Tết nhất, tiệc tùng nhiều, đổi món với rêu suối còn ấm hơi tay con gái xứ hoa ban nhé...
Tuesday, February 9, 2010 10:53:38 PM
Này trông, em gái hái… rêu !
Tản mạn và chùm ảnh
Bạn đã bao giờ buốt lòng nhìn một “áo cóm khăn piêu” nền nã mà gợi cảm đến xôn xao đang túm váy hái rêu giữa lòng suối trong leo lẻo, thấp thểnh đá xám chưa? “Hoa ban trắng nở người con gái Thái”, bài tình ca nào của người Thái cũng phấp phới cánh hoa ban, bất biết rằng các “nọng” (em gái) vẫn đi vặt hoa ban về làm món nộm chua cho cả nhà, cả bản đánh chén. Họ ăn hoa ban như dưới xuôi ta ăn dưa cải ướp muối. Hoa tình ái vẫn phải đi qua cái dạ dày, nhưng chẳng vì thế mà con gái Thái bớt mộng mơ. Khăn piêu hờ hững thế mà che cả mặt, cả gáy, tránh sương sa, gió lạnh, nắng rát rất hữu dụng. Áo cóm thì thắt đáy lưng ong, sexy (gợi tình) nhất hạng mà cũng e ấp nhất hạng. Hai hàng cúc bướm kết từng đôi ở khu gò bồng đảo kéo mãi xuống eo thon, những cái eo từng làm Tây Sở Bá Vương - Hạng Vũ mất nước: bên là bướm đực, bên là bướm cái, chúng ngoắc râu kết đôi với nhau là khi cúc bướm đang đóng (và ngược lại). Sợi xà tích bạc trắng sáng, vắt chùng chình, lơi lả, lặng lẽ ở bên hông, nó như bắt vít cái nhìn của người ta vào eo thon. Lại bồi thêm cái thắt lưng xanh, “bắt đầu là cái thắt lưng xanh…”. Con gái Thái từ tấm bé đã học cách giữ eo thon, có chồng và sinh nở rồi, thì vận hành bí quyết kiêng khem chăn gối và “ngâm tẩm”, vận động, dằn bóp với bao nhiêu là bí kíp “bà truyền cho cháu, mẹ truyền cho con”… để giữ dáng, giữ chồng - để mặc được áo cóm, thắt được khăn xanh và buông lơi được xà tích suốt đời. Nhan sắc con gái, vẻ đẹp buốt lòng của đàn bà Thái ấy, tôi có cảm giác, chúng đẹp nhất là khi các nàng xuống suối hái rêu.
Này trông, gái Thái hái rêu!
Người xá ăn theo lửa/ Người Thái ăn theo nước/ Người Mông ăn theo sương mù. Cái văn minh của người Thái gắn liền với sông nước và các vở suối hoang vu. Họ sáng tạo ra chiếc thuyền đuôi én lừng danh và dùng mái chèo điều khiển nó như chiến binh “sử” báu kiếm. Họ có truyền thống tắm suối tài tình đến mức, gái Thái tắm xong, tắm đắm say suốt cả một chiều muộn thượng du Bắc Kỳ mà nàng không cần cởi hẳn váy đen ra, mà váy vẫn không hề ướt, mà nọng vẫn thơm tho; mà gã trai “nghe nơi ấy có cô em lừng danh xinh đẹp/ anh chàng bèn làm họa my cất bước ra đi”, gã ngồi trong tán lá rừng “tò mò” lắm song vẫn chẳng trông thấy nhiều nhặn gì lắm liên quan đến… da thịt của nọng. Hôm nay, nọng ra suối hái rêu cũng theo phương cách vén váy ấy. Cô gái hái mơ đi vào thơ tình Nguyễn Bính, “Có cô con gái nhà ai/ Hái sen ở mãi bên ngoài Nhược Gia” - má hồng hái hoa sen đã ám trong Đường thi nghìn năm trước. “Nhớ cô con gái hái măng một mình” trong thơ Tố Hữu nữa. Thế nhưng, cái cảnh hái rêu. Người phụ nữ Thái áo cóm, khăn piêu, váy đen nhùng nhùng nhằng nhẵng, đeo sà, đeo cóng (như cái giỏ) đi hái rêu về ăn thì quả thực là: trước chúng tôi, hầu như chưa thấy văn bút, chữ nghĩa nào miêu tả bao giờ.
