My Opera is closing 3rd of March

Subscribe to RSS feed

Nhân chuyến trở lại Bình Định và miền Trung, cuối tháng 6 năm 2009 (Bài đăng báo An ninh Thế giới)

Lời trăng trối của... tôm!


Ghi chép của Đỗ Lãng Quân

Đầm Thị Nại (bao bọc ven TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) là một vùng nước mặn tuyệt kỹ, mênh mông, huyền thoại, rộng tới 5.000 héc-ta, tên gốc tiếng Chăm của nó hơi dài và trúc trắc một tí: Thị Lị Bi Nại, đó cũng đồng thời là một hải cảng kiêu hùng của Vương quốc Chăm-pa xưa. Thị Nại mơ màng ôm trùm lấy tỉnh lỵ Bình Định. Đầm rộng lớn tới mức, ở nơi eo thắt nhất của đầm, mới đây người ta xây một cây cầu kiên cố để nhiều xã ở ven tỉnh lỵ thôi cảnh đò giang cách trở quá hoe hoắt, thế mà sự nối nhịp đó cũng đủ dài dặc để trở thành cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam! Hơn một nghìn ngư phủ mới chỉ khoanh một diện tích nhỏ bé của Thị Nại vào, thế mà người thôn Huỳnh Giản (xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước) đã trở thành địa phương có diện tích đầm tôm lớn nhất tỉnh. Phước Hòa, trong chớp mắt, trở thành một “Hồng Kông bên hông Quy Nhơn”, với nhà lầu xe hơi, tiện nghi đắt tiền - một điều mà ngư dân Huỳnh Giản, vùng đất nghèo từ thượng cổ vẫn cứ mơ màng “đất võ trời văn” vô cùng đạm bạc. Một thời gian dài, người tứ xứ đổ về Huỳnh Giản hào hởi với giấc mơ “làm chơi ăn thật”, mà làm giàu nứt đố đổ vách hẳn hoi.
Thế rồi, đùng một cái, tôm chết trắng đồng đầm, thôn Huỳnh Giảng trở thành nơi có nhiều Chúa Chổm nhất Việt Nam. Hầu như toàn bộ các gia đình đều cắm sổ đỏ ở ngân hàng, họ nợ ở tất cả những cái nguồn có thể nợ, số tiền lên tới 25 tỷ đồng. Tiếng kêu thấu lên tỉnh, lên trung ương, Nhà nước phải “đặc cách” giãn nợ, xóa bớt nợ cho vùng tôm lao đao tận khổ; nhưng đến giờ, nợ vẫn đầm đìa như nước đầm Thị Nại.

Và, giờ đây, lang thang ở Huỳnh Giản, nhìn nước mắt của bà con rơi và rơi, người tứ tán ly hương, người dựng lều ở tạm, người chui vào gậm bàn thờ để tránh gặp mặt cán bộ ngân hàng tín dụng đến tróc nợ - bất chợt tôi thấy lời trăng trối của... con tôm. Lời trăng trối của một lối làm ăn chụp giật, xổi thì, thiển cận.



Ngôi làng nhiều Chúa Chổm nhất Việt Nam

Dĩ nhiên là chẳng ai muốn tôm chết, chính tôm cũng không muốn đông đàn dài lũ nhà chúng bị tật bệnh rồi chết cả nhiều nghìn héc-ta như suốt bảy tám năm qua. Từ thời các vua nhà Lý rong thuyền rồng vào cửa Thị Nại thực hiện các giấc mơ chinh phạt (và trước trước nữa nữa), từ hàng nghìn năm qua, có lẽ người bản xứ vẫn cứ nuôi tôm, nhưng chưa bao giờ có chuyện tôm chết la liệt, chết năm này qua năm khác, chết đến héo rạc thê lương cả không biết bao nhiêu phận người như thế.

