Lời hiệu triệu hãy lưu giữ lấy những giá trị không thể thay thế của sông Đà, trước khi nó bị "khai tử"!
Wednesday, January 21, 2009 10:38:50 AM
Thương khóc sông Đà…
Bút ký của Đỗ Doãn Hoàng
Vì lý tưởng, người ta luôn chấp nhận hy sinh. Nhưng, trong khúc ca khải hoàn, cùng với pháo hoa, tiệc rượu, người ta vẫn cần phải khóc cho những Trái tim Đan Cô vong thân vì nghĩa lớn. Sông Đà là dòng sông năng lượng, thác nguồn ánh sáng kiêu hùng và vĩ đại nhất Việt Nam; tôi nghĩ là cùng với sự ra đời của các thang bậc thủy điện khổng lồ như Hòa Bình, Sơn La, Nậm Nhùn…, biến con sông dữ trở thành cái hồ lành tẻ nhạt, như biến thiên lý mã trở thành trâu cày lầm lũi, chúng ta cần phải có kế hoạch “thương khóc sông Đà”. Kế hoạch đó là gì, và làm thế nào để chúng ta không phụ lòng con sông lớn, sợi chỉ đỏ xâu chuỗi và làm quyến rũ cho thiên nhiên, bản sắc văn hóa của chừng ba mươi dân tộc vùng Tây Bắc kia? Nhiều giá trị của sông Đà đang bị giết chết từng ngày, dòng nước dữ hung hiểm chảy giữa hoang vu ấy đã “Vì dòng điện ngày mai của tổ quốc” mà chịu “tha hóa” đi, bị chìm vĩnh viễn trong biển nước - trong khi chúng ta hầu như vẫn chưa hiểu được gì nhiều nhặn về các di sản đó. Tiếc thay!
1. Trong mỗi độ dọc ngang Tây Bắc, tôi đã nhiều lần tự hỏi: chúng ta đã hiểu gì về Sông Đà, con sông chảy những 500km (một nửa chiều dài của đời sông) trên địa phận Việt Nam này? Đó là một câu hỏi day dứt hiện nay, và là một niềm hối hận lớn của tất cả chúng ta về mãi sau này, nếu ta không gấp gáp điền dã “sưu tra” về sông Đà, trước khi mọi việc trở nên quá muộn. Chỉ biết, rõ ràng: Đà Giang là dòng nước thác ghềnh nhất, hoang vu và bí ẩn nhất, mang tải nhiều năng lượng (vàng trắng, thủy điện) nhất Việt Nam. Nó chảy qua rồi làm giàu cho miền đất trùng điệp núi đèo, vùng văn hóa cũng sặc sỡ… nhất nước ta - Tây Bắc. Lại một câu hỏi nữa: mai này, chúng ta sẽ đứng ở đâu để khóc thương sông Đà bị “vùi thây dòng nước bạc” (lòng hồ Thủy điện)? Lơ phơ tôi lại tự giả nhời chính mình: nên đứng ở trên bờ đập thủy điện, chỗ cửa điều tiết nước có cái tua bin biến nước sông Đà “vàng trắng” thành dòng điện. Bờ Thủy điện Hòa Bình, công trình thế kỷ, làm trong vài thập niên, với ít nhất 108 người của Việt Nam và chuyên gia nước bạn hy sinh, nơi 9 tỷ mét khối nước bị chặn để “xấn xẹo” con ngựa chứng tung bờm sóng từ triệu triệu năm trước: sông Đà; hoặc đứng ở bờ đập chỗ cửa máy của Thủy điện Sơn La, thủy điện lớn nhất toàn cõi Đông Nam Á (gần đó là Thủy điện Nậm Nhùn; cạnh nữa là Thủy điện Nậm Chiến…) - các cái thủy điện này đã làm cho sông Đà hầu như không còn ghềnh thác, làm hàng vạn bản làng phải “vén” đi để cho sự xâm chiếm của lòng hồ kỳ vĩ. Đứng ở vị trí đó, bạn sẽ thấy cái tua bin ở các bờ đập thủy điện kể trên đã làm một cuộc đại phẫu để sông Đà không còn chảy nữa.
73 ngọn thác “ăn thịt người” cuộn xiết mà nhà văn Nguyễn Tuân từng xả thân chiêm ngưỡng, cũng biến mất. Mặt nước sông Đà ở khu vực cầu Hang Tôm (thị xã Lai Châu cũ) sẽ dâng lên cao hơn so với “cao trình” trung bình của mặt sông Đà từ thượng cổ là… 218m! Tất cả sẽ biến mất. Mặt nước sẽ nằm ở trên đỉnh núi chon von. Vì thế, cả những dòng chữ rút gươm trận khắc trên núi đá ghi tạc cái tráng chí chinh phạt “lũ giặc cỏ” của vua Lê Lợi cũng phải khiêng đi nơi khác, dinh vua Thái Đèo Văn Long cũng chìm trong nước bạc, hàng trăm hàng nghìn bản làng sẽ vĩnh viễn rơi vào cảnh “ly hương”. Đâu là thác Tiếu Ông, Tiếu Bà, đâu là những bản làng nghìn năm qua sống bên ngọn thác với tiếng cười hung hiểm của nước húc vào đá (Tiếu Ông, Tiếu Bà) nhằm giết người đi trên sông, rồi bà con lặng lẽ, các thế hệ truyền nhau một cuốn sổ ân tình: ghi tên những người đã vùi thây trong thác bạc sông Đà. Lại còn có ngọn thác rất dân gian: Thác Giàn Dái. Ai đi qua đó cũng phải cởi bỏ quần áo, vì thuyền bè lút trong xoáy nước, nỗi sợ trong thạch trận đá lớn đá nhỏ ăn thịt người khiến cho bãi đá tròn cao ngất ở chân thác được ví như các viên “ngọc hành” (dương vật) của người xuôi ngược sông Đà hãi hùng bỏ lại, suốt bao đời nay…, cho đến khi thủy điện được be bờ đắp đập. Tôi (người viết bài này) từng vượt thác Kẻng Mỏ, ngọn thác dữ cuối cùng ở thượng nguồn sông Đà (gần nơi sông Đà chảy vào Việt Nam nhất – xem ảnh), thuyền lút đi, lao như mũi tên qua miền thác trắng xóa, mới hãi hùng hiểu là tại bởi làm sao mà thác tên là Kẻng Mỏ. Tiếng quan hỏa, Kẻng Mỏ là mất chảo. Xưa, người Trung Hoa thường xuôi sông Đà sang nước ta bán chảo gang, cứ qua đó là… thuyền quay cuồng nộ, chảo bị hút cả dưới chân thác. Có nhà khảo cổ bảo, nếu giờ có cách nào khai quật chân thác Kẻng Mỏ (địa phận Mường Tè, Lai Châu) lên, thì sẽ thấy lịch sử giao thương “ngàn năm” giữa hai quốc gia… thông qua thế giới của những chiếc chảo gang cổ kính, xanh rì rêu thác!
