng mừng lắm. Cứ ôm vai nhau nói chuyện tíu tít. Độ ấy, ông đang định tổ chức cho chúng tôi đem cồng chiêng lên tàu bay sang Tây Ban Nha biểu diễn, đang rậm rịch thì ông lại được điều chuyển ra Hà Nội, tiếc quá…”. Đi dọc ngang địa cầu, cồng chiêng, các dụng cụ do Ama Kim chế tác bằng tre nứa, dây đay, quả bầu cũ cong vẹo… - đó, có lẽ là những dụng cụ mộc mạc tre pheo cỏ rả của Việt Nam được đi máy bay nhiều nhất! Ama Pur, trưởng đội cồng chiêng buôn Ko Siêr cầm sổ tay của tôi, viết mấy chục phút, chữ nghĩa loằn ngoằn mới đủ tên của 10 thành viên đội chiêng buồn mình, từ Y Duê Niê đến H’ Thuy, rồi Ama Pur tự hào: Ama Kim là linh hồn của đội chiêng chúng tôi. Hai nghệ nhân đã mở cái kho toàn dụng cụ khổng lồ, dài ngoẵng ra, họ bế những cái chiêng to như cái nong xảy ra giới thiệu với khách. Mắm mỏ nhấc một “hồn chiêng cổ” lên, tôi chợt giật mình: ngần này “dụng cụ” cho những cuộc lưu diễn nước ngoài, riêng tiền “cước tàu bay” đã là khổng lồ rồi. Đấy là chưa kể hơn chục ông bà đóng khố mắc váy người Ê đê của buôn nhà Ama Kim nữa chứ. Chơi sang quá.
Vẫn con dao bé như lá lúa, cong veo như một vành trăng khuyết và sắc như nước lạnh, Ama Kim tiếp tục gọt đẽo dụng cụ, thỉnh thoảng nghỉ tay thử gõ chiêng làm sao để tập cho “trái tim chiêng” có được nhịp đập quyến rũ nhất. Ông chẳng để ý đến cước máy bay, cũng chẳng nhớ mình đã đi bao nhiêu quốc gia để tấu lên những giai điệu nguyên sơ tối cổ của đại ngàn Tây Nguyên, chẳng cần biết cả thế giới đang chiêm ngưỡng “không gian văn hóa cồng chiêng” như thế nào, khi mà các giá trị này đã chính thức được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Trong nhà Ama Kim có treo tấm Bằng công nhận Nghệ nhân dân gian do đích thân GSTS Tô Ngọc Thanh, Tổng thư ký Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam trao trặng, Ama Kim cũng chẳng mấy quan tâm. Ông là báu vật nhân văn sống ư? Điều đó có nghĩa gì nhiều không nhỉ, khi mà danh hiệu “nghệ nhân” với chữ ký, triện đỏ, bảng vàng vừa mới trao cho ông được mấy tháng, trong khi, suốt nửa thế kỷ qua, Ama Kim đã là người chơi nhạc cụ hào hoa và hào sảng nhất của khu vực. Chơi và chế tác các nhạc cụ, với ông là một nhu cầu như cơm ăn nước uống, là cái gì đó hẳn nhiên như máu nóng chảy dưới da mềm của con người, của chính ông.