Trưởng thôn Huỳnh Giản, ông Võ Hữu Quế, một “quái kiệt” nuôi tôm trong khu vực, nhớ lại: cách nay khoảng 11 năm (vào năm 1998), khi bắt đầu rộ lên phong trào nuôi tôm quảng canh, thâm canh, nhà nhà nuôi tôm, từ nội đồng người ta tràn ra đầm Thị Nại khoanh ao đìa để nuôi tôm, bấy giờ Huỳnh Giản mới chỉ có 60ha diện tích để làm “vương quốc” tôm. Người xã khác, thôn khác, huyện khác, tỉnh khác cùng lục tục kéo về Huỳnh Giản. Họ giàu lên trông thấy, con tôm đã cõng “vàng thoi bạc nén” từ đầm nước mặn mịt mù kia lên cho bà con, ai cũng đổi đời. Thôn đất trũng, lại là vùng gần sát với cửa sông Kôn dữ dội đổ ra đầm Thị Nại, mùa về, tôm béo nục nạc, năng suất không nơi nào bằng. Không một thứ dịch bệnh. Lại thêm, tôm bán ra thị trường rất được giá: 1kg tôm (loại 40 con/kg), lúc cao điểm lên tới 120.000 đồng, có nhiều ao làm chơi ăn thật, “vọt” lên 2 tấn tôm/ha. Bà con giàu như trúng xổ số cả làng.

Xe máy, giàn karaoke, catsette, nhà lầu, đường làng bao năm sình lầy, ngập ngụa, đã được bà con lên kế hoạch bê tông hóa toàn bộ. Nam thanh nữ tú trong làng, diện nứt trời, đủ “ngón” ăn chơi được lưu truyền, cả tỉnh Bình Định râm ran trầm trồ về một thứ (nôm na gọi là) “Hồng Kông thứ 2” của thế giới đang ùa ập về Thị Nại vốn hoang vu lấm láp. Anh Nguyễn Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch UBND (phụ trách kinh tế) xã Phước Hòa, đồng thời cũng là một chủ đầm tôm, gặp lại chúng tôi giữa năm 2009, tiếc nuối kể: “Cứ tính trung bình, bỏ rẻ, trước năm 2001, 1ha đầm tôm ở xã chúng tôi, một vụ, phải thu lãi khoảng 200-300 triệu đồng (tiền ở thời điểm bấy giờ). Bà con ăn tiêu dữ lắm. Cứ bỏ ra 30 triệu, sau 3 tháng, sẽ thu gấp 200 triệu đổ lên! Đến mức, nhà nước cho vay tiền lãi suất ưu đãi 0,4 - 0,6% theo kiểu giúp hộ nghèo vượt khó, thế mà bà con làm một vụ tôm, xách giỏ tiền đến gặp cán bộ trả luôn cả gốc lẫn lãi. Mỗi khẩu được khoảng 800m2 đầm tôm, lúc đó, bán chỉ tiêu “thầu đầm” sang tay, lập tức mỗi khẩu bỏ túi 6 cây vàng. Thế mà không một “nhân khẩu” nào chịu rời đầm tôm, người ta coi giọt nước đầm như giọt vàng...”.