2. Tất cả đã và sắp bị chôn vùi trong bụng nước. Có lần đi tìm lại lịch sử của những người anh hùng dân tộc Mường trong cuộc chiến vệ quốc chống Pháp, tôi đã nghe một người già sọm chỉ xuống dòng hồ thủy điện Hòa Bình mếu máo: “Llàng tôi ở đó, chùa làng tôi ở đó, và cái nơi mà “cụ” anh em kết nghĩa quả cảm là người Nhật đã chèn mình ra trước họng súng giặc Pháp cứu bố tôi ở cái dốc Sung chỗ kia, dưới bụng nước đen đen kia kìa”. Không một tấm ảnh, không một cơn cớ gì để gợi nhớ những trang sử kia còn được bà con mình lưu lại. Tôi đã lạnh người, bởi sự hy sinh quá lớn cho việc khai sinh của các cái hồ nước thủy điện nhiều tỷ mét khối nước kia. Trong bụng nước là ký ức, là lịch sử, là văn hóa, là đủ thứ cần phải được lưu giữ… của hàng nghìn bản làng, hàng chục tộc người. Là nước mắt của mỗi người, mỗi gia đình, dòng tộc.
Nếu không nhanh, tình trạng tương tự sẽ tái diễn trong thời gian tới, khi mà hàng loạt thủy điện sắp… khánh thành. Cộng đồng lớn gồm gần ba chục dân tộc ở Tây Bắc có một câu khái quát thế này: “Người Xá ăn theo lửa/ Người Thái ăn theo nước/ Người Mông ăn theo sương mù”. Người Mông ở tít trên núi cao, họ nhìn xuống sông Đà bằng ánh mắt vòi vọi của con đại bàng núi; còn lại, hầu hết bà con Tây Bắc đều tụ cư gần các bến nước yên bình. Người Xá là cách gọi xưa cũ, có ý miệt thị của một số tộc người tự coi mình là Lớn đối với rất nhiều (hầu hết) các dân tộc khác đã “định cư” ở Tây Bắc. Cho nên, nói: Người Xá ăn theo lửa, nhưng thật ra vẫn là ăn theo nước, họ không bao giờ dám rời xa các dòng nước lớn, như sông Đà. Người Thái thì nhất nhất “ăn theo nước”. Vì thế cho nên, những bản làng đẹp nhất, cổ kính nhất, bình yên nhất dọc sông Đà, cơ bản là của người Thái và của các cộng đồng bị gọi là Xá. Như thế, có thể thấy, việc “chon vùi” các bản làng đã và đang diễn ra (do hệ thống thủy điện trên sông Đà được xây dựng), quả là một cuộc “đào bới xới lộn” kinh khủng với văn hóa Tây Bắc. Tôi đã từng có cảm giác tê tái, thậm chí đã trào chực để khóc được, mỗi lúc đi qua các vách đá dựng trời mà sông Đà luồn lủi tối om bên dưới, sông xẻ đôi các khối đá kỳ vĩ ra mà chảy, với suy nghĩ: bảo tàng địa chất, thiên nhiên tột đỉnh hoang sơ và quyến rũ này sắp biến mất. Những vách đá ấy, ở thượng du, mải nhìn bạn có thể thấy chóng mặt, bạn có thể tin, con hổ con nai hứng chí nhảy từ bờ tả sang bờ hữu của sông Đà được. Những đàn khỉ chuyền cành lóe chóe. Lại nữa là những bản làng đậm đặc các trầm tích văn hóa, phong cảnh yên bình nao lòng với những triền cây cổ thụ, gốc quặn thớ mấy người ôm, sà bóng xuống lòng sông mênh mông, những con thuyền đuôi én thon mình như bờ eo con gái Thái (Hoa ban trắng nở người con gái Thái/ Áng mây bay qua thau nước gội đầu) - tất cả sắp biến mất. Những dòng sông ngầm trong vắt, thoắt phun mình trắng xóa trên đỉnh núi lại chìm mấy chục cây số vào trong lòng địa hình Kaster câm lặng; rồi nhảy cẫng nhò ra ở một bản làng hoang vắng cảu người Thái Mường Chiên; dọc vùng Thuận Châu, Sìn Hồ, bà con “thờ” từng mó tôm, mó nước ấm ven sông Đà với những “cụ” cá chiên to như thây người nằm sấp. Đi dọc sông Đà từ Mường La, Thuận Châu, Sìn Hồ lên Mường Tè (khúc trên, sông Đà có tên là Nậm Tè), đâu đâu cũng gặp những bảo tàng địa chất, địa mạo và văn hóa, tộc người ven sông. Không chỉ ba tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu bị mất rất nhiều bản làng dưới lòng hồ thủy điện Sơn La (như Hòa Bình từng mất), mà tất cả chúng ta sẽ còn phải đời đời tiếc nuối. Bạn chỉ thật sự thấy xót xa, tê tái, khi bạn đã từng trải lòng mình ở nhan sắc núi rừng dọc mấy trăm cây số chiều dài sặc sỡ, hoang vu, ghềnh thác của Sông Đà. Có lẽ, sẽ không quá lời, nếu nói rằng, Sông Đà là xương xống, là sợi chỉ đỏ, là chất keo dính kết và nhuận sắc cho sức quyến mời của văn hóa và thiên nhiên Tây Bắc. Tây Bắc sẽ khác, rất khác, nếu thuở tạo sơn, ông Đùng bà Đoàng không ban cho vùng núi cao nhất Việt Nam này dòng Đà Giang.
3. Sau đây, tôi thử lấy ví dụ về sự “ba đào” của hệ thống bi ký, chữ nghĩa, di tích liên quan đến các cuộc chinh phạt của vua Lê ở ven sông Đà để thuyết phục mọi người mau thu vén để bảo vệ Đà Giang trong cơn sóng gió lớn mang tên Thủy Điện. Nước ta chắc chắn không có dòng sông nào kỳ lạ như sông Đà, bằng chứng cho nhận định này, trước hết là ở hệ thống vách đá ven sông được vinh dự khắc rất nhiều chữ của vua. Chữ thiêng về các cuộc trường chinh của đấng quân vương đích thân đi dẹp “bọn phản nghịch ở Mường Lễ” cùng ngoại bang vẫn còn đó, suốt nhiều thế kỷ, cho đến khi chúng ta tiến hành khai thác “vàng trắng”. Nước dâng cho Thủy điện Hòa Bình, năm 1982, vách núi sừng sững có khắc bia đá cổ ở Thác Bờ, thuộc xã Hào Tráng, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình đã được bóc đẽo di dời nguyên khối về Bảo tàng tỉnh Hòa bình (nay bảo tàng sửa chữa, lại đang được di dời tiếp sang địa điểm mới). Bia chép bài Tiêu dẫn của Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đề rằng:
“Năm Nhâm Tý 1432, Thuận Thiên thứ 5, tháng 3, ngày tốt.
