My Opera is closing 3rd of March

Subscribe to RSS feed

Ông luôn làm tôi cảm kích, tôi muốn viết về ông đã lâu, cho đến khi, vì tuổi già, ông đã không nhớ nổi tôi là ai nữa...

Sự thao thức của phẩm cách con người…

Ghi chép của Đỗ Lãng Quân

Người đàn ông tóc bạc thức trắng đêm bên chiếc máy chữ cũ

Những kỷ niệm với ông Đào Đình Bảng - nguyên là Giám đốc Công an (trước gọi là Trưởng ty) kiêm Phó Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái, Giám đốc Công an Lạng Sơn và Cao Lạng (cũ), Cục trưởng Cục Kinh tế 1, Phó trưởng đoàn chuyên gia Bộ Nội vụ tại Lào - đã gieo cho tôi thêm rất nhiều suy ngẫm về các giá trị tử tế của cuộc sống, của “phẩm cách con người”. Ông Bảng giản dị, lặng thầm, có vẻ ông luôn tự khắc nghiệt với chính ông để ngày càng khiêm nhường, vị tha hơn; dường như những “túi áo giá cơm” quay cuồng ở đời không vướng bận được vào ông. Lần đầu gặp tôi, ông chỉ im lặng qua sát, giống như có một nỗi cô đơn khó chia sẻ đang làm ông tự tách biệt với những người trẻ ồn ào như tôi lúc đó? Bấy giờ, tôi tìm ông để hỏi rõ đầu đuôi xuôi ngược cái vụ bom Mỹ tàn sát hơn 50 cán bộ, học viên ngành y ở thị xã Yên Bái (năm 1965), câu chuyện gây tranh cãi đã nửa thế kỷ. Trận cuồng sát của giặc Mỹ đã giết chết hơn 50 con người tuổi trẻ, tài cao, có người tốt nghiệp Đại học Y, có người đem theo hành trang là 2 tấm bằng đại học, với tinh thần thiện nguyện vì vùng cao đang rực cháy. Họ bị vùi dưới các giao thông hào khi đang làm nhiệm vụ cứu thương. Suốt một đêm ròng, những cỗ xe trâu buồn thảm, trệu trạo chở hết hơn 50 cái quan tài ra nghĩa địa bìa rừng ven thị xã.

Thế mà, suốt gần nửa thế kỷ sau đó, hàng chục công văn, giấy tờ, hàng chục cuộc họp ầm ĩ tranh luận, cơ quan chức năng tỉnh Yên Bái vẫn nằng nặc coi các cán bộ ngành y kia là những nạn nhân chết vì “rủi ro” trong chiến tranh. Không công nhận thương binh liệt sỹ, không một lời an ủi các gia đình dòng họ, dẫu cả kho tài liệu, từ tài liệu có dấu có triện, đến các bức thư tay trước lúc tuyệt mệnh, cả các bức thư viết từ trước khi có trận bom tấn giết chết hơn 50 người trẻ tuổi… đều chứng minh quá thuyết phục một điều: họ đã hy sinh vì nhiệm vụ, khi đang làm nhiệm vụ cao cả. Tôi đã làm việc trực tiếp với hơn 20 ban ngành của tỉnh Yên Bái, đã lên gặp trực tiếp đồng chí Thứ trưởng Bộ LĐTBXH Trần Đình Liêu về vụ việc này. Khi cơ quan hữu trách công nhận nhiều người ngã xuống là “hy sinh vì nhiệm vụ”, thân nhân của các cán bộ ngành y đã “vị quốc vong thân” cùng òa khóc. Lúc ấy, tôi nhớ tới ông Đào Đình Bảng. Khi trận bom thảm khốc xảy ra (đến nay các hố bom vẫn sâu hun hút ngay trong khu trung tâm nhất của thành phố Yên Bái), ông Bảng đang là Trưởng Ty Công an, kiêm Phó Chủ tịch UBND tỉnh, ông đã cho lực lượng đi cấp cứu, thu gom, đào tìm các thi thể, những bức ảnh sống động còn đó, nhân chứng (là lãnh đạo, trực tiếp có mặt ở nơi bom đang cày xới) còn đó, và ông Bảng tự cật vấn lương tâm mình: cớ sao không nói ra sự thật. Cớ sao không “chiến đấu” vì sự thật?