Thế giới sáng tạo trên nhà sàn của “bố Kim”
Khi kiểm kê lại số lượng chiêng ở Tây Nguyên, người ta rùng mình thấy nó bị mai một quá khủng khiếp. Những tượng nhà mồ đẹp nhất, giờ đã biến mất, thay vào đó là… tượng chim công với lại ngà voi “dựng” bằng bê tông cốt thép. Có khi tại một quán cà phê của chàng nghệ sỹ nọ ở Kon Tum, có khi ở Bảo tàng Dân tộc học ngoài Hà Nội, tượng nhà mồ lại được làm bằng gỗ cũ mốc, đẹp hơn cả. Những người gọi hồn cho chiêng đích thực, từng được các bộ tộc bên Lào cho mời sang “chỉnh chiêng” như một huyền thoại bằng da bằng thịt, giờ chấp nhận hiu hắt nghèo mà vẫn không được sống bằng nghề. Giữa bối cảnh đó, Ama Kim vẫn lặng lẽ sống trong cái mạch ngầm cổ xưa của mình, ông chống lại sự biến mất của những giá trị truyền thống, chỉ bằng một động thái tự nhiên nhi nhiên, ông không quan tâm đến những vấn đề cao siêu, kinh viện khác, đơn giản là ông thấy mình cần phải làm thế: ông rời ngôi nhà bê tông mà con cháu mới xây, cất một nếp nhà sàn nhỏ bé, ra ở riêng. Ở đó, là không gian sáng tạo và tôn vinh của nả ông bà để lại để ơn… Giàng. Tràn ngập bằng khen trên bốn bức vách ván thưng. Hai bầu ngực tròn căng mọng bằng gỗ đẽo trên cầu thang lên nhà (là hai cây gỗ lớn). Căn phòng ám khói đen kịt. Ở đó, treo la liệt các vật dụng xưa cũ, đen nâu bóng nhẫy nước thời gian. Nhiều nhất là các lại nhạc cụ. Đó là một tổng kho với hàng trăm quả bầu, hàng ngàn ống nứa để ngày ngày Ama Kim chế tác nhạc cụ. Có khi ông phải bắt xe đò vượt hơn 100km về tận Đắc Nông để tìm mua tre nứa vàng óng, thon thả, theo đúng yêu cầu khắt khe của các vật liệu chế tác nhạc cụ. Nhạc cụ làm xong, có khi Ama Kim đem cho người khác, có khi đem nhượng cho các đoàn nghệ thuật. Đây là đinh năm, tù và, đinh puốt, đinh tặc tà, mỗi dụng cụ một hình dáng yêu yêu, thứ âm thanh chúng tấu lên, thì có sức ma mị lòng người. Ama Kim đã thổi hồn mình vào cho cỏ cây, để thảo mộc cũng vang lên những thứ ngôn ngữ nhiệm màu kỳ lạ.
Ama Kim gọt đẽo, rồi ông biểu diễn nhiều thứ nhạc cụ trước mặt tôi, đến con trai và con dâu ông cũng phải ngỡ nàng. Đây là Đinh Năm, làm từ một quả bầu và 6 ống sáo nứa; kia là Đinh Tặc Tè, vẫn là một quả bầu, song chỉ có duy nhất một ống nứa thẳng đuột nâu bóng; tiếp đến là đủ thứ dụng cụ mà Ama Kim mới “gọt” ra: Đinh Buốt (Đinh Klẽ), đàn Gông Kram, Đinh Tốt, Đinh Ktút…
Lễ mừng cơm mới, đám ma, lễ cúng chúc phúc, liên hoan văn hóa ở tỉnh, ở Tây Tàu, hễ có lời mời là chàng lãng tử trong ông già 65 tuổi Ama Kim lại hào hứng ra khỏi buôn. Nếu không cảm được từng tiếng chiêng, thì rất khó để nói cho người ta biết về cái khó của việc đánh chiêng. Mỗi anh nghệ nhân “ôm” một chiêng, khi đánh, sẽ: hoặc là thành cái bài gọi nhau về sum họp; hoặc bài chào khách, bài mô phỏng theo tiếng thác đổ ầm ào, tiếng mưa đá thống thiết, bài mơ màng như tiếng chong chóng quay ngoài gió lộng cao nguyên với biền biệt hoa cúc quỳ nở rộ. Rất khó để dạy cho người khác học để… biểu diễn kiếm tiền. Vừa rồi, đội chiêng buôn Ko Siêr nhận lời dạy cho các người trẻ làm du lịch ở thác Trinh Nữ, họ không thể học được, là bởi vì mỗi người phải phụ trách một cái chiêng, 8 chiêng mới đủ, mà “quân” du lịch chỉ muốn học qua loa đánh lèng phèng gọi là có chiêng cho nó ra cái không khí Tây Nguyên. Đủ người rồi, cũng không nên thay đổi vị trí từng người biểu diễn, từng nhạc cụ (chiêng), vì mỗi chiêng làm một nhiệm vụ, mỗi chiêng phát ra một âm thanh khác, phải có người “chuyên sâu” thì mới nhuyễn được. Học rồi, đánh phèng phèng được rồi, ít ngày không biểu diễn là học viên lại quên béng. Với chiêng, nghệ nhân phải gắn bó với nhạc cụ của mình như chân như tay. Phải đánh trúng tim của chiêng, gọi được hồn chiêng về, nhưng cũng lại phải sử dụng toàn thân chiêng để biểu diễn. Hễ không tài hoa trong điều khiển, là sẽ để lạc mất tiếng chiêng đích thực đã gắn bó với bà con mình từ nhiều thế hệ, từ mấy trăm năm ròng kia.
