My Opera is closing 3rd of March

Subscribe to RSS feed

Bây giờ, hình như, ngày càng hiếm những con người dám xả thân như thế, càng hiếm những người thầy như thế...???



50 năm, những người hùng cầm phấn...

Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng

Bài này đăng báo Lao Động:
http://www.laodong.com.vn/Home/50-nam-nhung-nguoi-anh-hung-cam-phan/20099/155788.laodong

Đúng nửa thế kỷ trước, năm 1959, cũng vào những ngày cuối tháng chín sậm sắc thu vàng như thế này, bà con các tỉnh Việt Bắc và Tây Bắc đã xôn xao đón những người hùng của một “chiến dịch” chưa từng có - một cuộc vận động đầy nghĩa tình mà chắc chắn, mãi mãi, lịch sử dân tộc không thể nào quên. Đó là việc hơn 500 anh giáo trẻ dạy giỏi và tâm huyết của nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Bộ tình nguyện dấn thân vào sơn lam chướng khí để xoá mù, “diệt giặc dốt”. Họ trở thành những người thầy đầu tiên của rất rất nhiều bản làng thậm xa xôi, hoang rậm - những nơi mà, khi ấy, chuyện lớp học, phấn bảng, việc học cái chữ còn là một khái niệm xa lạ hơn cả thế giới của Giàng (trời)...



Anh hùng giáo dục Nguyễn Văn Bôn thời cắm bản và bức ảnh chân dung ông đăng trên báo Nhân Dân năm 1962 (khi nhận danh hiệu anh hùng).


Ông Phạm Luỹ và anh hùng Nguyễn Văn Bôn (phải), sau khi vượt 150km tìm thấy nhau, lại tiếp tục "nối máy" hỏi xem những người bạn đã cùng mình xả thân với Tây Bắc 50 năm trước đang ở đâu, còn sống hay đã chết....

Những ngày này, nhân kỷ niệm 50 năm đoàn giáo viên xả thân vì rẻo cao “Năm Năm Chín” (1959), ngành giáo dục và các địa phương như Điện Biên, Lai Châu... đã lùng tìm và mời gọi các nhà giáo từng vắt cạn sức mình, đã đổ máu (nhiều người đã hy sinh) cho rẻo cao kia trở lại vùng đất mà họ trải nhiều năm cống hiến. Nhưng, từ cách đây vài năm, cũng là tình cờ, vì quá cảm kích trước tấm lòng của những người thầy đầu tiên đem những con chữ đầu tiên cho người của nhiều cộng đồng thiểu số còn lầm lạc trong thuốc phiện, đói nghèo, thất học, nổi phỉ trước đây; phóng viên Lao Động đã đưa một số nhà giáo trở lại các bản làng mà ông từng nương gửi cả tuổi thanh xuân, đưa các ông giáo già đi gặp lại nhau, khóc sậm sùi, ôn chuyện “cổ tích”.

Nhớ mãi lời của nhà giáo gần 80 tuổi Nguyễn Văn Bôn (hiện đang sống ở TP Hải Phòng) khi nằm co quắp trong gió lạnh với tôi trong chuyến về lại Mường Tè, nơi ông đã dạy học rồi đi vào sử sách (bài học về ông Bôn thương yêu, xé chăn chiên của mình ra chia cho học trò đã được viết trong sách giáo khoa lớp 3 một thời)! “Chuyện của chúng tôi, giờ kể lại, chính con cháu tôi nó cũng bảo ông già rồi đâm ra lẩm cẩm, toàn ngồi bịa ra... cổ tích. Làm gì có những bản làng sống quần hôn nhà nào cũng có bàn đèn thuốc phiện,, làm gì có những buổi ban mai mà xung quanh nhà sàn đầy xác chó sói bị hổ moi hết ruột, người ta chỉ việc ra khênh hoang thú về làm thịt” - ông Bôn nhìn tôi như chất vấn: “Giờ đã đi bộ về Mù Cả với tôi nhiều ngày, thế anh đã tin chưa?”. Tháng 9, năm 2009, khi tôi ngồi viết những dòng này, để vào được xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu - nơi ông Bôn đã dốc cạn tâm sức ra để đẵn tre nứa, san ủi mặt bằng dựng lên lớp học đầu tiên, gọi những học trò đầu tiên đến lớp - vẫn phải mất cả ngày đi bộ ròng rã. 50 năm trước, khi viên phấn đầu tiên được miết lên miếng bảng gỗ xù xì ở Mù Cả, ngoái xuống thấy 20 đứa học trò từ 7 đến... 20 tuổi lếch thếch lom lem, ông Bôn đã chực khóc.