Dự hội hái rêu ở Mường Lò, tôi đã thốt lên: sao lại có cái món ăn hồng hoang, thượng cổ như trái đất thế này. Sao lại có cái thứ “rau”, thứ món ăn có diệp lục mà nó thanh tao, nó hào hoa đến nhường ấy. Bữa tiệc rêu suối, cảnh đập rêu như Tây Thi đập lụa cổ xưa đã khiến tôi phải so sánh thức ăn bằng rêu theo đúng nghĩa đen này với món ăn gồm hoa và cây anh túc luộc, sào, ăn sống với măng chua mà mình đã trải hồi ở đại ngàn Hoàng Liên Sơn. Vẫn biết là cả thế giới đang cấm trồng thuốc phiện. Và tôi, những dịp sống với những rừng hoa anh túc kia, cũng đều là đi theo đoàn diệt trừ các nương thuốc phiện trồng trái phép khỏi đời sống lành lẽ này. Và, trong đói, khát, vắt cạn mình để leo núi, chúng tôi đã ăn rau và hoa thuốc phiện một cách hào sảng nhất. Món “thời trân” được truyền tụng ấy quả là không hề gây nghiện, quả là một thứ rau thanh tao và ngon nghẻ nhất mà suốt mấy chục năm làm người tôi từng được thưởng thức. Rêu suối ngòi Thia, rêu đá bên bờ sông Mã cũng phải ngon và lạ cỡ đến như vậy. Vớt rêu về, đập rêu ra cho sạch, băm nhỏ, trộn kính thưa các loại lá, quả rừng thơm lựng, trộn thêm thịt lợn bản băm vằm, gói trong lá chuối, gói trong lá chanh (tùy theo món), và cứ thế nướng trên than hoa. Lửa than ám vào lá tươi, rêu mềm mượt, rêu nẫu nhũn rồi nhểu ra, hương sắc núi rừng từ đủ thứ gia giảm ngậy lên. Nó không phải là trò tán ăn nữa. Nó không là thứ rêu rong, cỏ rả có màu diệp lục ăn thay rau cho đỡ xót ruột trong mùa hiếm ngọn rau xanh nữa. Nó là một thứ nghệ thuật, một cái tài hoa và hào hoa. Rêu làm nộm ăn sống, rêu phơi khô, quẳng lên gác bếp để hàng chục năm, vẫn thơm thảo đến… khó tin.
Rêu được băm, được vò, làm ẩm thực: vừa phàm phu "dao thớt" lại vừa thanh tao lạ lùng.
Người đàn bà băm rêu đã tẳng cẩu (vấn tóc, biểu hiện đã có chồng), bà Piong già lắm, đồng bạc hoa xòe đính giữa búi tóc to ụ trên đỉnh đầu. Thiếu nữ Cầm Thị Nghiệp trẻ lắm, nụ cười như có sương phủ quanh áo cóm. Họ nói về rêu, như đàn bà dưới xuôi nói về rau muống. Năm nào họ cũng ăn rêu như thế. Rêu có mùa, suối cũng có lúc trong lẻo, lúc cạn đục, lúc trong thì mới có rêu tốt mà ăn được. Có rêu nổi lên mặt nước như bèo tấm, có rêu bám vào các khối đá tròn như tóc bám vào hộp sọ. Có rêu nằm ở dưới đám sỏi cuội đáy suối, cái đó phải đàn ông lặn xuống mới vớt nổi rêu lên. Đàn bà đi vớt rêu, đi hái rêu, họ cứ lội thẳng xuống suối, nước sâu đến da thịt đoạn nào, thị họ vén váy lên đến đoạn đó, nước lại ùa ập vào phủ kín cái ngọc ngà của áo cóm khăn piêu luôn. Kín đáo lắm! Vớt được một đụn rêu, vắt, bóp, gom, đãi, rồi đàn bà Thái, thiếu nữ Thái lại thoa tay cọ sạch một hòn đá nổi trên mặt suối, đặt cụm rêu mới chia tay nước suối vào đó. Lại đi tiếp. Bước chân họ là những bước xanh lè của rêu suối nhảng trên mặt các cái hòn đá nhẵn được cọ kỹ, mỗi bước đi của mùa rêu, được đánh dấu bằng một đụn rêu trên đá suối. Với váy đen mềm mại, với áo cóm thanh thoát, lòng suối, dù sau dù nông, dù lành dù hiểm, cũng như là mặt ruộng của những người cả đời gắn bó với sông nước. Đó, có thể gọi là sự tài tình của cái váy và nghệ thuật tắm suối. Chả trách, giới khoa học cứ che miệng cười ý nhị khi nhắc đến, có không ít vị làm tiến sỹ hẳn hoi, chỉ xoay quanh mấy nét hoa văn thổ cẩm trên các cái cạp váy gái Thái. Phải nói là cái việc đời đời sống bên vở nước, ven sông suối, cái văn hóa và nhan sắc ảo diệu của “áo cóm khăn piêu”, nhân loại văn minh còn khám phá chưa biết bao giờ mới tỏ tường. Tôi không nghĩ mình đã mất bình tĩnh khi viết như vậy
.
