My Opera is closing 3rd of March

Subscribe to RSS feed

Xa xa có một chiếc nhà sàn...

Những “bản làng” ở cạnh… Hồ Gươm !




Tôi có cả một bộ sưu tập ảnh tai nạn thương tâm và những con đường hãi hùng ở thủ đô, ven đô. Nhưng không hiểu sao cái "tai nạn nhỏ" không thiệt hại về người và tài sản này lại làm tôi ám ảnh đến vậy. Tôi ân hận vì mình đã không đủ dũng cảm để bước ra khỏi xe làm cho cháu bé bớt hãi hùng. Ngay trước cửa siêu thị Rosa liên tục bị phanh phui bán đồ rởm, đồ quá hạn sử dụng hay không rõ nguồn gốc, thuộc khu Đô thị Kiểu mẫu của Hà Nội - Đô thị mới Linh Đàm, hai mẹ con cháu bé bị thụt chìm nghỉm cả cái bánh trước xe máy trong đống bùn, nước, ổ voi của con đường đáng nhục nhã đó! Cháu bé khóc thét lên, bò từ bùn đất cố đứng dậy, mẹ nó cũng thế, chiếc xe cũng thế. Dòng xe ôtô tải hung thần rầm rập dừng lại. Khi được cứu dậy, cháu bé khóc thét chạy khỏi cái hố và chiếc xe khiếp vía. Có lẽ, ám ảnh ấy theo thiên thần bé của tôi đến suốt đời, phải không cháu? Ảnh chụp tháng 8 năm 2009.



Còn đây là chuyện lạ mà tôi đã viết trên tờ Nhà báo công luận mới đây: một chiếc taxi của hãng Mai Linh đã bị thụt bánh xuống hố nước và hang ổ trên đường nhựa ngay cổng Đài Truyền hình Việt Nam, nơi được xem là trung tâm thủ đô (đường La Thành, Giảng Võ, HN). Phải mất cả tiếng đồng hồ, bằng đủ các mánh lới đào xe, 3 chàng thanh niên lực lưỡng mới khênh được xe ba-ti-nê trong thành phố lên, thế mà dường như không một ai coi điều đó là kỳ lạ smile Ảnh này hình như cũng tháng 8 hay tháng 9 gì đó của năm 2009, chứ nào có xa xôi gì... - Chụp khi tắc đường, đang lái xe, rõ ràng là không được nét...

1. Suốt nhiều năm lui tới giữa Thủ đô Hà Nội và núi rừng Tây Bắc, tôi nghiệm ra một điều rằng: trong công cuộc đưa miền núi tiến kịp miền xuôi gần đây, tốc độ làm đường cho những bản làng heo hút phát triển đến chóng mặt. Những địa danh từng được xem là biểu tượng của sơn lam chướng khí, với những cái tên huyện hẳn hỏi mà chỉ thoảng nghe đã thấy não nùng: Mèo Vạc, Mường Tè, Mù Căng Chải, Si Ma Cai, Hoàng Su Phì… thì đường đến huyện, đến nhiều xã đã phẳng lỳ, êm ru. Có khi, lướt trên đường nhựa xuyên Tây Bắc, cảnh sắc muôn hồng ngàn tía ẩn hiện trong mây đèo Khau Phạ, Ô Quy Hồ (đèo dài 54km, dài nhất Việt Nam), tôi có cảm giác mình là Lý Thiên Vương tuần du hạ giới. Thế mà, hễ về đến cửa ngõ thủ đô là thấy xót xa vì đường xóc nảy, tắc tị, đường ổ gà ổ voi đến mức: xe taxi 4 chỗ trị giá nửa tỷ đồng, thụt xuống chỗ hoăm hoắm đào đường không tài nào kéo lên được. Phải gọi xe cứu hộ đến. Hãi hùng, đầu đường Kim Giang, cách bờ Hồ Gươm vài cây số, mà ô tô liên tục bị thụt bánh xuống hố cống, loay hoay như con rùa phải bẫy cả buổi, hàng vạn người nhục nhằn trong khói bụi suốt cả chục năm giời nay. Ối giời ơi, có khi, thời gian để đi 15km từ Nhổn vào Bờ Hồ của tôi bằng đúng thời gian tôi đi từ Phú Thọ, người trung du vượt 150km xuống đến… Hà Nội!

