Một lần loá mắt bởi vàng (may mà chưa "tha hoá" bởi "máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê "!)
Monday, August 17, 2009 12:54:04 AM
Một lần tận thấy dòng vàng tuôn chảy...
Bài và chùm ảnh: Đỗ Lãng Quân
Xem lại ảnh vụ vàng bạc châu báu ở đây: http://my.opera.com/dodoanhoang/blog/2009/06/30/cuo
Hơn ba lăm năm tuổi đời, có lẽ, tôi mới chỉ sờ vào vàng có vài lần (trừ cái vụ đeo nhẫn cưới vàng tây một thời gian, rồi thấy nó vướng quá đem cất vào hộp). Người quê tôi ai cũng tin, đào được vàng, nhặt được vàng là một dấu hiệu của sự bạc phận “vàng da vàng mắt”. Tuy nhiên, loài người đang sống hiện có khoảng 8 tỷ người thì hình như họ đã có cả một thứ như là “tín ngưỡng” liên quan đến vàng. Họ thờ phụng vàng, họ sẵn sàng đổi mạng sống của mình để đến được với vàng, những cuộc chiến đẫm máu liên miên vì vàng. Bồng Miêu (nay là xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam) là mỏ vàng lớn nhất Việt Nam và vùng Đông Nam Á, mỗi lần bay qua bầu trời hay ở lại lang bang với xứ Quảng, trong tôi đều rờn rợn một câu hỏi: nghìn năm qua, trải rất nhiều thời đại, nhiều tộc người “bòn vàng Bồng Miêu”, đã có bao nhiêu vinh quang và khổ nhục từ miền vàng khổng lồ và kỳ bí kia? Sao không có ai viết cả một cuốn sách, một công trình xứng tầm về lịch sử khai thác vàng lạ lùng, với những đường hầm dài dăm bảy chục cây số trong lòng đất, kéo dài từ thời hoàng kim của Vương quốc Chăm Pa cách đây cả nghìn năm, qua thời phong kiến, thời thuộc Pháp rồi đến ngày nay ở Bồng Miêu nhỉ? Kể từ năm 2006, Tây Tàu liên doanh với các chuyên gia người Việt, đem công nghệ tối tân, họ kéo dăm bảy trăm người khoét núi moi vàng ra bán rầm rầm, liệu dòng vàng tuôn chảy từ nghìn triệu tấn quặng kia ra, nó sẽ lộng lẫy đến mức nào nhỉ? Nếu có mặt ở “nghi lễ” tước đoạt vàng ròng từ Cánh Đồng Vàng huyền thoại (địa danh Bồng Miêu, theo tiếng của người Chăm cổ có nghĩa là Cánh Đồng Vàng), thì cảm giác của lữ khách sẽ ra sao nhỉ?
Để phục vụ cho mong muốn hơi “hiếu kỳ” của mình, tôi đã liên lạc dăm lần, đã nhờ anh em báo chí, văn chương ở xứ Quảng “bắt mối” suốt thời gian dài, nhưng mơ ước “lẩn thẩn” kia vẫn chỉ nằm trong mơ ước. Thông tin vòng ngoài cho hay: vào khu dòng vàng tuôn chảy, tất cả mọi người đều bị kiểm kiểm soát đến từng chân tơ kẽ tóc, bất biết người đó là gã nhà báo quèn hay là Tổng Giám đốc chính Công ty khai thác vàng Bồng Miêu đó. Công nghệ trưng cất vàng trong môi trường 2 nghìn độ C vô cùng độc hại. Bản thân liên doanh khai thác vàng khổng lồ Bồng Miêu họ cũng rất ngại cho người lạ vào tọc mạch với bí mật mang tên vàng ròng của họ. Những người hiểu chuyện đều cho rằng: đến Bồng Miêu uống rượu chơi với các “tỷ phú vàng’, ngắm Cánh Đồng Vàng đã được đào bới xới lộn từ hơn một nghìn năm trước thì dễ, nhưng để tận mục được cái khoảnh khắc trưng cất vàng kỳ diệu óng ả kia thì rất khó. Kể cả nhà báo “ruột” được Công ty rất tin tưởng, nể vì - thì cùng lắm cũng chỉ được chụp ảnh dòng vàng qua... cửa kính, hoặc được các em phụ trách truyền thống “váy ngắn chân dài” của doanh nghiệp cung cấp cho những tấm ảnh họ đã chụp sẵn từ bao giở bao giờ, với tay nghề rất... nhà máy xí nghiệp.