Tôi bị ám ảnh bởi sự đề phòng đầy cô đơn của ông Bảng với tôi. Vì sao? Vì ông đã kiến nghị thống thiết suốt hơn 40 năm ròng về cái chết của những người mà về “lý” không liên quan gì đến trách nhiệm ông - một cụ già về hưu lọm khọm. Ông đã “kêu” ttừ tỉnh đến Trung ương, đã nghe hứa và hứa mà không có một kết quả gì, vì thế, thật khó để ông không nghi ngờ gã trẻ vào hàng “cháu chắt” như tôi. Khi khai thác tư liệu vụ thảm sát các cán bộ y tế, tôi sửng sốt vì giọt nước mắt của ông Bảng, ông “chiến đấu” vì cái gì? Ông nhớ vanh vách từng chi tiết của vụ bom tấn giội xuống các mái tóc xanh, ông bảo, mấy chục năm sau, người dân làm nhà ở khu vực hồ Nguyễn Thái Học còn đào thấy những hộp sọ, những lọn tóc dài và mảnh cặp ba lá sáng lấp lánh của các nữ cán bộ y tế mới 20 tuổi đã vĩnh viễn nằm xuống. Bây giờ, có bao nhiêu Phó Chủ tịch tỉnh của chúng ta có thể khóc được khi ngồi cạnh nhà báo nhỉ nói về một câu chuyện nửa thế kỷ trước nhỉ? Ông Bảng quên đi chức vụ, quên đi cái sự hưu trí “lão giả an chi” mà lẽ ra ông được hưởng. Ông trở thành người “rách việc” trong mắt nhiều cán bộ tỉnh Yên Bái, bởi ông liên tục yêu cầu trả lại sự thật cho lịch sử, cho những người đã nằm xuống. Ông bảo, ngay cả khi có bằng liệt sỹ, gia đình, thân nhân của các người trẻ đã ngã xuống cũng không cần một đồng tiền nào, chỉ đơn giản, họ cần sự thật. Giọng ông Bảng da diết.
Vợ ông, các con ông (người là công an, người là bác sỹ, người là cán bộ ngành hàng không) đều trăn trở kể: chúng tôi lo lắm. Đêm nào ông cũng thao thức cả đêm, ông ngồi viết lại các tài liệu cũ, ông viết thư kiến nghị mong trả được món nợ với những người đã nằm xuống cho đất Yên Bái trù phú hôm nay. Tính ông nghiêm cẩn, mực thước, mô phạm, ông sợ mình viết có gì sơ sảy, cũng sợ có lỗi với hơn 50 người đã nằm xuống. Đêm, loạch xoạch gõ bàn tay già nua vào máy chữ, giấy cũ đùn lên một nửa trang lòe nhòe, đọc lại, thấy chưa yên tâm, ông lại hủy bỏ. Lại viết. Lại hủy. Vì thế, những tư liệu mà ông Bảng cung cấp cho tôi, rành mạch, cụ thể, sạch sẽ, dấu chấm dấy phảy chính xác từng li từng tí. Tôi gọi đó là những tài liệu có bảo hiểm.
Có đêm ông ngồi gõ kiến nghị về chống tham nhũng, về việc giúp đỡ người vùng cao nhận thức còn vấp phải nhiều hạn chế có thể chống lại sự xấu xa của các thế lực phản động. Có khi, ông muốn viết như trả nợ với lịch sử, bằng cách kể các bài học từ quãng đời oai dũng mà ông đã sống, chiến đấu ở các vùng địa đầu, xa xôi của tổ quốc. Ông khoe, ông từng làm thơ về 4 cây đào trồng trước căn phòng giản dị của mình khi làm Giám đốc công an vùng cao. Bốn cây đào đó cũng chính là bốn cô gái họ Đào (con ruột ông) mà ông hết lòng thương nhớ khi phải “chiến chinh” xa nhà. Ông từng “trốn” vợ đi công tác, có khi nói là đi ít ngày rồi nhiệm vụ tuyệt mật mang ông đi suốt nhiều năm. Đôi lúc, đón giao thừa nơi biên cương, ông làm thơ tặng vợ con, đọc thơ chung vui với dân bản, cả trong những ngày tình hình nóng bỏng và hiểm nguy nhất. Nhiều câu chuyện ông Bảng đã trở thành huyền thoại ở khắp Lạng Sơn, Yên Bái, Cao Bằng.. (sau này được nhiều người đương thời viết lại). Như chuyện ông Giám đốc Công an, đại tá Đào Đình Bảng tay không đi vào vùng hiểm nguy để trấn an bà con, giải oan cho các bản làng bị hắt hủi tội nghiệp, ông dùng uy tín và chức vụ của mình bảo lãnh cho những người bị trói, bị tạm giữ mà sau nhiều đêm rủ rỉ tâm sự, ông biết rõ người ta bị oan (thậm chí có người là bệnh nhân tâm thần do sức ép bom đạn hồi phục vụ cách mạng)…