Cặp vợ chồng già nướng rêu trên trong than hoa bếp củi, trên nhà sàn, bản Thái. Tôi đã thưởng thức chính món rêu nướng này.
Thói quen ăn rêu suối chủ yếu là của người Thái (và một ít cộng đồng khác). Việc ăn rêu, nó gần với thiên nhiên hoang dã, nó cổ xưa và gợi nhiều xúc cảm, dường như nó khiến cô gái Thái mơ màng hơn. Có vẻ, các nọng là chủ nhân của sông suối, các nàng là hoa ban, là hoa của đất trời Tây Bắc một cách rõ ràng hơn, khi họ đeo giỏ, lặng lẽ vén váy, xuống suối, hái rêu? Tôi dám cam đoan là, hầu hết những người trên dải đất Việt Nam này (trừ những người ở bản làng có “truyền thống” ăn rêu và những người đã từng thưởng thức “đặc sản” rêu suối) khi nghe chuyện gái Thái hái rêu, mở những bữa tiệc rêu dăm bảy món, rêu làm nộm, rêu nướng than hoa, rêu rán mỡ lợn, rêu nấu canh nước xuýt gà lợn, rêu băm nhỏ tráng trứng, rêu ướp tẩm phơi khô để giành cho mùa Tết nhất năm sau, rêu làm quà trong hôn lễ (như bánh cốm ở Hà Nội)… thì không khỏi giật mình, thảng thốt và thú vị ra mặt. Nhiều vùng, ngày giai gái động phòng hoa chúc, thì hai họ không thể không được thưởng thức một bữa tiệc rêu. Cũng như thêu thùa, cũng như đi tìm mắc khén, hạt sẻn (các gia vị truyền thống của người Thái và một số cộng đồng khác), làm nệm bông lau hay bẻ cây chít tìm sâu ngâm rượu phục vụ các đâng “nam nhi” bổ thận tráng dương… - việc hái rêu, làm tiệc rêu là một trong những thước đo công dung ngôn hạnh, “phẩm cách hoa ban” của người con gái Thái. Nếu ai đã từng dự hội hái rêu, thấy đàn bà con gái Thái eo thon, tóc dài, cúc bướm ngọ ngoạy cài vào nhau trước gò bồng đảo, xà tích bạc buông lơi dịu ngọt, các em nướng rêu, bày rêu ra nhà sàn lót lá rừng, thì mới hiểu thế nào là một bữa tiệc núi! Thế rồi xòe, rồi tiếng hát lơ phơ lùa mãi vào trong các tán rừng: rượu đây em mời/ uống đầu làng cuối bản vẫn còn thơm/ uống ba năm rượu vẫn còn say/ rượu đây, tay ngà…
Sáng thức dậy núi đã đầy trong mắt/ Đang cơn mơ còn vọng tiếng nai chiều/ Những vó ngựa gõ vào mây thậm thịch/ Em gội đầu để suối suốt đời reo. Chẳng biết có phải thi sỹ nào đó đã viết như vậy không, hay gái bản tự sáng tác? Chẳng biết có phải thơ kia viết về con gái Thái trong hội hái rêu và trong nồng nàn bữa tiệc núi toàn rêu nướng, rêu thả vào nồi nước luộc lợn bản vừa ngậy thơm vừa thanh tao hôm nay không? Chẳng biết nữa. Chỉ biết rằng tôi đã nghe bài “ca” đó trong đêm xòe Hội Rêu ở Nghĩa Lộ. Đã từng thấy rêu vàng, rêu đỏ, rêu tím trải từng lớp như đệm thảm, mềm mượt, miên man trên nóc nhà Hoàng Liên Sơn. Đã từng nằm trên rêu nhìn rừng thẳm xoay tròn. Đã từng sống trong rừng cổ thụ phủ đầy rong rêu (gọi là rừng thường xanh, rừng rêu) như dưới đáy nước mênh mang. Từng muốn quỳ lạy thiên nhiên, khi gặp những bức tường thành đá lớn, ở đó rêu đỏ ối, rêu khiến người ta thảng thốt thương thân phận con người nhỏ bé hữu