Đến một ngày ngồi quán xá ở thành phố tỉnh lỵ Tam Kỳ than thở với nhà Nguyễn Hoàng (đang làm việc cho Viet Nam Net), anh Hoàng bốc máy gọi thẳng cho Tổng Giám đốc Công ty Khai thác vàng Bồng Miêu, ông Nguyễn Ngọc Quỳnh. “Em sẽ dẫn thằng bạn Hà Nội của em vào để xem vàng tuôn chảy, rồi về, không “đánh đấm” cá chết vì cyanua đâu mà lo”. Tôi nghĩ, Nguyễn Hoàng nói khoác, chứ Tổng Giám đốc mỏ vàng lớn nhất Việt Nam, mỏ có lịch sử khai thác 1000 năm ròng rã, dễ gì mà xuồng xã như vậy được. Sau này, “nghiên cứu” mới vỡ lẽ ra, ở Quảng Nam cũng như trên cả nước, Nguyễn Hoàng là nhà báo viết nhiều tin bài nhất về Bồng Miêu (tính đến thời điểm đưa tôi đi xem vàng tuôn chảy, Hoàng viết khoảng 39 bài). Từ lịch sử Cánh Đồng Vàng, với những thoi đá cổ kính bị nhẵn lõm mòn vẹt xuống vì người Chăm cổ đã biết dùng nó làm công cụ để đập mài quặng tìm vàng theo phương pháp cổ sơ nhất; đến những hệ thống hầm lò năm sáu chục cây số chiều dài, chạy khắp từ Bồng Miêu, xuyên sơn sang tít Trà Bồng của... Quảng Ngãi được người Pháp kỳ khu sử dụng roi cặc bò và súng ống tàn độc bắt lao phu người Việt phải sống đời chuột chũi tìm vàng cho “bè lũ thực dân”. Lại nữa, những ngày bãi vàng vô chủ, giang hồ thả sức đóng đai đóng số bằng dao kiếm, súng ống, để những nghĩa địa phu vàng thê lương mọc lên. Và, gần đây nhất là việc Công ty khai thác vàng tung hoành đầu tư công nghệ hiện đại, dùng cyanua cực kỳ độc hại để đãi tìm vàng, làm ô nhiễm các dòng sông, cá chết, người dân bệnh tật khiến Bộ Tài nguyên Môi trường phải tá hoả vào điều tra xử phạt. Việc vệ sỹ của công ty vàng đánh người phải sa thải một lúc mấy chục người, việc công ty mỗi năm kiếm được ít nhất 600kg vàng hay là nhiều hơn nữa? Tại sao công ty chỉ có mỗi việc đào vàng lên bán, mà lại liên tục báo... lỗ? Tất cả những câu chuyện đó, và những câu chuyện lớn hơn nữa, Nguyễn Hoàng hiểu rằng: nó là một vấn đề lớn, không chỉ của tỉnh Quảng Nam. Và anh đã viết ít nhất 39 bài báo “đanh thép” với tất cả tâm huyết của mình!
Xanh mát, ngờm ngợp cây rừng và sáng láng gương hồ, chúng tôi đi dọc đại công trình thuỷ lợi hồ Phú Ninh với 3.400 ha mặt nước. Vùng vàng Bồng Miêu hiện ra, với nắng chang chang, sự cỗi cằn của những quả núi với cây rừng bị đốt phá nham nhở. Bí thư, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã Tam Lãnh (nơi có mỏ vàng Bồng Miêu) nhất tề đón chúng tôi ở ngoài... quán rượu. Phong cách quán cũng đã rất Lương Sơn Bạc, đúng phong cách miền đất dữ từng bao đời diễn ra cuộc chiến khốc liệt của vàng. Nghĩa địa phu vàng ngoài kia, người Pháp đã móc đi khoảng 2,5 tấn vàng của thôn nhà; báo chí đăng tải rành rành, hiện nay, mỗi năm có ít nhất 600kg vàng được Công ty vàng khiêng ra khỏi thôn Bồng Miêu. Thế nhưng, Bồng Miêu vẫn xập xệ nghèo, cán bộ xã vẫn chân chất đồng rừng.