Ta đi đánh Đèo Cát Hãn về qua đây, làm một bài thơ để đời sau được biết về đạo lý đánh giặc:
Bọn phản nghịch ở Mường Lễ mặt người dạ thú, nếu ngang ngạnh, không chịu theo đức hoá thì phải dẹp ngay cho dứt. Ta chẳng sợ gì hiểm trở và sơn lam chướng khí. Như thế là vì lo nghĩ đến sinh linh trong thiên hạ. Còn phương lược ra quân thì hai đạo Thao - Đà, đường thuỷ là đường tiến binh tốt nhất.
Đường hiểm gập ghềnh không ngại khó
Tuổi già ta vẫn còn tấm gan sắt
Nghĩa khí quét sạch nghìn đám mây mù
Tráng tâm san cách muôn trùng núi
Phải trù liệu phương lược làm tốt việc biên phòng
Phải toan tính sao cho xã tắc dài lâu yên ổn
Ba trăm khúc thác ghềnh nguy hiểm - lời nói ấy kể chi
Nay ta chỉ thấy nước chảy thuận dòng”.
Dòng nước ấy là sự bình yên, cũng là nước Đà Giang vĩ đại, “ba trăm khúc thác ghềnh nguy hiểm” như lời vua Lê. Thưa đức vua, Đà Giang lộ, giờ đến thác ghềnh cũng chả còn nữa!
Tương tự như vậy, sau khi dẹp yên vùng phên giậu, người anh hùng Lê Lợi cũng đã gọt một vách đá chênh vênh trên bờ Đà giang (nay là huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu), khắc chữ đề một bài thơ. (Thơ rằng: “Bọn giặc cuồng sao dám trốn tránh. Tội đáng giết. Dân ngoại biên đã từ lâu ta đợi đến cứu sống, kẻ bầy tôi làm phản từ xưa vẫn có. Đất đai hiểm trở từ nay không còn. Hình bóng cỏ cây và tiếng gió thổi hạc kêu cũng làm quân giặc kinh sợ. Non sông này nhập vào một bản đồ, đề thơ khắc lên núi đá. Chắn giữ phía Tây nước Việt ta. Ngày lành tháng Chạp năm Tân Hợi, tức tháng 1 năm 1432”). Và bài thơ đó, vì thủy điện trên sông Đà, cũng sắp được bứng ra khỏi vách đá bản Trang, nơi chữ của vua đã “ngự” suốt 576 năm qua.
Vùng Sơn La, hiện nay vẫn còn những địa danh “vĩ đại” như cái Bến Vua nổi tiếng (nơi nhiều trăm năm trước thuyền rồng vượt ghềnh thác sông Đà của vua đã ghé) và rất nhiều tấm bia đá ghi lại vĩnh hằng những chiến công hiển hách của vua chúa phong kiến Việt Nam đã đi dọc sông Đà bảo vệ và coi sóc vùng phên giậu. Đứng trước những tấm bia đã được đẽo gọt, di dời khỏi vách đá mẹ, khỏi địa điểm hùng thiêng thời các ông hoàng bằng xương bằng thịt đã gọt đá đề thơ - ai cũng vậy, sẽ thấy chữ của vua đã khuyết đi ít nhiều cái phong vị cổ xưa và thành kính vốn có nữa. Bia đá của vua còn bị “ba đào” nghiêng ngả như vậy, huống hồ các giá trị mong manh mất còn như những nếp nhà, nếp bản tre pheo gỗ lạt cũ càng, những bến nước mà vẻ đẹp huyền bí của nó toát lên nhờ dáng sung si đa đề trùm phủ la đà, cộng với vóc núi điệp điệp, sông nước mênh mang bên mép nước…
4. Trở lại bài toán ban đầu: việc xây dựng các lòng hồ thủy điện khổng lồ khai thác tiềm năng “vàng trắng” đất trời ban phát cho Đà Giang là chủ trương đúng và hợp lòng dân của Nhà nước ta. Nhưng, để lưu giữ được các giá trị muôn một của sông Đà cùng bản sắc cư dân, di sản văn hóa, giá trị cảnh quan đôi bờ, ta phải làm gì? Bài toán này đã được các nhà quản lý, các nhà văn hóa đặt ra từ khi kế hoạch xây dựng Thủy điện Hòa Bình mới manh nha, tức là từ mấy thập niên trước. Tuy nhiên, việc thực hiện quá là đánh trống bỏ dùi, manh mún, nhỏ lẻ, “được chăng hay chớ”. Thảng hoặc có nhà khảo cổ đi tìm những bãi đá cổ khắc những hình dáng bí ẩn như của người ngoài hành tin ở Liệp Tè, Thuận Châu; thảng hoặc có vài chuyên gia tính kế bảo vệ bia ký hai bên bờ sông; rồi nghiên cứu bảo tồn phong tục của các cộng đồng người bị tái định cư thuộc 4 tỉnh Tây Bắc bị ngập nước… Có vẻ như chúng ta mải mê vẽ ra “đầu việc” kiểu “cá kể đầu rau kể mớ” hơn là thực thi việc bảo tồn, di dời cẩn trọng - khoa học với niềm đam mê tiếc nuối thật sự. Vì tiền nhân, vì chúng ta và vì muôn đời con cháu. Một việc đơn giản nhất, vẫn chưa làm được, ví dụ như: cảnh quan địa chất, địa mạo, các thắng cảnh (đá, thác, hang động, các di chỉ khảo cổ…) ở nơi sẽ là lòng hồ đã được chụp ảnh quay phim lại như thế nào? Đã xứng tầm và đủ đầy như cần phải có không? Dọc sông Đà có bao nhiêu ngọn thác đẹp và hiểm ác, nó nằm ở đâu, nó “dữ” đến mức nào, huyền sử về vùng ấy ra sao? “Ký ức” độc nhất vô nhị đó được lưu giữ ra sao trước khi nó biến mất? Chúng ta đã bao giờ thật sự đi hết mấy trăm cây số ghềnh thác sông Đà với những bộ ảnh, thước phim sinh động để con cháu sau này hình dung ra con sông kỳ diệu đã chết của đất nước ông bà chưa? Các bản làng, các lễ hội, phong tục tập quán, các cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng, các di tích lịch sử cách mạng lừng danh của Tây Bắc đã và sắp bị ngập nước chúng ta đã lưu giữ được những gì, “nó” nằm ở đâu, muốn “thưởng thức” thì gặp ai để tìm?