Một “tiểu thuyết chương hồi” về lương tâm người cán bộ !

Chưa bao giờ cho phép mình tơ hào một cái gì của dân, dù là trong… suy nghĩ, ông Giám đốc Công an, Phó Chủ tịch tỉnh thời cũ cứ thẳng băng như một khái niệm về lòng tận tụy với dân. Nhiều người ở Lạng Sơn, Yên Bái từng gắn bó với ông Đào Đình Bảng, đến giờ vẫn không thôi khâm phục về phẩm cách của người cán bộ quá “bôn” ấy. Cấp trên hay cấp dưới, đến với ông Bảng, dù là thanh kiểm tra hay thăm thú, làm nhiệm vụ gì gì đi nữa, ông đều mời vào bếp ăn tập thể. Ăn với cán bộ chiến sỹ cho vui. Làm quan, có phải ai cũng nghĩ được như ông Bảng đâu. Nghe nói, không ít lần ông Bảng mang tiếng coi thường thực khách vì sự giản dị khả kính đến khó tin đó…

Các nhân chứng, nhiều đồng nghiệp còn nhớ rất nhiều câu chuyện cảm động liên quan đến nhân cách tuyệt vời của ông Bảng. Bản thân ông Bảng, già yếu lắm, giờ đây cũng vẫn hằng ngồi bên cái máy chữ cũ kỹ giữa lòng Hà Nội để ghi lại những suy nghĩ tâm đắc nhất trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, coi như đó là phương cách hữu hiệu để ông tri ân cuộc đời. Ông muốn cống hiến, dù mắt mờ lắm, chân chậm lắm rồi. Ông theo cách mạng đánh Pháp từ hồi tiền khởi nghĩa, bị địch bắt, tù đày khắp nơi, khi cách mạng Tháng Tám thành công, là người công an nhân dân, ông Bảng đã không tiếc mình để tận tụy với dân.