Có mấy chi tiết ấn tượng thế này: người Pháp sau nhiều năm làm cả đường ray trong lòng núi để các xe goòng chở quặng có vận hành công nghiệp như một hệ thống “hoả xa” trên mặt đất. Tổng chiều dài đường hầm ôtô chui lọt kia liên thông với nhau kia, ước tính khoảng 60km. Năm 2006, khi Công ty liên doanh khai thác vàng Bồng Miêu hoạt động bằng công nghệ đẳng cấp thế giới, sau 15 năm kỳ công khảo sát từng lá cây ngọn cỏ ở các Cánh Đồng Vàng, nhưng họ vẫn phải dựa rất nhiều vào hệ thống đường hầm cũ của thực dân Pháp. Bí ẩn các đường hầm, nó quyến gọi người ta tới khám phá, đến mức UBND huyện Phú Ninh, ngay sau đó đã xúc tiến mở tuyến du lịch đại công trình thuỷ lợi Hồ Phú Ninh và mỏ vàng Bồng Miêu, 10 cửa hầm vàng cổ của người Pháp (cùng nhiều phế tích khác) sẽ mở ra để đón du khách! Câu ca tàn độc năm xưa, bỗng dưng trở thành thứ để người làm du lịch Bồng Miêu hôm nay bíu vào đón đưa du khách: “Từ ngày Tây lại đất Hàn, đào sông Câu Nhí, bòn vàng Bồng Miêu”. Sự réo gọi của vàng đã khiến của các đường hầm tối om dài mấy chục cây số của Bồng Miêu trở nên cuốn hút kỳ lạ. Có những gia đình sống đời chuột chũi trong lòng núi của Bồng Miêu, cả năm trời không được nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Thời kỳ còn tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng cũ, Xí nghiệp khai thác vàng Bồng Miêu đã khoán trắng việc đào quặng cho “vàng tặc”, họ đào vàng không nghĩ đến cái chết của mình cũng như sự an nguy của vùng vàng có lịch sử khai thác đã hơn 1.000 năm. Họ sẵn sàng đánh sập các hầm lò kiên cố người Pháp để lại, sẵn sàng bới chặt cả những ụ đất cuối cùng tồn tại như những chân cột, vì chống cho hầm lò khỏi sập để lấy quặng. Lực lượng bảo vệ vùng mỏ bấy giờ chia làm hàng chục chốt với các toán rất quy mô, nhưng họ hoàn toàn bất lực trước những con chuột chũi sống tăm tối trong hang vàng. Họ cứ đợi ở cửa hang, ai ra cãi lộn, đâm chém hay mua cyanua độc hại thì bắt, còn các đời chuột chũi ở trong bóng tối, thì hễ bị “sờ gáy” là họ chui tọt vào các hang, ngách sâu thẳm rồi lấy đất đá chặn đường để trốn. Lúc cao điểm, hàng nghìn người không hộ khẩu, không chứng minh thư, cái gì cũng không nằm trong lòng núi Bồng Miêu mà lực lượng cũng chỉ biết ở cửa hang nấu cơm ngày ba bữa nằm chờ, không một ai dám vào để... kiểm tra.
Công ty Khai thác Vàng Bồng Miêu có 80% vốn nước ngoài (CT Olympus Pacific Minerals Corporation của Canada) và 20% vốn trong nước (CT cổ phần Kỹ nghệ khoáng sản Quảng Nam và CT Phát triển khoáng sản), khánh thành Nhà máy Khai thác vàng Bồng Miêu từ tháng 4-2006. Đây là kết quả của suốt 15 năm liên doanh này kiên trì thăm dò, đánh giá lại khu mỏ Núi Kẽm đã được người Pháp đào bới trước kia, đồng thời phát hiện thêm các thân quặng ở các khu mỏ Hố Gần, Hố Ráy, Thác Trắng (đều ở thôn Bồng Miêu). Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, tại Bồng Miêu, người Pháp đã mở hàng chục cây sos đường hầm lò, khai thác ít nhất 2,5 tấn vàng, 1,3 tấn bạc và 140 tấn chì...