Câu trả lời là: không thấy có, hoặc mới chỉ manh nha “có” mà không xứng tầm. Nói đúng hơn chúng ta chưa đủ lãng mạn và tử tế với dòng sông Đà Giang kỳ ảo để thực thi những công việc trên một cách nghiêm túc. Vài văn nghệ sỹ, nhà báo, nhà nhiếp ảnh, các quay phim vì xót xa cho Sông Đà mà lang bang Tây Bắc vài chuyến trước khi những giá trị muôn một của dòng sông ánh sáng biến mất. Anh Nghiệp, một đạo diễn của điện anh quân đội mới vừa thiệt mạng khi ngồi thuyền, quay cảnh sóng thác sông Đà ở Mường Tè mới đây là một ví dụ. Sự nhỏ lẻ đó, chẳng bao giờ cứu vãn được tình thế, với cả núi công việc nhằm giữ lại hình ảnh, xúc cảm, tư liệu, truyền thuyết, triết lý vế sông Đà hùng vĩ, điệp trùng hoang sơ kia. Nhân danh một người yêu Tây Bắc, tôi thống thiết kêu gọi ngành văn hóa, UBND các tỉnh Tây Bắc; các ngành, hội ở TW (như nhiếp ảnh, truyền hình, các hãng phim, các tờ báo - tạp chí, ngành hội họa, văn nghệ dân gian…) nên sớm làm một nghĩa cử đủ quy mô liều lượng để cứu sông Đà - dòng nước lớn mang tải quá nhiều cái nhất của nước Việt Nam ta. Ví dụ như tổ chức các cuộc thi sáng tác, trưng bày, đầu tư cho các cuộc điền dã công phu và máu thịt để lưu giữ lại các giá trị quý trên nhiều phương diện của Sông Đà. Công việc này không khó, cũng không phải là quá tốn kém, bởi bao đời nay, chúng ta luôn có sẵn những điều hồn say mê Tây Bắc và sông Đà. Bản thân sông Đà, “chàng” cũng luôn tấu lên khúc lãng du nguồn cội, đẫm đùa mây gió, núi chon von cao, vực hun hút sâu trong rất nhiều người nghệ sỹ. Chỉ có điều, “năng lượng” kia chưa được tập hợp, tổ chức lại trong một chuyên đề: Thương Khóc Đà Giang. Cả bằng tư liệu thô, cả bằng nghệ thuật “chín” đích thực, việc lưu giữ đó là cần thiết, hữu ích, cũng là một hành động có ý nghĩa nhân văn với toàn vùng văn hóa rộng lớn, đa sắc của Tây Bắc.
Sau khi “hy sinh” rất nhiều “năng lượng sống” của mình “Vì dòng điện ngày mai của tổ quốc” (như khẩu hiệu ở các địa phương, các công trường xây dựng thủy điện), người anh hùng Sông Đà có thể bị “giết chết” một lần nữa, nếu như chúng ta còn tiếp tục thờ ơ với các giá trị hoàn toàn có thể cứu vãn, lưu giữ kể trên. Có lần đứng ở ngã ba Hồng Đà, nơi sông Đà kết thúc hành trình 500km tung hoành khắp miền Tây Bắc Việt Nam của mình, tôi chợt nhận ra một kỷ lục nữa, một vai trò “nhất Việt Nam” nữa của dòng sông Năng Lượng, ấy là: so với sông Hồng, thì Sông Đà còn góp sức nhiều hơn cho việc khai sinh ra Đồng Bằng Sông Hồng, cái nôi của nền văn minh nghìn năm Đại Việt. Bởi, mắt thường và tài liệu của các nhà khoa học đều cho thấy: ở vị trí hợp hôn Sông Hồng và Sông Đà gặp nhau, lượng nước của sông Đà lớn hơn lượng nước của sông Hồng đang cõng theoo rất nhiều. Nếu chúng ta sớm biết đo đếm sòng phẳng, theo quy luật hai sông gặp nhau, sông nào bé hơn thì sẽ mất tên gọi, thì: lẽ ra đoạn từ ngã ba Hồng Đà về biển Đông của con cõng nước của sông Đà + sông Hồng phải được mang tên… Sông Đà (còn gọi là Black River) – thay vì gọi là sông Hồng (Red River) như hiện nay. Và châu thổ Bắc Việt Nam, phải được gọi là Đồng Bằng Sông Đà, nền văn minh Sông Đà (thay vì Nền văn minh Sông Hồng như nhiều thế kỷ qua chúng ta vẫn gọi). “Lý sự cùn” một chút như thế, cũng chỉ là để chúng ta thêm trân trọng sông Đà, ngõ hầu chung tay giải bài toán: phải sớm tìm các phương tiện kỹ thuật, các hình thức nghệ thuật “đủ dùng” để lưu giữ huyền sử sông Đà.
Xin hãy cứ mở đầu bằng một lời hiệu triệu….
Hà Nội 1h30p, ngày 22/12/2008
Đỗ Doãn Hoàng
Chùm ảnh:
- Ảnh O: Sông Đà khúc thượng du, nơi con sông Đà chảy vào Việt Nam.
- Ảnh 2 và 6: Thác Kẻng Mỏ còn hung dữ, ngay cả khi thủy điện Hòa Bình đã đi vào hoạt động. Song chỉ vài năm nữa, sông Đà sẽ không còn thác!
- Ảnh 1: Thiếu nữ Hà Nhì sặc sỡ sắc màu ở bản Xi Nế, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, ở đầu nguồn sông Đà.
- Ảnh 3: Ngã ba Hồng Đà, doi đất cuối cùng, nơi sông Đà kết thúc hành trình dài gần 1000km của mình (trong đó khoảng 500km trên lãnh thổ Việt Nam).
-Ảnh 11: Cây cầu nhỏ bé, vắt vẻo này, là cây cầu đầu tiên bắc qua sông Đà, kể từ khi Đà Giang nhập tịch Việt Nam.
-Ảnh 7: Vẻ thanh bình với thuyền đuôi én ở bản người Thái, xã Cà Nàng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Chỉ ít năm nữa, toàn bộ vùng mênh mông này sẽ vùi sâu trong bụng nước hồ Thủy điện Sơn La.
