Vài tấm ảnh loăng quăng, vài xúc cảm trong đêm xứ Đoài, thật mênh mang...
Thursday, January 28, 2010 4:44:11 PM
http://dulich.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=361074&ChannelID=100
Xứ Đoài thương mến của tôi đã được nhập vào Thủ đô Hà Nội được mấy trăm ngày. Dù Đoài phương khuất nẻo với những đám đốt nương của người Mán (Dao) hãi hùng trong những đêm thơ ấu của tôi dưới chân núi Ba Vì bịt bùng; dù thành Sơn Tây cổ kính bị đập bỏ phom cổng cổ, trang hoàng đèn điện xanh đỏ bởi cái dự án phi bảo tồn, tiêu tốn hàng chục tỷ đồng tiền thuế của dân của nước vào để “gọt bỏ rêu phong, trưng thêm vôi cát”; dù Đoài xứ đã chính thức “nhập làm một trên bản đồ” với Kinh đô Thăng Long - Hà Nội,... dù thế nào, thì trong tôi, xứ Đoài vẫn là quê hương, Đô thành vẫn là đất khách. Dù thế nào, tôi vẫn cứ đi và về giữa hai miền quê đó, bên là chốn gốc phần thanh bình tột độ “quê hương mỗi người chỉ một”, bên là cõi thi thố có cái gì đó dễ khiến người ta đều có cảm giác vật lộn và tủi phận. Nơi người ta nhoai ra bằng mọi giá, “bơi lội lặn ngụp” chán rồi lại muốn hồi hương bằng mọi giá.
Khi đầu đã có nhiều sợi tóc bạc vì “xấu máu”, có một đêm, như rất nhiều đêm cuối tuần khác, tôi trở về và đi dạo trên đường làng với ông bố ngoại lục tuần của tôi. Những ngôi mộ vừa nhấp nhổm vừa im lìm đến hăm doạ trong vùng trũng của gò đồi. Bố tôi bảo: ông Giáo nằm đây, cụ Cai nằm đây, ông Ấm cả chỗ này. Trong kia là chút ánh điện le lói còn lại của đêm quê hương. Mấy trăm năm qua, từ bốn phương trời, từ bao khát vọng và tráng chí của bao nhiêu “triều đại” với đường công danh đôi khi “trái chiều” đến mức có người nằm dưới mộ đã bị “cái ông nhất đội nhì giời” xử tử trước cổng làng mà bố tôi đã chứng kiến... - tất cả các cụ nằm đây, có người cùng lứa, cùng họ, cùng đệm, cùng đi tán gái làng với tôi cũng đã sớm sủa nằm đây. Rồi bố tôi và tôi cũng sẽ phấn đấu để được ngậm cười nằm ở đây. Dù không muốn, dù rùng mình tủi phận đến hoang mang, chúng ta cũng phải chấp nhận cái lối về chẳng thể khác được đó. Cũng cần thấy, nếu được nằm trên cánh đồng làng mình khi hết việc trần gian, luôn là niềm kiêu hãnh của tất cả chúng ta.
Bất giác, tôi nhìn xuống cánh đồng làng, bằng một cái nhìn khác, cái nhìn của người đã có nhiều sợi tóc bạc trên đầu. Lời bố tôi như một thứ bùa chú vang lên bên những ngôi mộ đêm: “Đất trăm người ở/ ruộng trăm người cày”, mấy nghìn năm qua, ở cái làng duy nhất được Quốc gia tôn vinh là làng tiêu biểu nhất cho nền văn minh nghìn năm Đại Việt này, con đường này, cánh đồng này đã có bao nhiêu thế hệ người đi qua và cày cấy. Đã sống và nằm xuống?
Cái kiếp người mới nhỏ bé làm sao, mới dễ tủi phận làm sao.
Xứ Đoài thương mến của tôi đã được nhập vào Thủ đô Hà Nội được mấy trăm ngày. Dù Đoài phương khuất nẻo với những đám đốt nương của người Mán (Dao) hãi hùng trong những đêm thơ ấu của tôi dưới chân núi Ba Vì bịt bùng; dù thành Sơn Tây cổ kính bị đập bỏ phom cổng cổ, trang hoàng đèn điện xanh đỏ bởi cái dự án phi bảo tồn, tiêu tốn hàng chục tỷ đồng tiền thuế của dân của nước vào để “gọt bỏ rêu phong, trưng thêm vôi cát”; dù Đoài xứ đã chính thức “nhập làm một trên bản đồ” với Kinh đô Thăng Long - Hà Nội,... dù thế nào, thì trong tôi, xứ Đoài vẫn là quê hương, Đô thành vẫn là đất khách. Dù thế nào, tôi vẫn cứ đi và về giữa hai miền quê đó, bên là chốn gốc phần thanh bình tột độ “quê hương mỗi người chỉ một”, bên là cõi thi thố có cái gì đó dễ khiến người ta đều có cảm giác vật lộn và tủi phận. Nơi người ta nhoai ra bằng mọi giá, “bơi lội lặn ngụp” chán rồi lại muốn hồi hương bằng mọi giá.
Khi đầu đã có nhiều sợi tóc bạc vì “xấu máu”, có một đêm, như rất nhiều đêm cuối tuần khác, tôi trở về và đi dạo trên đường làng với ông bố ngoại lục tuần của tôi. Những ngôi mộ vừa nhấp nhổm vừa im lìm đến hăm doạ trong vùng trũng của gò đồi. Bố tôi bảo: ông Giáo nằm đây, cụ Cai nằm đây, ông Ấm cả chỗ này. Trong kia là chút ánh điện le lói còn lại của đêm quê hương. Mấy trăm năm qua, từ bốn phương trời, từ bao khát vọng và tráng chí của bao nhiêu “triều đại” với đường công danh đôi khi “trái chiều” đến mức có người nằm dưới mộ đã bị “cái ông nhất đội nhì giời” xử tử trước cổng làng mà bố tôi đã chứng kiến... - tất cả các cụ nằm đây, có người cùng lứa, cùng họ, cùng đệm, cùng đi tán gái làng với tôi cũng đã sớm sủa nằm đây. Rồi bố tôi và tôi cũng sẽ phấn đấu để được ngậm cười nằm ở đây. Dù không muốn, dù rùng mình tủi phận đến hoang mang, chúng ta cũng phải chấp nhận cái lối về chẳng thể khác được đó. Cũng cần thấy, nếu được nằm trên cánh đồng làng mình khi hết việc trần gian, luôn là niềm kiêu hãnh của tất cả chúng ta.
Bất giác, tôi nhìn xuống cánh đồng làng, bằng một cái nhìn khác, cái nhìn của người đã có nhiều sợi tóc bạc trên đầu. Lời bố tôi như một thứ bùa chú vang lên bên những ngôi mộ đêm: “Đất trăm người ở/ ruộng trăm người cày”, mấy nghìn năm qua, ở cái làng duy nhất được Quốc gia tôn vinh là làng tiêu biểu nhất cho nền văn minh nghìn năm Đại Việt này, con đường này, cánh đồng này đã có bao nhiêu thế hệ người đi qua và cày cấy. Đã sống và nằm xuống?
Cái kiếp người mới nhỏ bé làm sao, mới dễ tủi phận làm sao.