Kỹ sư Tuyến đón chúng tôi ở cổng nhà máy, có lẽ anh làm như vậy để chúng tôi khỏi quá vất vả với lực lượng kiểm soát an ninh. Anh Tuyến người Thái Bình, là kỹ sư địa chất nổi tiếng, từ 15 năm trước, anh đã cơm nắm muối vừng đi lang thang ở Bồng Miêu để khảo sát thành lập công ty hiện nay. Anh rất hiểu các hầm vàng hun hút, từng “chuột chũi” vào đó ba cùng với vàng tặc, từng liều thân ngồi trong cái thúng buộc dây, cho phu vàng thả xuống lòng đất hàng nghìn mét để lấy mẫu quặng, từng gặp mưa lũ lở đất không dám tin mình còn có thể sống, từng nhiều tháng đi bộ và đi xe máy Mikhơ cuốn dây xích ở lốp xe để leo núi trong mùa mưa. Cái anh Tuyến thu về cho đơn vị của mình, là thông tin vô giá về những thân quặng vàng giàu có chạy men theo những đường hầm cũ. Anh và đồng đội cũng ghi nhận nhiều tư liệu về các vỉa vàng ở núi Kẽm, Hố Gần, Hố Ráy, Thác Trắng, chỗ nào tiếp tục gia cố và lập thêm đường hầm, chỗ nào khai thác lộ thiên, cần lập thêm nhà máy tuyển luyện vàng, anh Tuyến thuộc như lòng bàn tay. Các kỹ sư kết thúc quá trình thăm dò, họ mang từ đỉnh núi xa xôi về những khối đá thuôn dài, nhẵn thín, lõm mặt rất kỳ dị để ở phòng trưng bày cho nhà máy trong tương lai, như một hiện vật “giáo dục truyền thống” - đó là những phiến đá được người Chăm cổ dùng làm công cụ mài quặng tìm vàng từ vài trăm cho đến cả nghìn năm trước. Và, Công ty khai thác vàng Bồng Miêu ra đời và đi vào hoạt động đã 3 năm nay...
Sau 20 phút đề đạt nguyện vọng “oái oăm”, sau 10 phút chờ đợi thông tin báo ra từ lò luyện vàng 2 nghìn độ C, anh Tuyến thở phào, “Không hiểu sao các ông lại có thể may mắn đến thế!”. Thế nghĩa là chỉ 10 phút nữa là đến giờ đổ quặng vào lò, luyện ra những dòng vàng tuôn chảy, những thỏi kim loại vàng rượi, lộng lẫy, tinh khiết nhất. Đang mùa mưa rừng, vài ngày chúng tôi mới “nhóm lò” một lần, ai ngờ các anh đến, không chỉ đúng ngày mà còn đúng cả... giờ nữa. Hệ thống túi đựng máy ảnh và tư trang được bỏ lại cơ bản ở nhà kho, ngoài quần áo, kính mắt không thể thiếu, tôi chỉ được khoác thêm 2 cái máy ảnh trước ngực để tác nghiệp. Anh Tuyến và lực lượng bảo vệ chụp mũ cứng, dây đeo, ống thở, mặt nạ phòng độc, đeo ủng cao quá đầu gối cho tôi rất nhanh. Có cảm giác họ biến tôi thành một cái manơcanh, rồi cứ thế “đội mũ đi hia” ào ào. Tôi bước đi nặng nề, nhìn cuộc sống rất vất vả vì hệ thống mũ mãng, ống thở như con ve sầu có vòi hút nhựa cây trước mặt đó. Qua 2 lần tụt ủng ra, tháo máy ảnh ra, bị các cô chú bảo vệ dùng dùi cui và các thanh dò kim loại kêu chíp chíp, săm soi và “sờ nắn” kỹ càng, tôi được đưa đến khu vực Nhà máy Vàng.
Hàng rào dây thép kín bưng, lực lượng bảo vệ nai nịt đến tận chân răng, tôi để ý, họ khám xét anh Tuyến, một VIP của nhà máy cũng chả “lỏng lẻo” chút nào so với tôi. Anh Tuyến bảo, kể cả Tổng Giám đốc vàng Bồng Miêu này, hay đối tác lâu năm, các tỷ phú phương Tây không bao giờ thèm ăn cắp... 1kg vàng, cũng vẫn bị khám kỹ càng y như vậy. Chuyên gia nước ngoài to cao đen hôi, mặt lạnh như vệ sỹ (hình như người Malaixia) giám sát toàn bộ các hoạt động kiểm tra an ninh đó. Lực lượng bảo vệ nữ đứng nhìn đoàn khách lạ được vào tận “hang ổ” dòng vàng tuôn chảy với vẻ mặt rất ngạc nhiên. Chỉ đến khi một người đàn ông trong đoàn nhỏ nhẹ: “Lúc trở ra, tôi xin được khám xét bởi nữ bảo vệ trẻ tuổi này được không?”; thì tất cả đều bật cười rào rào - rừ nhân viên giám sát an ninh người nước ngoài to cao đen hôi, mặt anh ta vẫn lạnh băng dò xét, có lẽ, đơn giản là vì anh ta không đủ vốn tiếng Việt để hiểu nổi câu hí tếu nọ.