Bút ký của Đỗ Doãn Hoàng
Vì lý tưởng, người ta luôn chấp nhận hy sinh. Nhưng, trong khúc ca khải hoàn, cùng với pháo hoa, tiệc rượu, người ta vẫn cần phải khóc cho những Trái tim Đan Cô vong thân vì nghĩa lớn. Sông Đà là dòng sông năng lượng, thác nguồn ánh sáng kiêu hùng và vĩ đại nhất Việt Nam; tôi nghĩ là cùng với sự ra đời của các thang bậc thủy điện khổng lồ như Hòa Bình, Sơn La, Nậm Nhùn…, biến con sông dữ trở thành cái hồ lành tẻ nhạt, như biến thiên lý mã trở thành trâu cày lầm lũi, chúng ta cần phải có kế hoạch “thương khóc sông Đà”. Kế hoạch đó là gì, và làm thế nào để chúng ta không phụ lòng con sông lớn, sợi chỉ đỏ xâu chuỗi và làm quyến rũ cho thiên nhiên, bản sắc văn hóa của chừng ba mươi dân tộc vùng Tây Bắc kia? Nhiều giá trị của sông Đà đang bị giết chết từng ngày, dòng nước dữ hung hiểm chảy giữa hoang vu ấy đã “Vì dòng điện ngày mai của tổ quốc” mà chịu “tha hóa” đi, bị chìm vĩnh viễn trong biển nước - trong khi chúng ta hầu như vẫn chưa hiểu được gì nhiều nhặn về các di sản đó. Tiếc thay!
1. Trong mỗi độ dọc ngang Tây Bắc, tôi đã nhiều lần tự hỏi: chúng ta đã hiểu gì về Sông Đà, con sông chảy những 500km (một nửa chiều dài của đời sông) trên địa phận Việt Nam này? Đó là một câu hỏi day dứt hiện nay, và là một niềm hối hận lớn của tất cả chúng ta về mãi sau này, nếu ta không gấp gáp điền dã “sưu tra” về sông Đà, trước khi mọi việc trở nên quá muộn. Chỉ biết, rõ ràng: Đà Giang là dòng nước thác ghềnh nhất, hoang vu và bí ẩn nhất, mang tải nhiều năng lượng (vàng trắng, thủy điện) nhất Việt Nam. Nó chảy qua rồi làm giàu cho miền đất trùng điệp núi đèo, vùng văn hóa cũng sặc sỡ… nhất nước ta - Tây Bắc. Lại một câu hỏi nữa: mai này, chúng ta sẽ đứng ở đâu để khóc thương sông Đà bị “vùi thây dòng nước bạc” (lòng hồ Thủy điện)? Lơ phơ tôi lại tự giả nhời chính mình: nên đứng ở trên bờ đập thủy điện, chỗ cửa điều tiết nước có cái tua bin biến nước sông Đà “vàng trắng” thành dòng điện. Bờ Thủy điện Hòa Bình, công trình thế kỷ, làm trong vài thập niên, với ít nhất 108 người của Việt Nam và chuyên gia nước bạn hy sinh, nơi 9 tỷ mét khối nước bị chặn để “xấn xẹo” con ngựa chứng tung bờm sóng từ triệu triệu năm trước: sông Đà; hoặc đứng ở bờ đập chỗ cửa máy của Thủy điện Sơn La, thủy điện lớn nhất toàn cõi Đông Nam Á (gần đó là Thủy điện Nậm Nhùn; cạnh nữa là Thủy điện Nậm Chiến…) - các cái thủy điện này đã làm cho sông Đà hầu như không còn ghềnh thác, làm hàng vạn bản làng phải “vén” đi để cho sự xâm chiếm của lòng hồ kỳ vĩ. Đứng ở vị trí đó, bạn sẽ thấy cái tua bin ở các bờ đập thủy điện kể trên đã làm một cuộc đại phẫu để sông Đà không còn chảy nữa.
73 ngọn thác “ăn thịt người” cuộn xiết mà nhà văn Nguyễn Tuân từng xả thân chiêm ngưỡng, cũng biến mất. Mặt nước sông Đà ở khu vực cầu Hang Tôm (thị xã Lai Châu cũ) sẽ dâng lên cao hơn so với “cao trình” trung bình của mặt sông Đà từ thượng cổ là… 218m! Tất cả sẽ biến mất. Mặt nước sẽ nằm ở trên đỉnh núi chon von. Vì thế, cả những dòng chữ rút gươm trận khắc trên núi đá ghi tạc cái tráng chí chinh phạt “lũ giặc cỏ” của vua Lê Lợi cũng phải khiêng đi nơi khác, dinh vua Thái Đèo Văn Long cũng chìm trong nước bạc, hàng trăm hàng nghìn bản làng sẽ vĩnh viễn rơi vào cảnh “ly hương”. Đâu là thác Tiếu Ông, Tiếu Bà, đâu là những bản làng nghìn năm qua sống bên ngọn thác với tiếng cười hung hiểm của nước húc vào đá (Tiếu Ông, Tiếu Bà) nhằm giết người đi trên sông, rồi bà con lặng lẽ, các thế hệ truyền nhau một cuốn sổ ân tình: ghi tên những người đã vùi thây trong thác bạc sông Đà. Lại còn có ngọn thác rất dân gian: Thác Giàn Dái. Ai đi qua đó cũng phải cởi bỏ quần áo, vì thuyền bè lút trong xoáy nước, nỗi sợ trong thạch trận đá lớn đá nhỏ ăn thịt người khiến cho bãi đá tròn cao ngất ở chân thác được ví như các viên “ngọc hành” (dương vật) của người xuôi ngược sông Đà hãi hùng bỏ lại, suốt bao đời nay…, cho đến khi thủy điện được be bờ đắp đập. Tôi (người viết bài này) từng vượt thác Kẻng Mỏ, ngọn thác dữ cuối cùng ở thượng nguồn sông Đà (gần nơi sông Đà chảy vào Việt Nam nhất – xem ảnh), thuyền lút đi, lao như mũi tên qua miền thác trắng xóa, mới hãi hùng hiểu là tại bởi làm sao mà thác tên là Kẻng Mỏ. Tiếng quan hỏa, Kẻng Mỏ là mất chảo. Xưa, người Trung Hoa thường xuôi sông Đà sang nước ta bán chảo gang, cứ qua đó là… thuyền quay cuồng nộ, chảo bị hút cả dưới chân thác. Có nhà khảo cổ bảo, nếu giờ có cách nào khai quật chân thác Kẻng Mỏ (địa phận Mường Tè, Lai Châu) lên, thì sẽ thấy lịch sử giao thương “ngàn năm” giữa hai quốc gia… thông qua thế giới của những chiếc chảo gang cổ kính, xanh rì rêu thác!