hạn, chỉ có rêu vô tư rợp sắc như bất tận, như trường cửu... Rêu ấy đẹp, rêu ấy thơ và triết lý; nhưng là thứ rêu không ai dám ăn. Rêu cũng như nấm, càng màu sắc càng dễ có nhiều độc tố, có khi ăn vào, chết cả bản, cả làng. Cũng như rắn, càng màu mè “nọc”nó càng độc, như hoa thuốc phiện ấy, vẻ lộng lẫy kia là vẻ sặc sỡ ăn thịt người. Rêu giống rắn ở chỗ: hầu như các loài rắn nước đều ít độc, rắn nước (cơ bản là) cắn không chết người. Rêu suối ít màu sắc hơn, tất cả chúng đều ăn được, ăn lành lẽ, vấn đề còn lại chỉ là có ngon hay không, ăn vào mùa nào thì có “hương sắc” hơn mà thôi. Ở bên nước Lào, ven bờ Mê Công, bà con cũng dán rêu, nướng rêu, làm nộm rêu ăn ngon lành. Ở ven sông Mã (Sơn La), người Thái, người Mông, người Khơ mú và nhiều tộc người khác cũng ăn rêu, rêu Sông Mã được truyền tụng là ngon nhất Việt Nam. Người Mông ở Trạm Tấu (Yên Bái) còn đập trứng vào “tráng” với rêu suối băm vằm. Nhưng, không thấy ở đâu như ở xứ Thái Mường Lò (Mường cổ nhất của người Thái Việt Nam): bà con mở hội hái rêu, thiếu nữ soạn mình ra suối hái rêu như một nghi lễ trình diễn sắc nước hương trời và cái tiềm năng làm vợ tốt của mình. Món ăn rêu, được nâng lên thành một thứ nghi lễ thật sự. Nó là văn hóa.
Vua chúa phong kiến ngày xưa, có lệ, hằng năm, con dân mọi miền phải Tiến (biếu, dâng) cho triều đình những gì ngon nghẻ nhất. Tịnh chưa thấy sử sách hay truyền khẩu nào nói về việc rêu suối là thứ Tiến Vua. Nhưng, cá tiến vua (cá anh vũ) thì đích thị là sản phẩm kết tinh từ rêu suối rồi. Đó là loài cá ăn rêu, ăn thứ rêu thanh tao nhất ở những vùng nước xiết nhất, một đời cá ăn nhiều triệu cọng rêu để có được cái tinh túy khiến ông hoàng bà chúa phải “đánh đường” đi tìm kia! Vì mải ăn rêu, mà cá anh vũ bị trề, bị trù, bị loe cái miệng gặm vào vách đá của mình ra, để rồi dân gian vinh danh nó là Cá Mõm Lợn (mõm trù ra như Trư Bát Giới). Cặp môi, cái mõm được tinh luyện, được ngấm tẩm, được nuôi dưỡng bởi tinh anh của rêu suối đó, chính là thứ quan trọng nhất, ngon ngọt, bổ béo và “huyền thoại” nhất để Vua Chúa “quyết tử” săn lùng Cá Anh Vũ. Lẽ ra phải gọi đó là món Môi Cá Tiến Vua, một loài cá ăn rêu, lẽ ra phải gọi đó là Tinh Túy Của Rêu Suối Tiến Vua. Hương rừng sắc núi, cái kỳ diệu nhất ở thiên nhiên, đôi khi nằm ở chính trong những cọng rêu mà người đời coi rẻ đó.
Cá ăn rêu, cá Mõm Lợn (mõm như Trư Bát Giới) - cá anh Vũ, Cá Tiến Vua. Chính tớ (chứ không phải gã nào khác) đã ăn thịt con cá này, chờ mãi, đến giờ vẫn chửa được phong vương.
Đừng tưởng rong rêu mà coi thường. Rêu suối làm nên các giai nhân tuyệt sắc của xứ Thái áo cóm khăn piêu, cúc bướm, xà tích bạc (?); hay là “hoa ban trắng nở người con gái Thái” rồi nền văn minh ven sông suối kia đã nhuận sắc cho muôn loài rêu suối thơm thảo? Câu hỏi đó, có lẽ chỉ rêu suối mới giả nhời được…
Chiều Tây Bắc, 2010.