Hệ thống nước chảy ào ào, ri rỉ, đều đều, các nữ công nhân vận hành hệ thống sàng, tuyển, lọc, đãi hoàn toàn bằng máy công nghiệp rất hiện đại. Rất khó để nói chuyện được với nhau, vì tiếng máy quá ầm ĩ. Có lẽ, vì sử dụng nhiều hoá chất, và vì công nghệ lọc đãi ướt át, bùn đất, quặng đá lung tung xoè, nên hệ thống máy móc vận hành rầm rầm kia, cái nào cũng cũ kỹ, hoen ghỉ, lấp lám. Tôi đang lẩn mẩn nghĩ, thì bị anh bảo vệ dắt tay qua một khu nhà kính kín mít, ngột ngạt. Trong đó,toàn bộ công nhân đeo găng tay dày cộp, kín từ đỉnh đầu đến gót chân, mặt họ, cũng như tôi, rất giống con... ve sầu chuẩn bị hút nhựa cây bạch đàn. Không nhìn thấy mặt nhau, không biết nụ cười của nhau, không bắt tay được, nên chúng tôi phải vẫy tay ra hiệu (sau này, xong mẻ vàng, ra ngoài ánh sáng mặt trời, anh em bảo: người được phép vào xem dòng vàng tuôn chảy, dĩ nhiên là khách VIP rồi, không phải đề phòng gì nữa).
Hệ thống nung quặng trưng cất vàng thoạt trông có vẻ khá đơn giản. Nó gồm một cái lò kim loại quý (chắc thế), chỉ to bằng cái máy giặt loại chứa được 7kg quần áo mà cửa thả quần áo vào ở phía trên trời (bây giờ Tây nó sản xuất có loại máy giặt cửa ngang). Các nhân viên xếp hàng, họ như những con rô bốt cực kỳ chính xác, câm lặng hoàn toàn, vì ních đủ thứ trang bị bảo hộ, nên cử động của họ cũng khật khưỡng khó khăn như rô-bốt. Lửa phụt ra ở đáy chiếc “máy giặt” phần phật, tôi đã được thông báo trước, lò luyện vàng đó, chỉ cần tỏng nháy mắt nhiệt độ có thể lên tới 2.000 độ C, nên đừng có dại mà đến gần, tốt nhất dùng ống tê-lê của máy ảnh, đứng ở góc phòng mà zoom. Thùng đốt quặng vàng có nắp mở, y như nắp máy giặt. Khi vừa mở, lửa đỏ ào lên, người công nhân đeo găng dày chống cháy, chống nhiệt, từ từ (lại như một nghi lễ) bỏ từng bao quặng vàng tinh tuyển vào lò lửa. Mỗi bao chỉ độ 10kg, ném vào độ 7 bao mỗi lần mở nắp lò. Mọi việc diễn ra trong nửa phút.
Một phút sau, tiếng sôi sùng sùng dội lên. Người công nhân dùng cây sào đẩy nghiêng cái thùng lò nung quặng ra phía trước (giống như hũ rượu vang treo ở cái giá gỗ, chỉ nghiêng hũ là giót được rượu tím rắt). Dòng vàng chảy ra những cái chậu nhỏ (như bát ôtô đựng canh). Khi lượng vàng nung chảy đầy bát, nó tự tràn ra ngoài khay lớn, tràn mãi rồi đông lại ở đáy khay, đặc quánh. Như có bàn tay một bà mẹ chốn quê đang gạt bột ra nong lá chuối làm bánh đúc vậy. Bánh đúc màu vàng. Dưới mỗi khay kim loại, có ngấn sẵn để chia vàng thành từng cục như hòn gạch mộc mỏng, vì thế chỉ bẻ nhẹ là vàng biến thành từng khuôn miếng (chứ không phải cắt như bánh đúc). Vài kilôgam vàng đấy ư, một tháng ở lò này cho ra đời ít nhất 600kg vàng ư - sao nhiều thế nhỉ, tôi chỉ dám trộm nghĩ vậy rồi nhanh chóng làm việc khác, để cầm chắc trong mình không dậy lên cái ham muốn sở hữu các cục vàng lớn...