2. Tất cả đã và sắp bị chôn vùi trong bụng nước. Có lần đi tìm lại lịch sử của những người anh hùng dân tộc Mường trong cuộc chiến vệ quốc chống Pháp, tôi đã nghe một người già sọm chỉ xuống dòng hồ thủy điện Hòa Bình mếu máo: “Llàng tôi ở đó, chùa làng tôi ở đó, và cái nơi mà “cụ” anh em kết nghĩa quả cảm là người Nhật đã chèn mình ra trước họng súng giặc Pháp cứu bố tôi ở cái dốc Sung chỗ kia, dưới bụng nước đen đen kia kìa”. Không một tấm ảnh, không một cơn cớ gì để gợi nhớ những trang sử kia còn được bà con mình lưu lại. Tôi đã lạnh người, bởi sự hy sinh quá lớn cho việc khai sinh của các cái hồ nước thủy điện nhiều tỷ mét khối nước kia. Trong bụng nước là ký ức, là lịch sử, là văn hóa, là đủ thứ cần phải được lưu giữ… của hàng nghìn bản làng, hàng chục tộc người. Là nước mắt của mỗi người, mỗi gia đình, dòng tộc.
Nếu không nhanh, tình trạng tương tự sẽ tái diễn trong thời gian tới, khi mà hàng loạt thủy điện sắp… khánh thành. Cộng đồng lớn gồm gần ba chục dân tộc ở Tây Bắc có một câu khái quát thế này: “Người Xá ăn theo lửa/ Người Thái ăn theo nước/ Người Mông ăn theo sương mù”. Người Mông ở tít trên núi cao, họ nhìn xuống sông Đà bằng ánh mắt vòi vọi của con đại bàng núi; còn lại, hầu hết bà con Tây Bắc đều tụ cư gần các bến nước yên bình. Người Xá là cách gọi xưa cũ, có ý miệt thị của một số tộc người tự coi mình là Lớn đối với rất nhiều (hầu hết) các dân tộc khác đã “định cư” ở Tây Bắc. Cho nên, nói: Người Xá ăn theo lửa, nhưng thật ra vẫn là ăn theo nước, họ không bao giờ dám rời xa các dòng nước lớn, như sông Đà. Người Thái thì nhất nhất “ăn theo nước”. Vì thế cho nên, những bản làng đẹp nhất, cổ kính nhất, bình yên nhất dọc sông Đà, cơ bản là của người Thái và của các cộng đồng bị gọi là Xá. Như thế, có thể thấy, việc “chon vùi” các bản làng đã và đang diễn ra (do hệ thống thủy điện trên sông Đà được xây dựng), quả là một cuộc “đào bới xới lộn” kinh khủng với văn hóa Tây Bắc. Tôi đã từng có cảm giác tê tái, thậm chí đã trào chực để khóc được, mỗi lúc đi qua các vách đá dựng trời mà sông Đà luồn lủi tối om bên dưới, sông xẻ đôi các khối đá kỳ vĩ ra mà chảy, với suy nghĩ: bảo tàng địa chất, thiên nhiên tột đỉnh hoang sơ và quyến rũ này sắp biến mất. Những vách đá ấy, ở thượng du, mải nhìn bạn có thể thấy chóng mặt, bạn có thể tin, con hổ con nai hứng chí nhảy từ bờ tả sang bờ hữu của sông Đà được. Những đàn khỉ chuyền cành lóe chóe. Lại nữa là những bản làng đậm đặc các trầm tích văn hóa, phong cảnh yên bình nao lòng với những triền cây cổ thụ, gốc quặn thớ mấy người ôm, sà bóng xuống lòng sông mênh mông, những con thuyền đuôi én thon mình như bờ eo con gái Thái (Hoa ban trắng nở người con gái Thái/ Áng mây bay qua thau nước gội đầu) - tất cả sắp biến mất. Những dòng sông ngầm trong vắt, thoắt phun mình trắng xóa trên đỉnh núi lại chìm mấy chục cây số vào trong lòng địa hình Kaster câm lặng; rồi nhảy cẫng nhò ra ở một bản làng hoang vắng cảu người Thái Mường Chiên; dọc vùng Thuận Châu, Sìn Hồ, bà con “thờ” từng mó tôm, mó nước ấm ven sông Đà với những “cụ” cá chiên to như thây người nằm sấp. Đi dọc sông Đà từ Mường La, Thuận Châu, Sìn Hồ lên Mường Tè (khúc trên, sông Đà có tên là Nậm Tè), đâu đâu cũng gặp những bảo tàng địa chất, địa mạo và văn hóa, tộc người ven sông. Không chỉ ba tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu bị mất rất nhiều bản làng dưới lòng hồ thủy điện Sơn La (như Hòa Bình từng mất), mà tất cả chúng ta sẽ còn phải đời đời tiếc nuối. Bạn chỉ thật sự thấy xót xa, tê tái, khi bạn đã từng trải lòng mình ở nhan sắc núi rừng dọc mấy trăm cây số chiều dài sặc sỡ, hoang vu, ghềnh thác của Sông Đà. Có lẽ, sẽ không quá lời, nếu nói rằng, Sông Đà là xương xống, là sợi chỉ đỏ, là chất keo dính kết và nhuận sắc cho sức quyến mời của văn hóa và thiên nhiên Tây Bắc. Tây Bắc sẽ khác, rất khác, nếu thuở tạo sơn, ông Đùng bà Đoàng không ban cho vùng núi cao nhất Việt Nam này dòng Đà Giang.
3. Sau đây, tôi thử lấy ví dụ về sự “ba đào” của hệ thống bi ký, chữ nghĩa, di tích liên quan đến các cuộc chinh phạt của vua Lê ở ven sông Đà để thuyết phục mọi người mau thu vén để bảo vệ Đà Giang trong cơn sóng gió lớn mang tên Thủy Điện. Nước ta chắc chắn không có dòng sông nào kỳ lạ như sông Đà, bằng chứng cho nhận định này, trước hết là ở hệ thống vách đá ven sông được vinh dự khắc rất nhiều chữ của vua. Chữ thiêng về các cuộc trường chinh của đấng quân vương đích thân đi dẹp “bọn phản nghịch ở Mường Lễ” cùng ngoại bang vẫn còn đó, suốt nhiều thế kỷ, cho đến khi chúng ta tiến hành khai thác “vàng trắng”. Nước dâng cho Thủy điện Hòa Bình, năm 1982, vách núi sừng sững có khắc bia đá cổ ở Thác Bờ, thuộc xã Hào Tráng, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình đã được bóc đẽo di dời nguyên khối về Bảo tàng tỉnh Hòa bình (nay bảo tàng sửa chữa, lại đang được di dời tiếp sang địa điểm mới). Bia chép bài Tiêu dẫn của Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đề rằng:
“Năm Nhâm Tý 1432, Thuận Thiên thứ 5, tháng 3, ngày tốt.