Tản mạn và chùm ảnh
Bạn đã bao giờ buốt lòng nhìn một “áo cóm khăn piêu” nền nã mà gợi cảm đến xôn xao đang túm váy hái rêu giữa lòng suối trong leo lẻo, thấp thểnh đá xám chưa? “Hoa ban trắng nở người con gái Thái”, bài tình ca nào của người Thái cũng phấp phới cánh hoa ban, bất biết rằng các “nọng” (em gái) vẫn đi vặt hoa ban về làm món nộm chua cho cả nhà, cả bản đánh chén. Họ ăn hoa ban như dưới xuôi ta ăn dưa cải ướp muối. Hoa tình ái vẫn phải đi qua cái dạ dày, nhưng chẳng vì thế mà con gái Thái bớt mộng mơ. Khăn piêu hờ hững thế mà che cả mặt, cả gáy, tránh sương sa, gió lạnh, nắng rát rất hữu dụng. Áo cóm thì thắt đáy lưng ong, sexy (gợi tình) nhất hạng mà cũng e ấp nhất hạng. Hai hàng cúc bướm kết từng đôi ở khu gò bồng đảo kéo mãi xuống eo thon, những cái eo từng làm Tây Sở Bá Vương - Hạng Vũ mất nước: bên là bướm đực, bên là bướm cái, chúng ngoắc râu kết đôi với nhau là khi cúc bướm đang đóng (và ngược lại). Sợi xà tích bạc trắng sáng, vắt chùng chình, lơi lả, lặng lẽ ở bên hông, nó như bắt vít cái nhìn của người ta vào eo thon. Lại bồi thêm cái thắt lưng xanh, “bắt đầu là cái thắt lưng xanh…”. Con gái Thái từ tấm bé đã học cách giữ eo thon, có chồng và sinh nở rồi, thì vận hành bí quyết kiêng khem chăn gối và “ngâm tẩm”, vận động, dằn bóp với bao nhiêu là bí kíp “bà truyền cho cháu, mẹ truyền cho con”… để giữ dáng, giữ chồng - để mặc được áo cóm, thắt được khăn xanh và buông lơi được xà tích suốt đời. Nhan sắc con gái, vẻ đẹp buốt lòng của đàn bà Thái ấy, tôi có cảm giác, chúng đẹp nhất là khi các nàng xuống suối hái rêu.
Này trông, gái Thái hái rêu!
Người xá ăn theo lửa/ Người Thái ăn theo nước/ Người Mông ăn theo sương mù. Cái văn minh của người Thái gắn liền với sông nước và các vở suối hoang vu. Họ sáng tạo ra chiếc thuyền đuôi én lừng danh và dùng mái chèo điều khiển nó như chiến binh “sử” báu kiếm. Họ có truyền thống tắm suối tài tình đến mức, gái Thái tắm xong, tắm đắm say suốt cả một chiều muộn thượng du Bắc Kỳ mà nàng không cần cởi hẳn váy đen ra, mà váy vẫn không hề ướt, mà nọng vẫn thơm tho; mà gã trai “nghe nơi ấy có cô em lừng danh xinh đẹp/ anh chàng bèn làm họa my cất bước ra đi”, gã ngồi trong tán lá rừng “tò mò” lắm song vẫn chẳng trông thấy nhiều nhặn gì lắm liên quan đến… da thịt của nọng. Hôm nay, nọng ra suối hái rêu cũng theo phương cách vén váy ấy. Cô gái hái mơ đi vào thơ tình Nguyễn Bính, “Có cô con gái nhà ai/ Hái sen ở mãi bên ngoài Nhược Gia” - má hồng hái hoa sen đã ám trong Đường thi nghìn năm trước. “Nhớ cô con gái hái măng một mình” trong thơ Tố Hữu nữa. Thế nhưng, cái cảnh hái rêu. Người phụ nữ Thái áo cóm, khăn piêu, váy đen nhùng nhùng nhằng nhẵng, đeo sà, đeo cóng (như cái giỏ) đi hái rêu về ăn thì quả thực là: trước chúng tôi, hầu như chưa thấy văn bút, chữ nghĩa nào miêu tả bao giờ.