Lộng lẫy! Ở phần trên tôi đã dùng nhiều từ lộng lẫy để phỏng đoán về dòng vàng nung chảy ở mỏ vàng lớn nhất Việt Nam, công ty khai thác vàng lớn nhất Việt Nam kia. Nhưng, phía trên mới chỉ là cái từ lộng lẫy tôi có được nhờ sự tưởng tượng. Nay mới thật sự là lộng lẫy. Lửa đỏ ngùn ngụt 2 nghìn độ C đã đành, cái thứ lửa leo lên từ khay vàng tuôn chảy, từ dòng vàng đặc sánh tràn ra không gian, ra bát sứ và khay lớn, nó cũng thật kỳ ảo. Tôi không có ý định giữ vàng để làm gì, càng không bao giờ tin dòng vàng mình trông thấy tận mắt kia, một ngày nào đó, một mảy may nào trong số đó, nó đến tay tôi để làm gì đó; nhưng quả thật là vàng rất ảo diệu. Sức ảo diệu tự thân của kim loại vàng. Nó dâng trong tôi một cảm xúc kỳ lạ, tôi chợt hiểu, vì sao nhân loại có cả một tín ngưỡng xung quanh kim loại Vàng. Chợt hiểu, vàng đắt đỏ, quý giá, vàng nhuộm máu bao thời đại, bao miền đất (máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê)... cũng rất có lý, ở chỗ: ngoài việc vàng là tài sản, nó còn là một thứ nhan sắc nữa. Vàng không chỉ là giàu sang, là tiền bạc, là quyền lực, nó còn là một thứ kim loại quá đẹp, ít ra là ở lúc dòng vàng đang tuôn chảy này đây. Quyền lực của cái đẹp.
Tôi nhìn kỹ, căng mắt ra, để xem ngọn lửa leo bám trên mặt đống vàng thoi vàng nén kia, sương khói trên mặt khay vàng nghìn độ kia nó đến từ đâu. Lửa lan đều trên mặt khuôn, vàng óng ả, tươi non, nõn nà chảy ra thành dòng đặc quánh. Vàng tràn ra khay, lửa khói cũng tràn ra, lúc đầu vàng rượi, sau vàng già vàng cháy hơn, rồi cuối cùng là một màu đỏ au tím khé. Như thể tro muội lửa than nó bám một lớp mơ màng trên mặt vàng ròng, cơ hồ, nên gọi đó là thứ vàng mới ra lò, còn vương “cuống rốn sơ sinh” từ mẹ quặng đá Bồng Miêu. Màu sắc nó cứ lan tràn, khói lửa cứ leo lên như có ai đốt cả xăng cồn trên mặt khay vàng, cái xăng cồn ấy nó cháy mãi không thôi. Chợt, tôi thấy cảnh ấy nó giống một cái lò hoá vàng, trong một nghi lễ tôn giáo bí hiểm nào đó. Ngọn lửa cứ leo lên mãi, như có ai hoá vàng trong không gian, mà ta chỉ nhìn thấy lửa chứ không nhìn thấy vàng mã và bàn tay người thực hiện nghi lễ...