Đùng một cái, với lối làm ăn chộp giật, bừa phứa, “ăn” xổi thiếu hiểu biết, lại thêm sự thờ ơ “ngắn nghĩ” của nhiều cái bộ hữu quan, “Hồng Kông thứ 2” Huỳnh Giản rơi vào lụn bại. Môi trường ô nhiễm, mạnh ai nấy làm, họ đã vô tình dùng hóa chất, dùng các chế phẩm “lợi bất cập hại” để hại bạn đầm phá rồi quay lại “hãm hại” chính mình. Họa vô đơn chí, đó cũng chính là thời điểm giá tôm tụt giảm nghiêm trọng, tụt giảm nhiều năm không một lần... tăng. Hóa chất được sử dụng tràn lan, những “tồn dư” của nó đã làm tôm bệnh, tôm chết, càng lỗ, càng cay cú, càng nuôi tôm để mong vớt vát được “thời hoàng kim” lại càng... thê thảm. Thất vọng cứ chồng lên thất vọng, con tôm tử tế với người Huỳnh Giản được chưa đầy 3 năm; rồi cứ thế nó hại bà con suốt 7-8 năm qua! Ông Sơn cùng anh Nguyễn Đình Dũng (cán bộ khuyến ngư xã Phước Hòa) mở sổ công tác, đọc những thông tin xót xa (hai anh cũng là những người nuôi tôm) cho nhà báo: “Năm 2009, xã vẫn có tới 327ha diện tích nuôi tôm. Nhưng vẫn thua lỗ, vẫn dịch bệnh như nhiều năm qua. Tôm trúng mùa vài năm, đến năm 2000 là bắt đầu con đường “chết chóc”. Từ năm 2001 đến năm 2007, Huỳnh Giản luôn có tới 80% diện tích nuôi tôm bị dịch bệnh! Năm 2008, con số này có đỡ thảm thương hơn chút đỉnh”. Nhưng bi kịch vẫn nằm ở chỗ: ngân hàng không dám cho Huỳnh Giản vay tiền nữa, không có tiền đầu tư, làm sao “phục thù” được với tôm? “Bà con không có tiền, nên không thể “xét nghiệm máu” cho tôm giống trước khi thả đồng loạt được. Họ phải mua giống bằng cách... “mua chịu” của tư thương. Mua chịu thì chấp nhận giống kém, giống có bệnh cũng đem về thả với suy nghĩ “méo mó có hơn không”. Con tôm bị bệnh từ lúc chưa về đầm nhà bà con, làm sao phát triển được” - anh Dũng chua chát phân tích.

Cái vòng luẩn quẩn, cái sự cay cú “phục thù” bằng nghề nuôi tôm để tìm lại một “Hồng Kông 2 - Huỳnh Giản”, đã khiến bà con lút sâu vào sự tán gia bại sản. Có người nhà sập dựng lều sống, nhiều gia đình như “tỷ phú” - trưởng thôn Võ Hữu Quế, 5 người con đồng loạt cho đi lao động xuất khẩu, rồi thất bại trở về với đống nợ to hơn, to mãi ra. Họ tứ tán đi kiếm cơm khắp Sài Gòn, mọi nơi, Tết đến mới tủi phận về thăm nhà được một lần. Có nhiều người, cứ thấy cán bộ ngân hàng đến là chui vào gầm giường, gậm bàn thờ để trốn. Bởi cái nợ của họ, có lẽ là vĩnh viễn không tài nào trả nổi. Đồng tôm phủ rong rêu, những đứa trẻ cũng bỏ học và rong rêu khắp cơ thể vì lặn ngụp ngoài đầm kiếm con ốc con hến. “Nhiều hộ đang đói, không có gạo ăn”, lãnh đạo xã thở dài nóivới nhà báo, rồi cử người đưa chúng tôi về thăm các hộ gia đình nghèo thậm tệ. Trong bản báo cáo mới nhất của UBND xã Phước Hòa, đặc biệt nhấn mạnh tình trạng bà con đi chặt rừng dương ven biển, đi chích điện (xiết điện đánh cá) tàn sát môi trường trên đầm Thị Nại, đi đào quặng thuê suốt đêm ngày vì... đói khổ. Chúng tôi tận mắt chứng kiến, có gia đình nhiều năm dựng lều ven đường cho hàng chục nhân khẩu tá túc, sau khi con tôm quay lại “báo hại” người Huỳnh Giản. Những cậu bé khôi ngô phải bỏ ngang tuổi học, vì bố mẹ không thể cứ mò cua bắt ốc nuôi cả đàn con ăn học được. Trăm thứ bi kịch, từ sự ra đi của con tôm. Tôm bị bệnh đỏ thân, rút thịt một cách ma quái. Cứ nuôi, tôm cứ sống, cứ ăn, nhưng nó ăn bại hết cả gia sản của người Huỳnh Giản đang bị đầm phá nuốt hết sinh lực, thế mà tôm nó không chịu lớn. Có khi, con tôm trông thì có vẻ lớn xác, nhưng bên trong, rỗng không có thịt, như bị ai đó đã ăn vụng mất thịt của tôm ngay từ khi tôm còn đang bơi trong đầm (bà con nôm na gọi là bệnh “rút thịt”). Năm 2008, anh Đỗ Văn Tàu, ở thôn Huỳnh Giản Bắc, thả 7.000m2 ao tôm, cuối năm tính đi tính lại đổ mồ hôi sôi nước mắt mà vẫn lỗ 20 triệu đồng. Giá tôm, có lúc chỉ còn 58 nghìn đồng/kg, sau 7 năm, tiền mất giá vùn vụt (so sánh năm 2008 với năm 2001), thế mà: năm 2008, giá một kilogam tôm bà con đem bán bị giảm mất một nửa so với năm 2001! (từ 120 nghìn đồng/kg, nay còn 58 nghìn đồng). “Trước, khi còn “trúng mùa”, 1kg tôm mua được hai ba tạ thóc, giờ, 1kg tôm mua được có 15kg thóc” - ông Ngô Văn Giao, người thôn Huỳnh Giản, đứng trước đầm tôm thất bát của mình, làm “phép tính buồn” với chúng tôi xong, ông lén gạt nước mắt. Gió từ đầm Thị Nại huyền thoại thổi vào, mang theo mưa, lạnh buốt.