Dự hội hái rêu ở Mường Lò, tôi đã thốt lên: sao lại có cái món ăn hồng hoang, thượng cổ như trái đất thế này. Sao lại có cái thứ “rau”, thứ món ăn có diệp lục mà nó thanh tao, nó hào hoa đến nhường ấy. Bữa tiệc rêu suối, cảnh đập rêu như Tây Thi đập lụa cổ xưa đã khiến tôi phải so sánh thức ăn bằng rêu theo đúng nghĩa đen này với món ăn gồm hoa và cây anh túc luộc, sào, ăn sống với măng chua mà mình đã trải hồi ở đại ngàn Hoàng Liên Sơn. Vẫn biết là cả thế giới đang cấm trồng thuốc phiện. Và tôi, những dịp sống với những rừng hoa anh túc kia, cũng đều là đi theo đoàn diệt trừ các nương thuốc phiện trồng trái phép khỏi đời sống lành lẽ này. Và, trong đói, khát, vắt cạn mình để leo núi, chúng tôi đã ăn rau và hoa thuốc phiện một cách hào sảng nhất. Món “thời trân” được truyền tụng ấy quả là không hề gây nghiện, quả là một thứ rau thanh tao và ngon nghẻ nhất mà suốt mấy chục năm làm người tôi từng được thưởng thức. Rêu suối ngòi Thia, rêu đá bên bờ sông Mã cũng phải ngon và lạ cỡ đến như vậy. Vớt rêu về, đập rêu ra cho sạch, băm nhỏ, trộn kính thưa các loại lá, quả rừng thơm lựng, trộn thêm thịt lợn bản băm vằm, gói trong lá chuối, gói trong lá chanh (tùy theo món), và cứ thế nướng trên than hoa. Lửa than ám vào lá tươi, rêu mềm mượt, rêu nẫu nhũn rồi nhểu ra, hương sắc núi rừng từ đủ thứ gia giảm ngậy lên. Nó không phải là trò tán ăn nữa. Nó không là thứ rêu rong, cỏ rả có màu diệp lục ăn thay rau cho đỡ xót ruột trong mùa hiếm ngọn rau xanh nữa. Nó là một thứ nghệ thuật, một cái tài hoa và hào hoa. Rêu làm nộm ăn sống, rêu phơi khô, quẳng lên gác bếp để hàng chục năm, vẫn thơm thảo đến… khó tin.
Rêu được băm, được vò, làm ẩm thực: vừa phàm phu "dao thớt" lại vừa thanh tao lạ lùng.
Người đàn bà băm rêu đã tẳng cẩu (vấn tóc, biểu hiện đã có chồng), bà Piong già lắm, đồng bạc hoa xòe đính giữa búi tóc to ụ trên đỉnh đầu. Thiếu nữ Cầm Thị Nghiệp trẻ lắm, nụ cười như có sương phủ quanh áo cóm. Họ nói về rêu, như đàn bà dưới xuôi nói về rau muống. Năm nào họ cũng ăn rêu như thế. Rêu có mùa, suối cũng có lúc trong lẻo, lúc cạn đục, lúc trong thì mới có rêu tốt mà ăn được. Có rêu nổi lên mặt nước như bèo tấm, có rêu bám vào các khối đá tròn như tóc bám vào hộp sọ. Có rêu nằm ở dưới đám sỏi cuội đáy suối, cái đó phải đàn ông lặn xuống mới vớt nổi rêu lên. Đàn bà đi vớt rêu, đi hái rêu, họ cứ lội thẳng xuống suối, nước sâu đến da thịt đoạn nào, thị họ vén váy lên đến đoạn đó, nước lại ùa ập vào phủ kín cái ngọc ngà của áo cóm khăn piêu luôn. Kín đáo lắm! Vớt được một đụn rêu, vắt, bóp, gom, đãi, rồi đàn bà Thái, thiếu nữ Thái lại thoa tay cọ sạch một hòn đá nổi trên mặt suối, đặt cụm rêu mới chia tay nước suối vào đó. Lại đi tiếp. Bước chân họ là những bước xanh lè của rêu suối nhảng trên mặt các cái hòn đá nhẵn được cọ kỹ, mỗi bước đi của mùa rêu, được đánh dấu bằng một đụn rêu trên đá suối. Với váy đen mềm mại, với áo cóm thanh thoát, lòng suối, dù sau dù nông, dù lành dù hiểm, cũng như là mặt ruộng của những người cả đời gắn bó với sông nước. Đó, có thể gọi là sự tài tình của cái váy và nghệ thuật tắm suối. Chả trách, giới khoa học cứ che miệng cười ý nhị khi nhắc đến, có không ít vị làm tiến sỹ hẳn hoi, chỉ xoay quanh mấy nét hoa văn thổ cẩm trên các cái cạp váy gái Thái. Phải nói là cái việc đời đời sống bên vở nước, ven sông suối, cái văn hóa và nhan sắc ảo diệu của “áo cóm khăn piêu”, nhân loại văn minh còn khám phá chưa biết bao giờ mới tỏ tường. Tôi không nghĩ mình đã mất bình tĩnh khi viết như vậy
.