Tôi tình cờ đọc được những tâm sự của bà Đỗ Ngọc Mai (một phóng viên làm việc ở Sở Văn hóa - hiện nay đang sống ở TP Lạng Sơn, được tỉnh cử theo sát để viết bài về Công an Lạng Sơn, khi ông Bảng là Giám đốc Công an Lạng Sơn) kể về kỷ niệm ấm lòng, đáng khâm phục với Đại tá Công an Đào Đình Bảng. Bấy giờ, có một cái bản ở huyện Tràng Định (nay là huyện của Lạng Sơn) bị kẻ xấu tung tin đồn nhảm là đã “bán mình cho ngoại bang”. Vốn cả tin, lại ít hiểu biết, bà con kinh hãi nằm đâu nằm đó, hoặc trốn vào hang núi thâm u, với nỗi lo sẽ bị thế lực nào đó tàn sát toàn bộ trong nay mai. “Người Dao không dám xuống núi, bởi đi đến đâu, họ cũng bị xua đuổi, ném đá, chửi rủa, ghê tởm. Họ nơm nớp lo sợ, đêm ngày ôm nhau than khóc, có bao nhiêu lợn gà họ đêm thịt ra, ai cũng nghĩ mình đang ăn bữa cơm thịt cuối cùng, để nếu chết cũng làm con ma no”. Nghe tin, ông Bảng cho trinh sát tìm hiểu, khi nghe báo cáo, ông ngồi bần thần, vẻ đau khổ lộ rõ trên nét mặt. Cứ cán bộ lên, là bà con kêu khóc, bỏ chạy tuột vào rừng, bản làng vắng hoe, không một bóng người. Tiếng oán thán thê lương. Ông Giám đốc Công an tỉnh yêu cầu lực lượng bảo vệ cất toàn bộ súng ống, ông tay không đi về phía dân làng, khuyên giải. Xung quanh, ai nấy bàng hoàng lo sợ, vì bấy giờ, thế lực xấu có thể xuất hiện ở khắp nơi và giở đủ trò tàn ác. Quả nhiên, dân làng đã dò xét từ hang núi, từ các cánh rừng trở về. Khi biết một giám đốc Công an tay không tấc sắt, đến tận bản ngồi khuyên giải, minh oan cho bà con thuần phác ở nơi heo hút, ông trưởng bản đã khóc òa sung sướng. Tiếng khóc vì xúc động rền vang khắp bản làng.

Tôi đã đọc nhiều cuốn hồi ký, hồi ký có những thế mạnh quyến rũ mà không một thể loại nào có thể so sánh được. Nhưng viết hồi ký cũng lắm hệ lụy, cho nên ông Bảng mới kỳ cạch gõ bằng máy chữ cũ kỹ lời nói đầu cho các dòng tự sự. Đó là một đoạn “trình làng” rất ấn tượng. Đại ý như sau: Phải là người có tấm lòng vì Đảng, vì dân, không hề tính toán địa vị, lương bậc, không sợ phải xa gia đình, thì mới dám “xông” lên. Ông đã xông lên đấu tranh chống lại việc hai Bí thư Tỉnh ủy hai tỉnh Lạng Sơn và Yên Bái (trước đây) nặng đầu óc cá nhân, ra chỉ thị trái với chính sách và pháp luật. Ông đang kể lại những câu chuyện thời kỳ ông làm giám đốc Công an hai tỉnh trên. Rằng: “… nói lên sự thật, phải có người thật chứng minh, mong các đồng chí có tên (trong hồi ký này) thông cảm”. Ông biết, viết ra những điều đó, sẽ là bài học về sự củng cố sự nhất trí về chính trị và tình thần trong nhân dân, củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và quần chúng. Các câu chuyện được kể dưới dạng “chương hồi”, mỗi chuyện nhỏ, có một tít nhỏ, rất cụ thể, chi tiết, giàu xúc cảm, nó như một tác phẩm báo chí tách bạch. Như mảnh vỡ của một tâm hồn, một phẩm cách người cán bộ, người chiến sỹ công an hết lòng vì dân, vì nước. Tôi đọc được nỗi khát khao được cống hiến đến hơi thở cuối cùng trong ông. Viết lại những câu chuyện máu thịt dưới đây, ông thổn thức và người đọc cũng thổn thức.

Trong một đêm khuya nào đó, ông già Đào Đình Bảng thao thức nhớ lại một con người từng bị trù úm, bị quy là phản động khổ sở. Ông Bảng ngồi trước máy chữ, và gõ tít bài: “Anh Lê Văn Đức, một con người có bản lĩnh nhưng cuộc đời gặp nhiều chuyện bất hạnh”. Có phải, ông Bảng rất sợ mình sẽ già quá, sẽ quên đi ấn tượng đẹp và nỗi thương cảm về một con người như Lê Văn Đức? Có phải, nỗi hàm oan tội tình của ông Đức cũng là món nợ mà ông Bảng tự thấy mình cũng có trách nhiệm phải trả. Trả giúp ông Đức, trả cho lịch sử, một bài học rất Người?