Với mức nợ ngân hàng 25 tỷ đồng năm 2007, thôn Huỳnh Giản trở thành thôn có nhiều con nợ, với số tiền nợ lớn nhất Việt Nam (đấy là chưa kể các khoản “vay nóng, vay nguội, vay loanh quanh” của quỹ tín dụng, của tư nhân và các cách xoay xở giật gấu vá vai khác rất khó thống kê). Chia trung bình, riêng với số 25 tỷ tiền nợ, với “thành tích” làng không sổ đỏ, con tôm nuốt mất sổ đỏ. Đã từng có những cuộc cứu trợ tới 60 tấn gạo để chống chết đói cho làng tỷ phú Huỳnh Giản, đã từng có đơn kêu cứu lên Chính phủ, Quốc hội xin hãy “cứu” thảm cảnh ở Huỳnh Giản. Nhiều người, sau nhiều vụ thất bát đắng cay, vì đau buồn, đã không sống nổi đến khi Huỳnh Giản được trung ương nhân ái giãn nợ, xóa bớt nợ.

Ai làm tôm chết khắp 300 héc-ta mặt đầm suốt 7-8 năm qua ?


Chẳng có gì ma quỷ, hay rủi ro ở đây. Đơn giản là môi trường sống của tôm đã bị “xâm hại”. Một lối làm ăn tự phát, vai trò của nhà quản lý, giới khoa học ở hiện tượng “tỷ phủ Huỳnh Giản” quá mờ nhạt, quá bất lực. Có người bảo, tôm Huỳnh Giản thất thu, bởi một thứ vĩ đại “mang tính toàn cầu” lắm, cả thế giới bị, chứ riêng gì làng tôm ven đầm Thị Nại “dính chưởng”: “biến đổi khí hậu”. Có một chút... lý. Nắng quá, khí hậu khắc nghiệt hơn, dịch bệnh nhiều hơn, bản thân nước biển và nước của đầm Thị Nại cũng đã ô nhiễm hơn, khó chiều được cái loài “khảnh” tính như tôm hơn. Chẳng riêng gì Huỳnh Giản, 4 cái xã nuôi tương đối nhiều tôm ở khu vực, họ cũng đều có chung một thảm cảnh. Thế sao tất cả các vựa tôm ở Việt Nam này không bị biến đổi khí hậu làm hại, tôm Việt Nam vẫn ùn ùn sang Mỹ, sang Âu châu đấy thôi.