Ta đi đánh Đèo Cát Hãn về qua đây, làm một bài thơ để đời sau được biết về đạo lý đánh giặc:
Bọn phản nghịch ở Mường Lễ mặt người dạ thú, nếu ngang ngạnh, không chịu theo đức hoá thì phải dẹp ngay cho dứt. Ta chẳng sợ gì hiểm trở và sơn lam chướng khí. Như thế là vì lo nghĩ đến sinh linh trong thiên hạ. Còn phương lược ra quân thì hai đạo Thao - Đà, đường thuỷ là đường tiến binh tốt nhất.
Đường hiểm gập ghềnh không ngại khó
Tuổi già ta vẫn còn tấm gan sắt
Nghĩa khí quét sạch nghìn đám mây mù
Tráng tâm san cách muôn trùng núi
Phải trù liệu phương lược làm tốt việc biên phòng
Phải toan tính sao cho xã tắc dài lâu yên ổn
Ba trăm khúc thác ghềnh nguy hiểm - lời nói ấy kể chi
Nay ta chỉ thấy nước chảy thuận dòng”.
Dòng nước ấy là sự bình yên, cũng là nước Đà Giang vĩ đại, “ba trăm khúc thác ghềnh nguy hiểm” như lời vua Lê. Thưa đức vua, Đà Giang lộ, giờ đến thác ghềnh cũng chả còn nữa!
Tương tự như vậy, sau khi dẹp yên vùng phên giậu, người anh hùng Lê Lợi cũng đã gọt một vách đá chênh vênh trên bờ Đà giang (nay là huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu), khắc chữ đề một bài thơ. (Thơ rằng: “Bọn giặc cuồng sao dám trốn tránh. Tội đáng giết. Dân ngoại biên đã từ lâu ta đợi đến cứu sống, kẻ bầy tôi làm phản từ xưa vẫn có. Đất đai hiểm trở từ nay không còn. Hình bóng cỏ cây và tiếng gió thổi hạc kêu cũng làm quân giặc kinh sợ. Non sông này nhập vào một bản đồ, đề thơ khắc lên núi đá. Chắn giữ phía Tây nước Việt ta. Ngày lành tháng Chạp năm Tân Hợi, tức tháng 1 năm 1432”). Và bài thơ đó, vì thủy điện trên sông Đà, cũng sắp được bứng ra khỏi vách đá bản Trang, nơi chữ của vua đã “ngự” suốt 576 năm qua.
Vùng Sơn La, hiện nay vẫn còn những địa danh “vĩ đại” như cái Bến Vua nổi tiếng (nơi nhiều trăm năm trước thuyền rồng vượt ghềnh thác sông Đà của vua đã ghé) và rất nhiều tấm bia đá ghi lại vĩnh hằng những chiến công hiển hách của vua chúa phong kiến Việt Nam đã đi dọc sông Đà bảo vệ và coi sóc vùng phên giậu. Đứng trước những tấm bia đã được đẽo gọt, di dời khỏi vách đá mẹ, khỏi địa điểm hùng thiêng thời các ông hoàng bằng xương bằng thịt đã gọt đá đề thơ - ai cũng vậy, sẽ thấy chữ của vua đã khuyết đi ít nhiều cái phong vị cổ xưa và thành kính vốn có nữa. Bia đá của vua còn bị “ba đào” nghiêng ngả như vậy, huống hồ các giá trị mong manh mất còn như những nếp nhà, nếp bản tre pheo gỗ lạt cũ càng, những bến nước mà vẻ đẹp huyền bí của nó toát lên nhờ dáng sung si đa đề trùm phủ la đà, cộng với vóc núi điệp điệp, sông nước mênh mang bên mép nước…
4. Trở lại bài toán ban đầu: việc xây dựng các lòng hồ thủy điện khổng lồ khai thác tiềm năng “vàng trắng” đất trời ban phát cho Đà Giang là chủ trương đúng và hợp lòng dân của Nhà nước ta. Nhưng, để lưu giữ được các giá trị muôn một của sông Đà cùng bản sắc cư dân, di sản văn hóa, giá trị cảnh quan đôi bờ, ta phải làm gì? Bài toán này đã được các nhà quản lý, các nhà văn hóa đặt ra từ khi kế hoạch xây dựng Thủy điện Hòa Bình mới manh nha, tức là từ mấy thập niên trước. Tuy nhiên, việc thực hiện quá là đánh trống bỏ dùi, manh mún, nhỏ lẻ, “được chăng hay chớ”. Thảng hoặc có nhà khảo cổ đi tìm những bãi đá cổ khắc những hình dáng bí ẩn như của người ngoài hành tin ở Liệp Tè, Thuận Châu; thảng hoặc có vài chuyên gia tính kế bảo vệ bia ký hai bên bờ sông; rồi nghiên cứu bảo tồn phong tục của các cộng đồng người bị tái định cư thuộc 4 tỉnh Tây Bắc bị ngập nước… Có vẻ như chúng ta mải mê vẽ ra “đầu việc” kiểu “cá kể đầu rau kể mớ” hơn là thực thi việc bảo tồn, di dời cẩn trọng - khoa học với niềm đam mê tiếc nuối thật sự. Vì tiền nhân, vì chúng ta và vì muôn đời con cháu. Một việc đơn giản nhất, vẫn chưa làm được, ví dụ như: cảnh quan địa chất, địa mạo, các thắng cảnh (đá, thác, hang động, các di chỉ khảo cổ…) ở nơi sẽ là lòng hồ đã được chụp ảnh quay phim lại như thế nào? Đã xứng tầm và đủ đầy như cần phải có không? Dọc sông Đà có bao nhiêu ngọn thác đẹp và hiểm ác, nó nằm ở đâu, nó “dữ” đến mức nào, huyền sử về vùng ấy ra sao? “Ký ức” độc nhất vô nhị đó được lưu giữ ra sao trước khi nó biến mất? Chúng ta đã bao giờ thật sự đi hết mấy trăm cây số ghềnh thác sông Đà với những bộ ảnh, thước phim sinh động để con cháu sau này hình dung ra con sông kỳ diệu đã chết của đất nước ông bà chưa? Các bản làng, các lễ hội, phong tục tập quán, các cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng, các di tích lịch sử cách mạng lừng danh của Tây Bắc đã và sắp bị ngập nước chúng ta đã lưu giữ được những gì, “nó” nằm ở đâu, muốn “thưởng thức” thì gặp ai để tìm?
Câu trả lời là: không thấy có, hoặc mới chỉ manh nha “có” mà không xứng tầm. Nói đúng hơn chúng ta chưa đủ lãng mạn và tử tế với dòng sông Đà Giang kỳ ảo để thực thi những công việc trên một cách nghiêm túc. Vài văn nghệ sỹ, nhà báo, nhà nhiếp ảnh, các quay phim vì xót xa cho Sông Đà mà lang bang Tây Bắc vài chuyến trước khi những giá trị muôn một của dòng sông ánh sáng biến mất. Anh Nghiệp, một đạo diễn của điện anh quân đội mới vừa thiệt mạng khi ngồi thuyền, quay cảnh sóng thác sông Đà ở Mường Tè mới đây là một ví dụ. Sự nhỏ lẻ đó, chẳng bao giờ cứu vãn được tình thế, với cả núi công việc nhằm giữ lại hình ảnh, xúc cảm, tư liệu, truyền thuyết, triết lý vế sông Đà hùng vĩ, điệp trùng hoang sơ kia. Nhân danh một người yêu Tây Bắc, tôi thống thiết kêu gọi ngành văn hóa, UBND các tỉnh Tây Bắc; các ngành, hội ở TW (như nhiếp ảnh, truyền hình, các hãng phim, các tờ báo - tạp chí, ngành hội họa, văn nghệ dân gian…) nên sớm làm một nghĩa cử đủ quy mô liều lượng để cứu sông Đà - dòng nước lớn mang tải quá nhiều cái nhất của nước Việt Nam ta. Ví dụ như tổ chức các cuộc thi sáng tác, trưng bày, đầu tư cho các cuộc điền dã công phu và máu thịt để lưu giữ lại các giá trị quý trên nhiều phương diện của Sông Đà. Công việc này không khó, cũng không phải là quá tốn kém, bởi bao đời nay, chúng ta luôn có sẵn những điều hồn say mê Tây Bắc và sông Đà. Bản thân sông Đà, “chàng” cũng luôn tấu lên khúc lãng du nguồn cội, đẫm đùa mây gió, núi chon von cao, vực hun hút sâu trong rất nhiều người nghệ sỹ. Chỉ có điều, “năng lượng” kia chưa được tập hợp, tổ chức lại trong một chuyên đề: Thương Khóc Đà Giang. Cả bằng tư liệu thô, cả bằng nghệ thuật “chín” đích thực, việc lưu giữ đó là cần thiết, hữu ích, cũng là một hành động có ý nghĩa nhân văn với toàn vùng văn hóa rộng lớn, đa sắc của Tây Bắc.
Sau khi “hy sinh” rất nhiều “năng lượng sống” của mình “Vì dòng điện ngày mai của tổ quốc” (như khẩu hiệu ở các địa phương, các công trường xây dựng thủy điện), người anh hùng Sông Đà có thể bị “giết chết” một lần nữa, nếu như chúng ta còn tiếp tục thờ ơ với các giá trị hoàn toàn có thể cứu vãn, lưu giữ kể trên. Có lần đứng ở ngã ba Hồng Đà, nơi sông Đà kết thúc hành trình 500km tung hoành khắp miền Tây Bắc Việt Nam của mình, tôi chợt nhận ra một kỷ lục nữa, một vai trò “nhất Việt Nam” nữa của dòng sông Năng Lượng, ấy là: so với sông Hồng, thì Sông Đà còn góp sức nhiều hơn cho việc khai sinh ra Đồng Bằng Sông Hồng, cái nôi của nền văn minh nghìn năm Đại Việt. Bởi, mắt thường và tài liệu của các nhà khoa học đều cho thấy: ở vị trí hợp hôn Sông Hồng và Sông Đà gặp nhau, lượng nước của sông Đà lớn hơn lượng nước của sông Hồng đang cõng theoo rất nhiều. Nếu chúng ta sớm biết đo đếm sòng phẳng, theo quy luật hai sông gặp nhau, sông nào bé hơn thì sẽ mất tên gọi, thì: lẽ ra đoạn từ ngã ba Hồng Đà về biển Đông của con cõng nước của sông Đà + sông Hồng phải được mang tên… Sông Đà (còn gọi là Black River) – thay vì gọi là sông Hồng (Red River) như hiện nay. Và châu thổ Bắc Việt Nam, phải được gọi là Đồng Bằng Sông Đà, nền văn minh Sông Đà (thay vì Nền văn minh Sông Hồng như nhiều thế kỷ qua chúng ta vẫn gọi). “Lý sự cùn” một chút như thế, cũng chỉ là để chúng ta thêm trân trọng sông Đà, ngõ hầu chung tay giải bài toán: phải sớm tìm các phương tiện kỹ thuật, các hình thức nghệ thuật “đủ dùng” để lưu giữ huyền sử sông Đà.
Xin hãy cứ mở đầu bằng một lời hiệu triệu….
Hà Nội 1h30p, ngày 22/12/2008
Đỗ Doãn Hoàng
Chùm ảnh:
- Ảnh O: Sông Đà khúc thượng du, nơi con sông Đà chảy vào Việt Nam.
- Ảnh 2 và 6: Thác Kẻng Mỏ còn hung dữ, ngay cả khi thủy điện Hòa Bình đã đi vào hoạt động. Song chỉ vài năm nữa, sông Đà sẽ không còn thác!
- Ảnh 1: Thiếu nữ Hà Nhì sặc sỡ sắc màu ở bản Xi Nế, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu, ở đầu nguồn sông Đà.
- Ảnh 3: Ngã ba Hồng Đà, doi đất cuối cùng, nơi sông Đà kết thúc hành trình dài gần 1000km của mình (trong đó khoảng 500km trên lãnh thổ Việt Nam).
-Ảnh 11: Cây cầu nhỏ bé, vắt vẻo này, là cây cầu đầu tiên bắc qua sông Đà, kể từ khi Đà Giang nhập tịch Việt Nam.
-Ảnh 7: Vẻ thanh bình với thuyền đuôi én ở bản người Thái, xã Cà Nàng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Chỉ ít năm nữa, toàn bộ vùng mênh mông này sẽ vùi sâu trong bụng nước hồ Thủy điện Sơn La.