Ông Bảng viết: “Anh (Đức) bị đưa ra khỏi biến chế ngành giáo dục Yên Bái mà dư luận nói là khuyết điểm trai gái. Nhưng thực chất là lý lịch của anh bị bôi vết đen Quốc dân Đảng - nhưng chính anh đã bị bọn Quốc dân Đảng phản động ở thị xã Yên Bái hồi cuối năm 1945 bắt giam, tra hỏi.

Sau khi ra khỏi biên chế ngành giáo dục (năm 1954), anh đã vay của ngân hàng tỉnh 2.000 đồng mua một đàn dê chăn thả, anh mang cái tên “Đức dê” từ ngày đó. Anh đội chiếc mũ cọ rộng vành, dắt theo con chó săn, tay cầm quyển truyện, hằng ngày chăn đàn dê trên một quả đồi nhỏ”.

Thế nhưng, Lê Văn Đức không được yên thân, bị người ta tố cáo nhiều lần trên loa đài do tiếc con chó trung thành mà không “tiêu diệt” nó theo lệnh lúc bấy giờ, ông còn bị xưởng cưa xẻ của bên thương nghiệp lấy mất đất, đẩy anh và 12 người con ra đường giữa 30 Tết, rồi anh bị bắt giam đầy oan khiên… Giống như một thiên ký sự trần trụi về những ấu trĩ một thời, về cuộc đời trầm luân của một con người có nghĩa khí như ông Đức, ông Bảng viết đầy cảm khái tiếp: (Khi ông Đức bị bắt giam) “Tôi biết anh Đức (bị oan) nhưng tôi không thể trả tự do cho anh ngay được. Tôi đã trao đổi với đồng chí Hành – giám thị trại tạm giam, về thái độ đối xử với anh Đức. Sau hơn 1 tháng giam giữ, tôi về trực tiếp báo cáo và in ý kiến giải quyết của Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn, về phản ảnh với Bí thư tỉnh ủy, anh Lê Văn Đức được trả tự do hoàn toàn. Vào dịp bầu cử quốc hội khóa 2. anh (Đức) liền ra ứng cử Đại biểu quốc hội, mặc dầu biết là mình không trúng cử, nhưng anh muốn tỏ cho mọi người biết là anh vẫn có quyền công dân… Riêng tôi, là Trưởng Ty Công an, mỗi khi đi qua nhà anh, tôi vẫn rẽ vào thăm anh chị và gia đình”.

Có thể, trên đời này, ngoài gia đình ông Đức ra, ít người còn nhớ ông Đức và những nỗi oan khiên của ông ta. Nhiều khả năng, ông Đức không còn sống. Lịch sử cũng không bắt ông Bảng phải trăn trở, xóa tội cho ông Đức. Nhưng ông Bảng (như đã viết ở trên) luôn tự khoác cho mình một trách nhiệm do lương tâm thôi thúc. Cứu ông Đức ra khỏi vòng lao lý rồi, về già, ông Bảng lại muốn viết lại bài học so buồn này, ngõ hầu nó giúp ích cho cuộc sống nhiều hơn nữa, sau khi đã cứu một cuộc đời, một gia đình, dòng họ (nhà ông Lê Văn Đức). Sự thôi thúc đó, đến từ phẩm cách làm Người, Con Người.