Ông phải dạy nữ sinh cách mặc cái xu-chiêng, phải báo cáo uỷ ban và các đồng chí ở châu Mường Tè rằng học sinh 12 - 13 tuổi đang sống quần hôn rất nguy hiểm cần sớm cách ly nam nữ, ông phải vận động mỗi gia đình nộp bớt cho nhà trường một cái bàn đèn thuốc phiện để bà con “thưa” dần cái tần suất nằm... bẹp tai. Từ chỗ hoang vu “nguyên thuỷ” như một nỗi đau đớn, trường Mù Cả đã trở thành điểm sáng trên cả nước, anh giáo Bôn được về Hà Nội báo cáo điển hình, được gặp Bác Hồ, được đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh ký “bảng vàng” phong tặng danh hiệu: Anh hùng lao động. Ông là vị anh hùng đầu tiên của ngành giáo dục nước Việt Nam ta. Và, đến năm 1963, Mù Cả là xã duy nhất của rẻo cao nước ta được công nhận xoá xong nạn mù chữ!

Anh hùng Bôn và ông Đinh Văn Đông (đang sống ở Tiên Du, Bắc Ninh), đều ở quá cái tuổi cổ lai hy cả chục năm trời, giờ ngồi bên nhau, trầm ngâm như những pho tượng đồng. Sinh năm 1936, đang là giáo viên tiểu học phụ trách công tác Đoàn của một trường xã, năm 1959, nghe lời hiệu triệu xông pha vì Tây Bắc (bấy giờ gọi là Khu tự trị Thái Mèo), anh giáo trẻ Đinh Văn Đông đã hăng hái viết “huyết thư” xin lên đường. Cả tỉnh Bắc Ninh bấy giờ có 20 giáo viên của 10 huyện thị về tề tựu ở trường Bổ túc Công nông Trung ương (Hà Nội). Về thủ đô chuẩn bị “xuất kích” rồi, mới biết tin: cả miền Bắc có 500 người như ông sẵn sàng lời thề “tam bất kỳ”: nguyện đi bất cứ đâu, vào bất cứ thời điểm nào, làm bất cứ việc gì mà tổ quốc lên tiếng gọi.

Hôm ấy, trung tuần tháng 9 năm 1959, những người tình nguyện đã vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng nhiều cán bộ cao cấp và nhà thơ Tố Hữu đến trao đổi, dặn dò, động viên trước lúc lên đường. Hoà bình lập lại ở miền Bắc đã mấy năm, đời sống bà con còn quá nhiều khó khăn, trong tất cả những loại giặc gây ra nỗi thống khổ đó, có lẽ, đáng sợ hơn cả là giặc dốt. Nhiệm vụ của 500 anh giáo trẻ thật nặng nề và cũng rất vinh quang, vinh quang thay là người lính đi đầu. Bác Hồ nói một câu vô cùng giản dị, mà không một nhà giáo nào có mặt hôm đó không nhớ suốt đời, đại ý: tinh thần xả thân vì cộng đồng là rất quý, nhưng nhiệm vụ quá nặng nề, đèo cao, suối sâu, cuộc sống khắc nghiệt, nếu cháu nào sức yếu, có tiền sử bệnh tim mạch hay bệnh thấp khớp thì nên ở lại (ý là “xung phong” ở tuyến đồng bằng). Nhà thơ Tố Hữu rất dí dỏm: đã yêu là phải yêu đến cùng, đến hết, chẳng lẽ yêu mấy năm rồi bỏ ư? Nghĩa là đã xung phong, phải cống hiến đến cùng, đến nơi đến chốn, dù gian lao đến đâu. Anh giáo Nguyễn Văn Bôn bấy giờ say mê đọc “Thép đã tôi thế đấy”, thần tượng nhân vật Paven, mới bèn viết một lá thư ngỏ ý muốn chia tay cô bạn gái (người sau này là vợ ông), với lý do: anh đi chuyến này chưa biết bao giờ trở về, chưa biết sẽ... ra sao. Anh Luỹ, anh Bôn, anh Đông và 17 người nữa quả cảm xin với Ban tổ chức cho được đến nơi nào gian khó nhất! “Lúc ấy chúng tôi nào có biết, nơi gian khó nhất của Tây Bắc là Mường Tè đâu. Cứ hừng hực khí thế vậy thôi. 20 người trẻ chúng tôi vào Mường Tè, riêng chuyện đi bộ vào đến nơi nhận công tác đã đủ hãi hùng!” - ông Đông nhấn mạnh.