Từ khi còn là một cậu bé, những lúc cầm sừng trâu chiêu nước vào trong bình rượu cần phục vụ các cụ trong buôn; từ lúc tự thấy mình là người đàn ông vâm váp, chạy vạy ngược xuôi mổ lợn, giết trâu, hiếu động gõ chiêng ào ào trong các đám ma tràn ngập rượu, Y Míp Ayun đã được sống trong không gian đắm say và linh thiêng của cồng chiêng, của các nhạc cụ Ê đê giản dị mà nhiệm màu. Cứ gõ mãi, gõ lung tùng ụ xọe, cứ bị các Ama (cha) mắng cho tơi bời vì tay long ngóng như rễ cây, tai ù đặc như phiến đá - tự khắc hồn chiêng sẽ dần dà ngấm vào Ama Kim hay các chàng Ê đê hào sảng yêu ca hát nhảy múa khác. Cứ thế, những âm thanh kia nó ngấm vào các nghệ nhân, từ mỗi đêm nổi lửa, từ mỗi ngày chăm sóc hũ rượu cần cho bề trên, từ khi thúc tiếng chiêng lên mừng một sinh linh ra đời hay khóc thương một người già hết cõi. Thế nên, nếu ai đó hỏi Nghệ nhân dân gian nổi tiếng, linh hồn của đội chiêng buôn Ko Siêr danh tiếng là: “ông học biểu diễn cồng chiêng và chế tác các loại nhạc cụ của buôn làng Ê đê kia từ bao giờ?”, Ama Kim sẽ không biết. Sẽ chỉ cười trừ, gãi đầu, rồi lại miệt mài dùng con dao cong như một vành trăng khuyết tiếp tục vót, gọt, khoét các nhạc cụ hồn nhiên và tùy hứng khác.
Một quả bầu to, cái sừng (cuống) vểnh cong như vò rượu cổ, như cặp tuyết lê mơn mởn, nó được Ama Kim khoét lỗ, cắm vào một ống nứa hoặc dăm ba ống sáo nứa dài, thế là thành một vị thần âm thanh kỳ bí. Giai điệu của nó, mỗi “anh” mỗi khác, nhưng hễ nó ra nhời là người nghe thấy núi rừng, suối thác của Tây Nguyên ào đến rất gần. Quả bầu trắng, quả bầu ám đen bồ hóng, hay ống nứa vàng, ống nứa bé như một cây bút kim tinh, đều được Ama Kim thổi sự tài hoa của mình vào, biến nó thành nhạc cụ “quỷ khốc thần sầu” với hình dáng rất là hợp lý. Đó là lý do để từ buôn Ko Siêr, các nghệ nhân vi vui khắp nhiều quốc gia trên thế giới. Khi nhìn mười mấy người đàn ông, đàn bà Ê đê mặc áo bành tô sang trọng, đội mũ lông long lánh tuyết phủ, ngồi trên xe trượt tuyết, nằm trên bãi biển lộng lẫy trời xanh nắng vàng, hay tươi cười bên những bảo tàng cổ kính sang trọng của Pari hoa lệ, lòng tôi thấy xôn xao vui. Niềm vui ngỡ ngàng, lạ lạ. Dường như, tiếng cồng chiêng, tiếng réo rắt của các nhạc cụ truyền thống vùng cao nguyên lộng gió Đắc Lắc đã thổi đẩy những nghệ nhân quê mùa kia bay khắp nhân gian, phủ lên họ một thứ ánh sáng rộn ràng khác, khiến ta không còn nhận ra họ được nữa. Song, tôi nghĩ, chính lúc đó, họ mới đích thị là họ nhất, lúc đó, họ tài hoa và hào hoa như vốn có. Chỉ có điều chàng lãng tử Y Míp Ayun, trong lúc diễn tấu ở đám ma buôn làng, cúng nhà mới, lễ cơm mới, vẻ đẹp tâm hồn của chàng không thể hiện theo cái cách mà chúng ta trông thấy khi chàng ở những kinh đô ánh sáng Pari, Thụy Điển, Italia, Bỉ…