2. Nhà tôi ở thị xã (nhoay nhoáy lúc là thị xã lúc là thành phố, chính tôi cũng không nhớ bây giờ, nơi bố mẹ tôi đang sống là thị hay là thành nữa!) Sơn Tây, cách Hà Nội 35km theo Quốc lộ 32. Bây giờ, Sơn Tây chính thức là đơn vị hành chính của Thủ đô Hà Nội mở rộng mênh mông, thế mà con đường về Thủ đô của chúng tôi 15 năm nay chưa bao giờ bằng phẳng. Nó hang hốc đến mức, thà đi đường vòng xa gấp đôi, chứ 10 năm nay tôi chưa bao giờ dám về quê bằng quốc lộ mà nhà nước làm để nối quê tôi với Hà Nội suốt hàng thế kỷ qua (chứ chả ít). Con đường làm với tốc độ tàn nhẫn, cung cách làm và quản lý việc làm đường rất… tàn độc, 15 năm bụi bặm và tai nạn, hàng triệu triệu lượt người phải đau thương vì sự bê bối của con đường, hậu quả ấy ai gánh chịu? Vừa rồi, năm 2009, họp Quốc hội, có đại biểu bức xúc mời nói: Bộ trưỏng Bộ Giao thông vận tải hãy đi thử một khúc đường QL32 giáp với Thủ đô xem hương vị nó “khủng” tới mức nào. Bộ trưởng bảo (đại ý): tuần nào tôi cũng đi con đường ấy mà, rồi Bộ hứa… Từ hôm Bộ hứa, tôi chưa đi để chiêm nghiệm lại lời hứa lần này, nhưng đúng là suốt khoảng 10 năm qua, con đường ấy là con đường của những cái ổ khủng long, con đường nhục nhằn với triệu triệu lượt người chịu cái hậu quả bi thiết ấy. Và tôi không sợ mình hồ đồ, nói rằng, con đường Thủ đô chỗ ấy, nó quả là một cái nỗi ngượng ngùng.

Ám ảnh của tôi về khúc đường mấy chục cây số kia là gì? Là khói bụi tràn lên những quầy thịt chó sống chó chín mà thủ cấp chó nhia răng ra nhìn cõi trần khổ ải! Là những người đàn bà lam lũ đồng hương với tôi, “ăn với chồng nửa bữa/ ngủ với chồng nửa đêm”, hằng ngày họ cứ lần hồi đạp xe tồng tộc về thủ đô kiếm sống. Đi giữa khói bụi kinh hoàng, vừa đi vừa bịt miệng nhìn ra mờ mờ nhân ảnh với những “đùng đùng gió giật mây vần/ một xe trong cõi hồng trần như bay”…; rồi họ bị ô tô xe máy húc chết. Không hiểu sao, lần nào tôi sầm sùi đau thương nhìn vào những nữ nạn nhân ấy, thì đều thấy cô ta, chị ta, em ấy thò ló một cái chân ra khỏi manh chiếu ủ mùi nhang khói đang đắp lên thi thể mình, cái chân đó là cái chân đi bít tất, bít tất lại thủng, cứ nhia một ngón chân lấm lem ra bụi đường. Có khi, giữa mùa hè, tử thi ấy cũng đi bít tất, tôi không rành lắm về lý do của sự thật này.

Lúc ấy, tôi không khóc, mà tôi thấy xấu hổ. Đôi lúc xấu hổ cả với việc mình ngồi những cái xe máy lạnh kín bưng, tịnh không phải chịu khói bụi của khúc quốc lộ băng qua quê mình. Lúc nhà thơ chiến trường Phạm Tiến Duật còn chưa bị ung thư và chết, bố tôi liên tục xúi tôi viết một bài về thảm trạng những đoàn xe bus không có kính dọc từ Sơn Tây đi về Hà Nội để gọi là hưởng ứng bài thơ bất hủ về những đoàn “xe không kính không phải vì xe… không có kính” của ông. Ngồi trong xe bus mà người ta nhất tề đeo khẩu trang, chú phụ xe tóc vàng như Tây vì bụi phủ, mua xuốn thì mấy chục người chen chúc trong xe đều biến thành… chuột lột. Thế kỷ 21 đã kéo lê mình sang với loài người được gần chục năm rồi, mà xe bus từ Cửa ngõ Thủ đô vào Kim Mã vẫn đi với tốc độ thảm sầu đến khó tin: gần 3 tiếng mới đi được 35km. Nói thì bảo ngoa ngôn và bịa tạc, nhưng tôi thề với… bản thân tôi một điều rằng: mỗi lúc bận việc không về đón được, mà có việc, mà bố mẹ tôi phải đem cái thân già leo lên cái xe bus đó về Hà Nội, tôi luôn có cảm giác mình là thằng quá bất hiếu. Sao lại đày ải “sư mẫu và phụ vương” (theo cách gọi của… Tây Du Ký ) như thế nhỉ? Con đường lao khổ độ ấy, nó đã tác động đến cái gọi là tâm trạng xã hội, ít ra là cái “xã hội” những người cực chẳng đã phải đối mặt quá lâu với sự vô lý kia như chúng tôi (tôi cứ mạnh dạn nghĩ thật thà như vậy).