Trên những chiếc xe tải dã chiến, xóc như giã gạo, không một ai là không bị nôn oẹ, đoàn quân tiến lên rừng rú phải đi mất 3 ngày mới lên đến thị xã Sơn La. Thị xã bấy giờ còn hoang vu với duy nhất công trình nhà ngục Sơn La là... bề thế. Chiều đến, bà con người Thái mang ra những xâu nhái bán làm thức ăn, gà rừng đánh nhau choanh choác ở đầu thị xã. Đoàn giáo viên ở lại khu Học xá Mường La 15 ngày nghe phổ biến chủ trương, chính sách, trang bị các kiến thức, vật dụng để chuẩn bị dấn thân vào nơi “cái gì cũng không có”, mở trường, gọi trẻ con trò về học. Mỗi nhà giáo được phát một cái áo bông, một chăn chiên, một cái màn, một manh chiếu. Mỗi đoàn chia về một châu (đơn vị hành chính) của khu tự trị Thái Mèo. Đoàn Mường Tè gồm 20 người, phải đi mất 2 ngày trên xe tải xóc nảy đom đóm mắt nữa mới vào đến thị xã Lai Châu (nay là thị xã Mường Lay). Từ đó, người của Ban Hành chính Châu cử người dắt ngựa ra đón. Các nhà giáo cố nhẩm nhớ được tên cái xã mình sẽ “cắm chốt”, rồi khoác hành lý lên ngựa, lếch thếch đi bộ theo các con ngựa. “Tôi chỉ nhớ là tôi sẽ về xã Bum Nưa, rất xa. Chứ tuyệt nhiên không biết xã đó nằm ở đâu. Về đó làm gì? Về đó dạy trẻ vỡ lòng, điều này thì tôi biết chắc, vì người ta bảo, ở đó chưa bao giờ có trường lớp, càng chưa có một người nào được đi học” - ông Đông nhớ lại.

Đi bộ 3 ngày để vào đến xã Bum Nưa nhận “công việc”. Người ngựa vượt sông Đà như chiến binh thời trung cổ, qua dinh của “vua Thái Đèo Văn Long”, vượt dốc Mường Mô, con dốc cao nhất án ngữ giữa tỉnh lỵ và xứ Mường Tè hoang thẳm ấy phải vừa leo vừa tụt mất đúng một ngày. Bà con người Thái có câu: lên dốc Mường Mô nghe trời rửa bát. Tức là nơi ấy quá cao, có thể véo được mây, có thể nghe được chuyện bếp núc của nhà... Trời. Kiệt sức, chân tay cứ choại đi, bước lê lết trên đường, vắt xanh đỏ tím vàng từ các rừng vầu tấn công dữ dội. Máu chảy loe loét khắp cơ thể. Đoàn người ngựa ngủ ở Mường Mô, với một đêm xoè bà con tổ chức rầm rĩ, tràn ngập rượu (nhưng các nhà giáo thì đều kiệt sức, chỉ ngồi... xem). 3 giờ sáng cán bộ Châu Mường Tè đã đóng yên cương, hành lý, giục trở dậy lên đường. Vào đến Mường Tè, đã thấy một ông Phó Chủ tịch xã Bum Nưa, người Mông khoác súng kíp dài ngoẵng và một thanh niên người Hà Nhì cầm dao sáng choang ra đón nhà giáo Đinh Văn Đông. “Mới nhìn anh cán bộ đầu trọc lốc, trên đỉnh đầu phất phơ một chỏm tóc, tôi đã phát hoảng. Lúc đi đường, vì hai bên không biết tiếng của nhau, toàn phải ra hiệu, rồi họ mỉm cười bí ẩn. Đi 2 ngày nữa mới vào đến xã, phải ngủ nhờ ở những cái bản lèo tèo dăm nóc nhà. Chủ nhà nấu cơm rồi vẫy vẫy ra hiệu cho mình ngồi ăn. Họ nói gì, tôi chỉ nghe được cụm từ mà họ không phiên âm ra “thổ ngữ” của họ, đó là từ “nhà giáo cán bộ” để chỉ cái người là... tôi. Nhiều đoạn lau lách tối om, đi qua hàng chục ngọn núi, mấy chục con suối, tôi nặng 62kg, vẫn được xem là vạm vỡ ở xứ Bắc Ninh, thế mà phải gục xuống. Anh chàng đầu trọc phải xốc nách dìu tôi đi!”.