Có nhiều chuyện, ông Bảng “giật tít” rất “ăn khách”, kiểu như: “Phong Dụ, một làng người Dao sắp nổi phỉ?...”; nhưng thật ra đó là câu chuyện ân tình rớt nước mắt. Đó là bài học về tấm lòng người cán bộ với dân của mình. Một ngày, ông được Phó Bí thư Tỉnh ủy giao nhiệm vụ khẩn trương trấn áp bọn nổi phỉ. Các báo cáo “đáng tin cậy nhất” liên tiếp được cơ sở báo về, đều với nội dung đó. Ông Bảng là người sâu sát với đồng bào người Dao, ông bắt đầu thắc mắc: bà con Phong Dụ hoang vu kia vốn hiền lành lắm, đời sống khá lắm, sao lại nổi phỉ đòi phá kho thóc, đánh cán bộ giữ kho thóc để kiếm cái ăn nhỉ? Ông nghe chính quyền báo cáo, vẫn chưa thỏa mãn, ông Giám đốc Bảng mới lại đòi nghe bên thu mua lương thực báo cáo. Thì hóa ra vì cán bộ xã “thiên vị” đồng bào Tày (cán bộ là người Tày), ông ta vận động để người Dao bán hết thóc cho “bên lương thực” để lấy “thành tích chung”. Người Dao thật thà và yêu nước, họ bán gần hết số thóc trong nhà cho đơn vị thu mua lương thực “giúp dân giúp nước”. Người Tày vẫn giữ nguyên lượng thóc của mình. Khi giáp hạt, lời hứa “sẽ mở kho thóc cứu đói cho dân” không được thực hiện. Người Dao nổi nóng, bảo cán bộ lừa dân, bóc lột dân, phải đốt kho thóc, bắt giữ cán bộ coi kho mà kiếm cái ăn. Nắm được bản chất vấn đề. Ông Bảng đề xuất mang 5 tấn thóc cứu đói khẩn cấp cho dân, rồi ông (trích nguyên văn): “làm một bữa cơm (chỉ cơm nắm muối vừng) mời đại biểu người Dao ở từng thôn xóm về họp mặt với chính quyền xã và đại biểu của tỉnh để làm công tác tư tưởng, bàn việc cấp thóc cứu đói”. Ông Bảng kết luận bằng những dòng nhòe nhoẹt với cái máy chữ cũ mèm: “Thế là giải quyết được cái gọi là “âm mưu nổi phỉ”.

Lại có chuyện, trong một Hội nghị quan trọng của huyện Trấn Yên, có một “phần tử chống phá Đại hội…” mặc quân phục bạc màu, đầu không mũ nón bị trói trật cánh khỉ… bị lực lượng chức năng ký quyết định tạm giữ, với lời phê của lãnh đạo tỉnh đầy hốt hoảng: “phải giam giữ cẩn thận”. Thấy chưa có hồ sơ “tội ác” rõ ràng, ông Bảng bèn trực tiếp đến gặp “phần tử chống đối”. Việc đầu tiên là ông Bảng mời “phần tử” vào phòng khách nghỉ, báo cơm nhà bếp cho ông ta ăn cùng mình, rồi thỉnh thoảng lại trò chuyện rủ rỉ. Anh ta bình tĩnh lại. Kết hợp điều tra, hóa ra “phần tử chống đối” tên là Quốc Tiến, người làng Tuy Lộc, cách huyện lỵ không xa, vốn là Chiến sỹ Điện Biên Phủ oai hùng, do bị sức ép của đại bác địch quá nhiều nên thần kinh hơi bị ảnh hưởng. Chẳng là, trong lúc văn nghệ chào mừng Đại hội lớn, anh Tiến đã trịnh trọng lên ngồi ghế đại biểu rồi… nghe ngóng. Bị quát tháo ầm ĩ, bị đối xử thô bạo quá, anh Tiến nổi nóng đánh nhau với cán bộ huyện, thế là bị khép tội “chống phá Đại hội Đảng”. Sau cuộc ‘đàm đạo” với ông Bảng, lập tức anh Tiến được trả tự do!