Đúng rồi, đó cũng chỉ là một cách nói nửa vời, nguỵ biện. Hãy nghe người nông dân đang khóc nức nở vì 7-8 năm ròng vẫn liên tục bị tôm “ác tâm” làm hại nói. Anh Dũng chắc nịch: “Lỗi là do quy hoạch và ý thức của người nuôi tôm quá kém. Trước đây, chưa nuôi nhiều, chưa thả nhiều hoá chất xuống đầm, sự thiếu quy hoạch này chưa thể hiện rõ tác hại. Nay nước bị ô nhiễm nặng nề. Hộ A thải nước bẩn, nước có dịch bệnh từ ao ra, nước chưa kịp lắng, chưa kịp ra biển, hộ B lại tức tốc lấy nước đó vào ao tôm giống nhà mình. Rồi cứ thế, cả làng, cả mấy xã, hàng vạn hộ dân cùng làm hại nhau. Tôm nào cũng ốm, chết. Đầm Thị Nại rộng 5.000ha, nhưng cái cửa biển để nước ở vùng này có thể ra, được làm sạch, chỉ rộng có hơn 100m. Rất lâu để nước trôi ra đại dương. Huỳnh Giản nằm ở cuối đường đi của con sông khi nó nhập vào biển, bao nhiêu nước “bẩn”, nước nhiễm bệnh từ các ao tôm các xã ở phía trên dòng sông đều đổ về “làng tỷ phú nhờ tôm”. Bằng chứng là tôm bị bệnh nặng rồi chết rất nhiều ở Phước Hòa, trong khi ở các xã đầu nguồn, như Phước Thắng, họ ít bị bệnh hơn”.

Ông Phó Chủ tịch UBND xã thì ngán ngẩn: “Khó mà trở lại thời hoàng kim của tôm Huỳnh Giản được. Phải có quy hoạch, lấy nước ra lấy nước vô, phải phòng ngừa dịch bệnh. Không thể để tự phát, người dân quá hám lợi mà làm ẩu như hiện nay được. Phải có hệ thống cấp nước và xử lý chất thải đàng hoàng”. Ai sẽ là người “phải và phải” làm những việc khắc phục hậu quả và chấn chỉnh làng tôm kia? Dường như, sự sa sút của các tỷ phú tôm ở Huỳnh Giản đã đi đến cao trào, đã là một kỷ lục. Và, đó cũng là kỷ lục của sự tự phát, sự thiếu hiểu biết, sự thiếu tư vấn, định hướng - “cùng nông dân bàn cách làm giàu” của cán bộ địa phương và các nhà khoa học. Sự “sống chết mặc bay” đó còn gây ra những hệ luỵ lớn hơn, khi mà sự độc hại, dịch bệnh của các ao tôm còn giết chết cả sự đa dạng sinh học, sự trong lành huyền thoại của 5.000ha đầm Thị Nại! Khi mà những hậu quả xã hội từ sự ly tán, bại hoại của một vùng dân cư như Huỳnh Giản, Phước Hoà sẽ không chỉ dừng lại ở chuyện tôm chết. Lúc ấy, cán bộ khuyến ngư và giới “khoa học” địa phương nghĩ gì nhỉ?
Sự cay đắng vì “lên tỷ phú, xuống lụn bại” suốt 8 năm qua, đã làm lão nông, lão ngư thô mộc Ngô Văn Giao thấm thía lẽ đầm tôm cay đắng, “tôm nuốt hết sổ đỏ của làng” với nhiều đúc kết của một... nhà khoa học, một chuyên gia bảo vệ môi trường. Ông bà có 5 người con, từng trang hoàng lộng lẫy “sập gụ tủ chè” với mức thu vài trăm triệu/năm nhờ 7.000m2 đầm tôm ven Thị Nại. Nay tay trắng, năm 2009 vẫn tiếp tục thả hàng vạn con tôm mỗi lứa để thu về... sự cầm chắc thua lỗ. Ông oán thán: “Bà con chúng tôi không thể sống được vì sự ô nhiễm nguồn nước của đầm hiện nay, cơ quan có trách nhiệm phải khẩn cấp quy hoạch các ao tôm (ít ra là 320ha nuôi tôm ở Phước Hòa) lại. Hệ thống cống ngăn mặn ở khu Đông bị lở hết, việc điều tiết nước, ngăn nước “phế thải” vào khu vực nuôi tôm giờ không thể thực hiện. Bà con xả nước bẩn ra rồi lại, lấy nước “bẩn” vô nuôi tôm, gì mà chẳng... “chết”. Nguyên nhân quan trọng nữa là vì “bọn bán thuốc chữa bệnh, thức ăn, các loại thực phẩm, hóa học phục vụ việc nuôi tôm”. Họ quảng cáo và “khuyến mại” ào ào, họ xuống tận đầm ruộng “trình diễn kỹ thuật” với sự tham gia của cán bộ địa phương, bà con cả tin và thiếu kiến thức, sẵn tiền trúng quả, cứ thế mua tơi tới. Bà con dùng hoá chất quá nhiều, “tồn dư” của nó đã giết chết môi trường. Lúc đó, tôi nhớ có nhà khoa học tên là V.T.Tụ ở Nha Trang lên tiếng cảnh báo bà con, nhưng tuyệt nhiên không một ai thèm nghe. Bây giờ “thân tàn ma dại” vì tôm chết, nhiều hộ trong xóm đói rạc, đứt bữa, thiếu gạo ăn. Nhiều hộ quay ra bán đồ đạc trong nhà gửi con đi Malaysia xuất khẩu lao động (có nhà 5 con đi tất), đến lúc bị “lừa”, có khi phải mang tới 20 triệu sang để “chuộc” một nhân khẩu trở về. Có người nợ tiền không trả nổi, toà án huyện phải đưa ra xét xử, rất thương tâm. Các nhà thậm khó, như nhà ông Ngô Văn Được, Ngô Văn Mười, Võ Văn Đào, Huỳnh Ngưu...”.