Tất cả chúng tôi sững sờ (trừ các bác công nhân bịt kín mặt vài ngày lại bưng ra cho Đời một khay vàng khổng lồ!). Mẻ vàng nguội đi, khay vàng to như mặt bàn uống nước được kéo ra phía cửa kính (dưới mỗi khay đều có bánh xe để kéo). Một gã công nhân vàng nói như làm thơ bên tai tôi: rằng, thứ kim loại vàng óng ả quý báu, từ triệu triệu năm ẩn trong lòng đá tối tăm, dưới lòng núi Kẽm xứ Bồng Miêu hoang rậm, qua cơn chuyển dạ ở phòng sản 2000 độ C hôm nay đây (tôi được chứng kiến!), lần đầu tiên “ngài” vàng cổ kính đã được trông thấy ánh sáng mặt trời. Ngọn lửa leo trên mặt khay không còn nữa, vàng này qua chế biến thêm, sẽ đưa vào lưu thông, sẽ vào tay các bà buôn lật lọng, các cuộc trộm cướp, các cuộc ham hố tranh giành hay sẽ vào hai ngón tay đeo nhẫn của một cặp tình nhân làm lễ cưới ngọt lịm? Tôi không biết gì về điều đó, chỉ có một điều chắc chắn là, qua cơn đau quặn nung chảy 2 nghìn độ C, ngọn lửa không leo trên khay vàng và dòng vàng tuôn chảy nữa, tôi thấy vàng trơ khấc xấu xí. Nó không còn là một nghi lễ nữa, bởi nó sắp đi vào thị trường lấm láp muôn đời của họ hàng nhà vàng bạc nhà nó. Thế giới này bình đẳng và không bình đẳng trước rất rất nhiều thứ, nhưng họ luôn bình đẳng trước Vàng. Từ thượng cổ đã thế, và ngày nay, ngày sau chắc vẫn thế.
Dòng vàng tạm ngưng tuôn chảy, vài kí lô vàng đã “bánh đúc bày sàng” ra đó, dòng suy nghĩ đến đấy, cũng là lúc tôi buộc phải tháo mặt nạ phòng độc ra. Tôi xin phép thò đầu vào phòng trưng cất vàng thử cảm giác, chàng chuyên gia to cao đen hôi người ngoại quốc đồng ý, với điều kiện anh ta nắm một tay tôi để kéo bật tôi ra bất cứ lúc nào. Trời ạ, kim loại, đất đá, hoá chất độc hại bị nung chảy, nó tạo ra một tổ hợp mùi, khí độc hãi hùng. Tôi chóng mặt, cố hít thở sâu và khạc nhổ (xin lỗi) cả tiếng đồng hồ sau đó để tống cái sự choáng váng khó chịu ra khỏi cơ thể mình, mà bất lực. Đằng sau vẻ đẹp lộng lẫy của vàng, đằng sau “báu vật” vàng, là thế đó. Chả trách, quê tôi người ta vẫn bảo, vàng gì, vàng da vàng mắt thì có; chả trách, bên hông nhà máy là nghĩa địa phu vàng có từ vương quốc Chăm cổ xưa, đến thời thuộc Pháp và đến tận mãi gần đây... nó vẫn nguyên giá trị sử dụng.
Lúc trở ra khỏi căn phòng vàng, dĩ nhiên là chúng tôi còn bị khám xét kỹ càng hơn lần đi vào rất nhiều. Tháo mũ, tháo ủng, tháo cả các ống kính máy ảnh ra để thăm khám từng chân tơ kẽ tóc. Và, khi ra khỏi Cánh Đồng Vàng Bồng Miêu, phô chuyện với bạn hữu về chuyến xem dòng vàng tuôn chảy, ai ai cũng tủm tỉm, có “biển thủ” được tí vàng nào đem về không (rõ khổ, vàng nung ở 2 nghìn độ C, nung xong người ta đuổi ra ngay, bấy giờ có bắt ép phải cầm các thỏi vàng bỏng giẫy ra về, tôi cũng chịu chết!); và, lúc ấy tôi mới thấm thía: hoá ra ai cũng quý vàng, coi vàng là tài sản quý, thấy “dòng vàng tuôn chảy” họ chỉ muốn chiếm hữu được càng nhiều càng tốt, càng nhanh càng tốt thôi - mới bèn lẩy thơ cụ Nguyễn Du: “máu tham hễ thấy hơi... vàng thì mê”. Bi kịch mang tên Vàng, muôn đời nay, nó đều ra đời từ cái “máu tham” ấy? Qua vụ vào thủ phủ của vàng, tận mục dòng vàng tuôn chảy, tôi đã có một suy nghĩa khác: thật ra, nếu vàng không đắt đỏ và quý giá, nếu vàng rẻ như nhôm, thì vàng vẫn là thứ kim loại đẹp lộng lẫy, vẫn quyến rũ người của muôn đời như thế. Vàng có vương miện hoa hậu, nhưng vẻ đẹp của vàng không cần vương miện hay một trò lăng xê dị hợm nào cả.[/COLOR]
Đỗ Lãng Quân
Kèm chùm ảnh