Cặp vợ chồng già nướng rêu trên trong than hoa bếp củi, trên nhà sàn, bản Thái. Tôi đã thưởng thức chính món rêu nướng này.
Thói quen ăn rêu suối chủ yếu là của người Thái (và một ít cộng đồng khác). Việc ăn rêu, nó gần với thiên nhiên hoang dã, nó cổ xưa và gợi nhiều xúc cảm, dường như nó khiến cô gái Thái mơ màng hơn. Có vẻ, các nọng là chủ nhân của sông suối, các nàng là hoa ban, là hoa của đất trời Tây Bắc một cách rõ ràng hơn, khi họ đeo giỏ, lặng lẽ vén váy, xuống suối, hái rêu? Tôi dám cam đoan là, hầu hết những người trên dải đất Việt Nam này (trừ những người ở bản làng có “truyền thống” ăn rêu và những người đã từng thưởng thức “đặc sản” rêu suối) khi nghe chuyện gái Thái hái rêu, mở những bữa tiệc rêu dăm bảy món, rêu làm nộm, rêu nướng than hoa, rêu rán mỡ lợn, rêu nấu canh nước xuýt gà lợn, rêu băm nhỏ tráng trứng, rêu ướp tẩm phơi khô để giành cho mùa Tết nhất năm sau, rêu làm quà trong hôn lễ (như bánh cốm ở Hà Nội)… thì không khỏi giật mình, thảng thốt và thú vị ra mặt. Nhiều vùng, ngày giai gái động phòng hoa chúc, thì hai họ không thể không được thưởng thức một bữa tiệc rêu. Cũng như thêu thùa, cũng như đi tìm mắc khén, hạt sẻn (các gia vị truyền thống của người Thái và một số cộng đồng khác), làm nệm bông lau hay bẻ cây chít tìm sâu ngâm rượu phục vụ các đâng “nam nhi” bổ thận tráng dương… - việc hái rêu, làm tiệc rêu là một trong những thước đo công dung ngôn hạnh, “phẩm cách hoa ban” của người con gái Thái. Nếu ai đã từng dự hội hái rêu, thấy đàn bà con gái Thái eo thon, tóc dài, cúc bướm ngọ ngoạy cài vào nhau trước gò bồng đảo, xà tích bạc buông lơi dịu ngọt, các em nướng rêu, bày rêu ra nhà sàn lót lá rừng, thì mới hiểu thế nào là một bữa tiệc núi! Thế rồi xòe, rồi tiếng hát lơ phơ lùa mãi vào trong các tán rừng: rượu đây em mời/ uống đầu làng cuối bản vẫn còn thơm/ uống ba năm rượu vẫn còn say/ rượu đây, tay ngà…
Sáng thức dậy núi đã đầy trong mắt/ Đang cơn mơ còn vọng tiếng nai chiều/ Những vó ngựa gõ vào mây thậm thịch/ Em gội đầu để suối suốt đời reo. Chẳng biết có phải thi sỹ nào đó đã viết như vậy không, hay gái bản tự sáng tác? Chẳng biết có phải thơ kia viết về con gái Thái trong hội hái rêu và trong nồng nàn bữa tiệc núi toàn rêu nướng, rêu thả vào nồi nước luộc lợn bản vừa ngậy thơm vừa thanh tao hôm nay không? Chẳng biết nữa. Chỉ biết rằng tôi đã nghe bài “ca” đó trong đêm xòe Hội Rêu ở Nghĩa Lộ. Đã từng thấy rêu vàng, rêu đỏ, rêu tím trải từng lớp như đệm thảm, mềm mượt, miên man trên nóc nhà Hoàng Liên Sơn. Đã từng nằm trên rêu nhìn rừng thẳm xoay tròn. Đã từng sống trong rừng cổ thụ phủ đầy rong rêu (gọi là rừng thường xanh, rừng rêu) như dưới đáy nước mênh mang. Từng muốn quỳ lạy thiên nhiên, khi gặp những bức tường thành đá lớn, ở đó rêu đỏ ối, rêu khiến người ta thảng thốt thương thân phận con người nhỏ bé hữu hạn, chỉ có rêu vô tư rợp sắc như bất tận, như trường cửu... Rêu ấy đẹp, rêu ấy thơ và triết lý; nhưng là thứ rêu không ai dám ăn. Rêu cũng như nấm, càng màu sắc càng dễ có nhiều độc tố, có khi ăn vào, chết cả bản, cả làng. Cũng như rắn, càng màu mè “nọc”nó càng độc, như hoa thuốc phiện ấy, vẻ lộng lẫy kia là vẻ sặc sỡ ăn thịt người. Rêu giống rắn ở chỗ: hầu như các loài rắn nước đều ít độc, rắn nước (cơ bản là) cắn không chết người. Rêu suối ít màu sắc hơn, tất cả chúng đều ăn được, ăn lành lẽ, vấn đề còn lại chỉ là có ngon hay không, ăn vào mùa nào thì có “hương sắc” hơn mà thôi. Ở bên nước Lào, ven bờ Mê Công, bà con cũng dán rêu, nướng rêu, làm nộm rêu ăn ngon lành. Ở ven sông Mã (Sơn La), người Thái, người Mông, người Khơ mú và nhiều tộc người khác cũng ăn rêu, rêu Sông Mã được truyền tụng là ngon nhất Việt Nam. Người Mông ở Trạm Tấu (Yên Bái) còn đập trứng vào “tráng” với rêu suối băm vằm. Nhưng, không thấy ở đâu như ở xứ Thái Mường Lò (Mường cổ nhất của người Thái Việt Nam): bà con mở hội hái rêu, thiếu nữ soạn mình ra suối hái rêu như một nghi lễ trình diễn sắc nước hương trời và cái tiềm năng làm vợ tốt của mình. Món ăn rêu, được nâng lên thành một thứ nghi lễ thật sự. Nó là văn hóa.
Vua chúa phong kiến ngày xưa, có lệ, hằng năm, con dân mọi miền phải Tiến (biếu, dâng) cho triều đình những gì ngon nghẻ nhất. Tịnh chưa thấy sử sách hay truyền khẩu nào nói về việc rêu suối là thứ Tiến Vua. Nhưng, cá tiến vua (cá anh vũ) thì đích thị là sản phẩm kết tinh từ rêu suối rồi. Đó là loài cá ăn rêu, ăn thứ rêu thanh tao nhất ở những vùng nước xiết nhất, một đời cá ăn nhiều triệu cọng rêu để có được cái tinh túy khiến ông hoàng bà chúa phải “đánh đường” đi tìm kia! Vì mải ăn rêu, mà cá anh vũ bị trề, bị trù, bị loe cái miệng gặm vào vách đá của mình ra, để rồi dân gian vinh danh nó là Cá Mõm Lợn (mõm trù ra như Trư Bát Giới). Cặp môi, cái mõm được tinh luyện, được ngấm tẩm, được nuôi dưỡng bởi tinh anh của rêu suối đó, chính là thứ quan trọng nhất, ngon ngọt, bổ béo và “huyền thoại” nhất để Vua Chúa “quyết tử” săn lùng Cá Anh Vũ. Lẽ ra phải gọi đó là món Môi Cá Tiến Vua, một loài cá ăn rêu, lẽ ra phải gọi đó là Tinh Túy Của Rêu Suối Tiến Vua. Hương rừng sắc núi, cái kỳ diệu nhất ở thiên nhiên, đôi khi nằm ở chính trong những cọng rêu mà người đời coi rẻ đó.
Cá ăn rêu, cá Mõm Lợn (mõm như Trư Bát Giới) - cá anh Vũ, Cá Tiến Vua. Chính tớ (chứ không phải gã nào khác) đã ăn thịt con cá này, chờ mãi, đến giờ vẫn chửa được phong vương.
Đừng tưởng rong rêu mà coi thường. Rêu suối làm nên các giai nhân tuyệt sắc của xứ Thái áo cóm khăn piêu, cúc bướm, xà tích bạc (?); hay là “hoa ban trắng nở người con gái Thái” rồi nền văn minh ven sông suối kia đã nhuận sắc cho muôn loài rêu suối thơm thảo? Câu hỏi đó, có lẽ chỉ rêu suối mới giả nhời được…
Chiều Tây Bắc, 2010.