Chúng tôi đi lầy thụt trong mưa, con đường làng bùn đất nhấp nhô như ruộng cày, con đường ấy nó đã được quy hoạch, đã đổ đá chuẩn bị “vượt Vũ Môn hóa rồng” bằng cách bê tông hóa toàn bộ... thì đùng một cái Huỳnh Giản giàu có bị tôm ốm tôm còi nó “ăn thịt”. Tất cả cứ dở dang và tàn lụi mãi. Ven rừng dương bị chặt hạ tơi bời, ven các bãi khai quặng chi chít người Huỳnh Giản bị tôm xua đi làm quặng tặc, có một ngôi nhà lá bán vài chai nước ngọt, mắc vài cái tăng bạt dã chiến. Đó là “ngôi nhà” gá tạm suốt 6 năm nay của một chủ có 7.000m2 đầm tôm đã vỡ nợ. Ông Nguyễn Văn Dân, 55 tuổi, và vợ là bà Hồ Thị Nghị, 50 tuổi, nước mắt lã chã trong cơn mưa biển mù trời. “Trả mãi, ở lều mãi, bán buôn tập tàng mãi, mà gánh nợ vẫn còn 170 triệu. Cái lều ở trái phép ven đường này, là nơi cư trú của 3 hộ gia đình, gồm 11 nhân khẩu”. Tối đến, chỉ có 2 cái giường cho vợ chồng ông bà và vợ chồng một cậu con trai, tất cả dựng tăng võng treo nhau lên khoảng trống giữa các cột lều mà ngủ. Đứa trẻ đang ăn bột, các bé gái bi bô, đều tạm gá, lều quán, bốn bề trống hoác như thế, như bố mẹ ông bà chúng đã “gió lùa đếm sao” suốt hơn 2000 ngày qua. Các cậu bé khôi ngô phải bỏ học đi đào bới quặng suốt ngày, suốt đêm, 11 nhân khẩu cùng thắt lưng buộc bụng, nhưng lãi mẹ đẻ lãi con, cái món nợ cứ ngày một lớn lên.