Đến mức, một bài viết trên báo Vietnamnet mới đây, nhà báo ấy còn mạnh dạn giật tít bài là: “Thư ngỏ gửi đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tây” (cũ); nhà nghiếp ảnh báo chí nổi tiếng Lê Anh Dũng của tờ báo này còn làm một phóng sự ảnh hãi hùng về thảm trạng và số phận người dân khi con đường bị làm với tốc độ rùa và bỏ bê kiểu “sống chết mặc bay”. Bụi bặm, nước ngập bốn mùa, tai nạn thảm khốc, làm đường với tốc độ… hành hạ dân. VTV1 làm phóng sự về những công dân ở ven QL32, cách Hà Nội chừng 10km, mà cực chẳng đã, họ phải dùng xẻng, hót rác, tay trần tự san lấp lấy mặt bằng cho quốc lộ trước cửa nhà mình, bởi vì nó bẩn thỉu, ngập nước như ao làng, trẻ con đi học qua không khéo chết đuối. Đau quá.

3. Bài toán so sánh tiếp tục: tôi đi từ Si Ma Cai, về Mù Căng Chải, đi Văn Chấn Nghĩa Lộ rồi về Sơn Tây, vượt 700km ròng rã, êm ru, núi rừng huyền thoại. Về đến cửa ngõ thủ đô là thấy nhục nhằn ngay. Thấy xe khựng lại, tốc độ rùa, và nó xóc nảy, chồm lên, ngắc ngứ đến mức không thể di chuyển nổi. Chua xót thay, cái tắc tị và hang hố ấy lại không nằm ở sơn lam chướng khí Tây Bắc, Mèo Vạc, Mù Căng Chải gió núi mây ngàn, mà nó nằm ở Thủ đô ngàn năm văn hiến. Chúng ta có thấy xấu hổ vì điều đó không nhỉ?

Nhân đây, tôi lại kể những câu chuyện buồn bã khác liên quan đến so sánh đã lặp đi lặp lại nhiều lần trong tôi kia (Hà Nội, quá nhiều góc của nó, chất lượng sống không bằng một cái bản làng heo hút), mà tôi và bạn bè tôi là người trong cuộc. Hà Nội liên tục mất điện, Tết 2009, gần khu tôi ở mất điện xuyên giao thừa. Mùa hè, mùa đông, thỉnh thoảng lại bụp một cái mất điện một ngày hoặc vài ngày. Tây Bắc mất điện thì có đèn dầu hay gió núi, chứ nóng gần 40 độ, ở cái thành phố chật như hũ nút, không bóng cây xanh, mà mất điện thì hoảng hồn, nhớ đời lắm lắm.