Nghe ông Bảng tâm sự với tôi về từng ngõ ngách của xứ sở Tây Bắc, nơi mà suốt đời ông đã gắn bó; đọc những gì ông viết lại trong những đêm thao thức kỳ quạch bên chiếc máy tính cũ, tôi không thôi xúc động nghĩ về cái “tiêu tốn” cuộc đời mình của mỗi con người ta! Ai cũng một thời tuổi trẻ, cũng có chỉ một cuộc đời, sao lại không dám thật thà với chính mình, với chính Cuộc Đời để được cống hiến cho cộng đồng như ông Bảng? Khác với nhiều người, không phải chờ đến khi rũ áo quan trường an hưởng tuổi già mới dám thẳng đuột nói và làm vì sự thật, từ suốt mấy chục năm trước, khi đương chức Giám đốc Công an tỉnh Lạng Sơn, Giám đốc Công an tỉnh Yên Bái, ông Đào Đình Bảng đã dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm khi thả người bị bắt giữ, bắt giam oan sai. Ông đã tay không đi vào vùng nóng bỏng với bao nhiêu hiểm nguy rình rập để cứu đồng bào mình khỏi oan khiên, ông đã cứu anh bộ đội giải ngũ khỏi cái tội tày trời “Chống phá Đại hội Đảng”, đã dùng bữa cơm nắm muối vừng cứu cả làng người Dao thật thà, yêu nước khỏi nguy cơ bị coi là đám đông “nổi phỉ”. Ông làm tất cả những điều đó, đôi khi mất lòng quá nhiều người đương thời để làm những điều đó: vì lẽ gì? Giờ đây, tuổi già, thao thức đi tìm sự thật cho những người “vị quốc vong thân”, đồng thời viết ra toàn bộ “sự thật” không mấy dễ nghe về mấy mươi năm mình đã cống hiến - ông làm những việc đó: vì cái gì?
Ông bảo, ông làm vì những cái quý báu thuộc về phẩm giá con người mà ông tôn thờ hết mực. Giá mà cuộc đời có thật nhiều Bao Công như ông Bảng.



Box:
Ông Đào Đình Bảng sinh năm 1924, trong một gia đình nông dân ở xã Minh Quân, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Năm 1940, ông tham gia hoạt động, và được kết nạp vào Đoàn Thanh niên phản đế (nay là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh); bị Thực dân Pháp bắt giam, trải qua hai nhà ngục, bị tra tấn dã man, ra tù ông Bảng rút vào hoạt động bí mật không liên lạc với gia đình. Cách mạng Tháng Tám thành công, tham gia giành chính quyền ở thị xã Yên Bái. Trải qua các chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Giám đốc Công an tỉnh Yên Bái, 2 lần là Giám đốc Công an tỉnh Lạng Sơn,… ông Bảng từng xin với Ban Tổ chức Trung ương cho phép không “đi nhậm chức” Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng, để tiếp tục cống hiến cho nhiệm vụ bảo vệ an ninh ở vùng biên cương nóng bỏng (vào năm 1978). Với những nỗ lực của ông và đồng đội, năm 1982, lần đầu tiên Công an Lạng Sơn được vinh dự đón nhận danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”. Năm nay đã bước sang tuổi 86, với 64 năm tuổi Đảng, từng được nhận Huân chương Độc lập Hạng Ba, kỷ niệm chương chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù đày, (theo báo Công an nhân dân mới đây) nhiều danh hiệu phần thưởng cao quý hơn nữa có thể sẽ được “phong tặng” cho ông Bảng, một người suốt đời cống hiến cho sự nghiệp an ninh của Tổ quốc, trọn đời thủy chung với Đảng.


Hà Nội tháng 4 năm 2009.


Các Huân Huy chương ông Đào Đình Bảng được vinh dự đón nhận (mà gia đình còn giữ được):
1/ Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng Nhì
2/ Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất
3/ Huân chương Quân công hạng Nhì
4/ Huân chương Độc lập hạng Ba
5/ Huy chương Bảo vệ an ninh Tổ quốc
6/ Huy chương vì thế hệ trẻ
7/ Kỷ niệm chương Hồ Chí Minh
8/ Kỷ niệm chương vì Độc lập, Tự do
một số khác bị mất hồi chiến tranh năm 1979
Ông Đào Đình Bảng là Đại biểu Quốc hội khoá 2

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28