Những ngày ở trời Tây lạnh giá, sững sờ trước thiên nhiên và các công trình tráng lệ của nước bạn, đôi khi, Y Míp Ayun lại muốn bật khóc vì tự hào, khi mà những người bạn ngoại quốc hứng khởi xông lên sân khấu, cùng vỗ tay, nhảy theo nhịp múa của các đàn ông, đàn bà người Ê đê đóng khố, váy đỏ rực rỡ. Khi mười mấy người buôn Ko Siêr có dịp đón cái Tết Việt Nam tại thành phố Ly - ông trong chuyến biểu diễn xuyên nước Pháp dài 20 ngày, Ama Kim thấy người mắt xanh mũi lõ họ trân trọng rà tay lên mặt đồng đen bóng, đỏ au của bộ chiêng cổ hơn 200 năm rồi xuýt xoa, ông mới hiểu vì sao không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên lại được công nhận là kiệt tác văn hóa của nhân loại. Lại có khi được biểu diễn cho các bậc đại thụ đã gắn bó máu thịt với âm nhạc và văn hóa dân tộc thưởng thức, như GS Trần Văn Khê, GS Tô Ngọc Thanh, Ama Kim vui lắm. Ông và đội cùng “ra quân” như nhập đồng, sau bài chào khách, là làn gió đong đưa dịu nhẹ, man mác, rồi tiếng chiêng đổ mạnh dần, sầm sập, tiếng chong chóng hút gió quay tròn (bài Chong chóng quay). Lại tiếng mưa đá ào ạt (bài Mưa đá). Tiếng đinh tặc tà, cứ tặc tà rà, tặc tà rà ngân lên. Chỉ là những ống tre, thanh tre, là quả bầu đi ở đâu trên đất nước này cũng bắt gặp, nhưng, khi được thổi hồn của người nghệ nhân chắt chiu như Ama Kim vào, các nhạc cụ đó và âm thanh của nó, trở thành “báu vật” của nhân loại. Là kiệt tác truyền khẩu. Bản thân những người nghệ sỹ có vẻ đẹp đàn ông lãng đãng kia là những “báu vật nhân văn sống”.
Box:
Ama Kim (Y Míp Ayun), sinh năm 1943. Vợ chồng ông sinh được có 6 người con, họ đều sống nghèo, không có rẫy, không có đất ruộng. Lại thêm đứa con bị bệnh tâm thần dật dờ ngoài đầu ngõ, có đứa nát rượu đánh vợ nhiều đến mức phải ly dị. Con trai, con dâu đều đi làm thuê, mỗi tháng được mấy trăm nghìn đồng, công việc khi có khi không. Nhưng, với Ama Kim, ông chấp nhận cuộc sống bần hàn, chỉ cần đủ cơm ăn, rồi được biểu diễn và sáng tạo các nhạc cụ cha ông, là vui lắm rồi. Thì tuổi già, biết làm gì hơn? Với ông, niềm vui với thế giới vừa vi diệu vừa hùng tráng của cồng chiêng, của đinh năm, đinh puốt, đinh tặc tà, là lớn hơn hết thảy.
Buôn làng, nhiều khi thấy Ama Kim nổi lửa nung sắt thép rèn dao, dựa, cuốc, xẻng rồi cả những con dao lá lúa cong vút để chế tác nhạc cụ (có khi ngẫu hứng, ông còn nấu đồng để đúc chiêng!), người ta bảo, ông Ama Kim sắp khùng (điên rồ). Nhưng, Ama Kim đã đúng. Tài hoa của ông, tâm huyết của ông đã được cả Việt Nam và nhiều quốc gia ghi nhận: ông là nghệ nhân dân gian ưu tú. Là tấm gương tiêu biểu cho linh hồn của cồng chiêng, khi di sản này được UNESCO công nhận là kiệt tác vô giá của nhân loại. Ama Kim từng đoạt các danh hiệu - giải thưởng: nghệ nhân xuất sắc trong liên hoan văn hóa nghệ thuật Tây Nguyên; Giải Bông sen Vàng, liên hoan hòa tấu âm nhạc dân tộc TP HCM lần 2; Giải nhất môn đánh chiêng của Buôn Ma Thuột năm 1997; huy chương vàng tại Liên hoan Văn hoá cồng chiêng toàn quốc; huy chương vàng các tiết mục hoà tấu nhạc cụ đing năm, tù và, đing puốt, đing tặc tà...
(Bài có kèm chùm 5 ảnh, blog vẫn bị lỗi, chửa tải ảnh lên được, nỏ biết tại mô)