Xóm tôi, nhà nào cũng có máy phát điện, dù nghèo đến đâu. Giống hệt ở các bản Mường Nhé cực Tây tổ quốc mà tôi rất gắn bó, ở đó, mỗi nhà có một cái máy phát điện nhỏ đặt dưới suối! Hà Nội, không có nước máy. Bà con khoan nước giếng đục ngàu, khăn khẳn thối ở ven các con sông Lừ, Sét, Kim Ngưu, Tô Lịch (những dòng nước chết ô nhiễm nhất Việt Nam). Khoan rồi lọc. Có nơi khá hơn, phường tổ chức lọc nước bán cho dân, nước bẩn thỉu, thích thì họ bơm, không thích thì họ cắt nước. Nước ấy cũng phải lọc. Thành thử mỗi nhà có một cái bể lọc, vài cái máy lọc cỡ dăm triệu/cái, mà không biết cái nào dởm, cái nào tốt, thỉnh thoảng lại xem tivi, báo chí nói rằng máy lọc nước “giời ơi”, càng lọc càng dễ ung thư, ai đó tái mặt, lẩm bẩm, chắc nó trừ cái máy nhà mình ra, máy nhà mình nhất định sẽ… xịn. Điện nước phập phù, bẩn thỉu, thả nổi, không bằng điện suối, nước khe ở Tây Bắc! Đường xá ở trong thành phố, nhiều khu, suốt dăm bảy năm trời, lúc nào cũng gồ ghề, tắc tị. Con sông tứ thời bốc mùi thối oẵng. Dân bản xứ tấn công những người mua đất, cán bộ phường cứ làm ngơ, vì chẳng tội gì dây vào Chí Phèo đã ăn đời ở kiếp nơi này, nhỡ mai bầu bán nó… gạch tên mình thì toi. Con nhà tôi đến tuổi, nộp đơn, xin dấu triện của lãnh đạo phường để xin cho cháu đi học ở chính cái trường gần nhà, trong cái phường mà cháu đã sinh ra và lớn lên, thế mà gã hiệu trưởng kiên quyết không nhận. Tôi cầm lá đơn có dấu triện, cùng ông phó chủ tịch UBND phường (người ký) trở về bắt con đi học trái tuyến, mà cả hai mặt mũi bẽ bàng như sông Tô Lịch vậy. Ô hay, so với vùng cao, giáo viên đến từng nhà vận động bà con cho bọn trẻ đi học, thậm chí, mỗi đứa con đi học, bố mẹ được đi lĩnh gạo hàng tháng về ăn, sướng ghê.

Đúng là: … không thể bằng rừng rú!

4. Cứ thế, so với vùng cao, bà con đi bộ từ bản lên xã, từ xã ra huyện, dùng nước suối, lắp máy phát điện nhỏ tự đi tìm nguồn điện, trường học giăng về đến mỗi bản làng… - thì ở trung tâm thủ đô, cuộc sống của các vùng dân cư tôi vừa nói còn không bằng nơi rừng xanh núi đỏ hoang vu. Xin hỏi, đằng sau sự vô lý đó là gì? Là ý thức của cái “thằng” làm đường, cấp nước, cấp điện hay những người được xã hộ phân công chăm sóc các bé thơ, các “con dân” của mình ở cơ sở. Đằng sau sự “thất nhân tâm” của những doanh nghiệp làm đường để hàng vạn hàng triệu người gặp những cái khổ không đáng có kia là gì? - là chúng ta đã không thật sự giám sát và xử lý nghiêm những cái trì trệ đáng xẩu hổ đó. Thủ đô ơi, ta phải làm sao? Không lẽ ngài cứ “thua” các bản làng, phum sóc mãi ru?

Giữa những triền hoa cải vàng rực và đàn ngựa Mèo đi cung quăng trong sương mù Mường Khương, lão thi sỹ vùng cao mới vừa đọc thơ văng vẳng bên tai tôi: “Tôi chỉ là con gà rừng/ trên triền núi cao hoang vu/ Uống sương mù rồi ăn sỏi đá/ và tiếng gáy chẳng còn ai xa lạ”. Lão Pờ Sảo Mìn ở vùng núi đọc thơ mình, rồi lại khoe dân ca Mông quê lão: “Nghe nơi ấy có cô em lừng danh xinh đẹp/ anh chàng bèn làm hoạ mi cất bước ra đi”. Ông Mìn ơi, dẫu không được uống sương mù và ăn sỏi đá rồi làm hoạ mi cất bước ra đi… như ông, nhưng Thủ đô chúng tôi, cái điện, cái nước, cái đường, cái trường đều phập phù và buồn cười lắm, thua miền biên thuỳ xa ngái của ông đứt đuôi con nòng nọc rồi…

(* Bài này thằng Đỗ Lãng Quân viết xong đã ít ngày, đã đăng báo nào đó rồi, tình cờ đọc và hiệu đính vào đêm nay, cái đêm hôm ấy).


PS:
Cho trẻ em lên thiền viện đi tập tu, nếu ở Hà nội thì sợ nó ngã vào vũng bùn và hầm hào trên phố xá lắm. Chùm ảnh bọn trẻ tập tu giữa bát ngát của Phật cửa thiền và bát ngát thiên nhiên Tây Thiên, Tam Đảo. "Thoảng bên tai một tiếng chày kình/ khách tang hải giật mình trong giấc mộng":
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=332544&ChannelID=89


February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28