Về đến Bum Nưa, bà con kéo ra đón rất đông, áo quần sặc sỡ, ai cũng muốn được nhìn thấy “cán bộ thầy giáo”. Ông Đông vận động bà con đẵn tre nứa, cắt cỏ gianh đánh thành tấm, dựng trường, bàn ghế là những cây nứa ghép lại bắc ngang các thân gỗ như cái... cầu ao. Trẻ nhỏ và nam nữ thanh niên từ 7 đến 20 tuổi, vận động đi học A - B - C tất tật. Ở xã Mù Cả, cùng huyện, anh Bôn cũng đang dựng trường gọi học trò như thế. Dăm năm sau, các anh giáo trẻ đã lập nên kỳ tích cho xứ sở hoang sơ. Trường của anh giáo Bôn, năm 1962, còn thành lập được cả quỹ lúa gạo bán cho dân, mua bò lợn về tăng gia sản xuất; thành lập cả đoàn văn nghệ đi về huyện về châu biểu diễn tưng bừng, có loa phóng thanh với các chương trình phong phú, có khu ký túc xá khang trang mà đến tận bây giờ vẫn là niềm ước mơ của các xã ở Mường Tè thời mới.

Sau này, ông Bôn được phong Anh hùng rồi cử đi học ngoài Khu tự trị, ông Đông đi khắp các xã dạy học, về tận Quỳnh Nhai hạy học trong hang đá thời Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, đến năm 1967, ông mới chuyển về xuôi. Nhà ông giờ treo đủ Huy chương Vì sự nghiệp Giáo dục (năm 2007); bằng khen, huy hiệu kỷ niệm của Uỷ ban hành chính khu tự trị Tây Bắc (do Chủ tịch Lò Văn Hạc ký năm 1966). Ông Đông, ông Bôn lại cùng tôi đi tìm những người đồng lứa xung phong vì Tây Bắc xa xôi hồi ấy, tất cả họ đều đã mắt mờ chân chậm. Đó là các ông Phạm Luỹ (cắm ở Mường Tè), ông Niêm (xung phong lên Pa Ủ), ông Ưu (dấn thân vào Mường Mô)... Tất cả họ, người nào nhiều lắm cũng chưa đủ 10 năm “cắm bản” ở châu Mường Tè, nhưng quả là: vùng đất nơi cuối trời Tây Bắc đó đã choán hết cả mọi đam mê, cống hiến, tâm huyết của họ suốt hơn nửa thế kỷ qua. Phần đời đẹp nhất, tuổi thanh xuân tuyệt vời nhất của họ (500 giáo viên vì rẻo cao năm 1959) đã gửi lại ở Việt Bắc, Tây Bắc. Quê hương thứ hai của họ là ở rẻo cao.

Trong sự đi lên của Việt Bắc, Tây Bắc suốt 50 năm qua và nhiều năm nữa, chúng ta phải làm gì để các nhà giáo khả kính từng thừa sống thiếu chết ở vùng cao hoang lạnh kia không cảm thấy tủi thân? Cái việc tôi đưa ông Bôn, đi tìm lại những “bạn chiến đấu” ở Mường Tè, cái việc mấy chục năm qua chúng ta để các nhà giáo xông pha năm 1959 phải lặn lội tìm nhau, phải thất lạc nhau - tự nó đã mang theo rất nhiều xót xa. Bởi thế, cuộc hội ngộ ở Điện Biên, Lai Châu cuối tháng 9/2009 này, khỏi phải nói, sẽ rất nhiều... nước mắt vui.

Hà Nội tháng 9 năm 2009

February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28