Bà Nghị khóc, nhìn ra ngoài mưa: nhà nước cho vợ chồng tôi sử dụng 7.000m2 mặt đầm thị Nại những 20 năm, thế mà làm tôm vài năm chúng tôi đã mất... tất cả. Còn mười mấy năm “quyền sử dụng đầm Thị Nại” nữa, nhưng 7.000m2 mặt đầm cứ bị bỏ hoang cho rong rêu phủ như thế, trong khi, ở trên bờ, với một túp lều cho 11 nhân khẩu tá túc, chúng tôi vẫn bị xua đuổi “lên bờ xuống ruộng”. Vẫn biết, chúng tôi “nhảy dù” vào ven rừng dương để mở quán, thế là sai, nhưng bị con tôm nó dồn đuổi đến nước này, cứ nhờ đợ được chút nào hay chút ấy, biết làm sao? Bà Nghị khóc nấc, đám trẻ không hiểu gì cũng khóc nấc. Mưa biển vẫn mù mịt. Ngoài kia, trong mơ màng là cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam, là bờ biển quyến rũ tuyệt vời của du lịch miền Trung, là thủ phủ Quy Nhơn “đất võ trời văn” hoa lệ. Tôi lội bùn nhớp nháp ở đường làng Huỳnh Giản, lẩm bẩm: hóa ra, con tôm bé nhỏ thế, mà nó dồn đuổi được số phận hàng nghìn con người vào những “bến bờ” đau thương đến mức chính người ta cũng không tài nào hình dung nổi...


Box:

Thảm cảnh vùng tôm Huỳnh Giản còn phải “sống chết mặc bay” đến bao giờ?

Tại UBND xã Phước Hòa, lãnh đạo xã cung cấp cho chúng tôi một bản báo cáo mới nhất, đề ngày 12/2/2009, trong đó tiếp tục phản ánh và dự báo những thảm cảnh ở vùng “tỷ phú tôm”. Theo đó, xã có 327ha diện tích nuôi tôm, nhưng “hệ thống kênh cấp thoát nước, ao hồ nuôi tôm bất cập, không đồng bộ, môi trường tự nhiên phục vụ sản xuất bị ô nhiễm”; “đa số hộ thả tôm giống không qua kiểm dịch, nguồn giống không đảm bảo chất lượng”; đặc biệt, “tính cộng đồng trong ngư dân chưa cao, khi dịch bệnh xảy ra, không thông báo cho các hộ lân cận biết mà tự ý xả ra ngoài môi trường, không xử lý triệt để mà đã tiếp tục nuôi tôm trên diện tích nhiễm bệnh khiến cho dịch bệnh càng trầm trọng”. Tất cả những điều đó, đã khiến cho “ô nhiễm môi trường và mầm bệnh tồn tại trong nhiều năm qua chưa được xử lý triệt để”, “điều kiện ao hồ bị thẩm thấu, khi một một hồ bị bệnh thì cả vùng bị lây”. Cuối cùng, “tình trạng xung điện xiết máy (dùng kích điện tàn sát các loài thủy hải sản) vẫn diễn ra, đặc biệt là tình trạng cào don, cào dắt gây ô nhiễm môi trường chung”; trong khi đó, “tuy có thành lập nhiều chi hội nuôi tôm, nhưng hiện nay một số chi hội vẫn chưa hoạt động!”.
Chưa cần nghe bà con phản ánh, chỉ trong bản báo cáo của chính thức UBND xã Phước Hòa, như đã trích ở trên, có thể thấy, lối làm ăn tự phát, mạnh ai nấy... làm bừa, sự buông lỏng quản lý hướng dẫn của cơ quan chức năng là nguyên nhân hàng đầu khiến Huỳnh Giản rơi vào tình trạng như hiện nay. Bà con nuôi tôm sẽ còn phải lúng túng “sống chết mặc bay” đến bao giờ?


Quy Nhơn 2009
.


February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28