My Opera is closing 3rd of March

Subscribe to RSS feed

Một cựu Bí thư Tỉnh ủy “đánh đường” tìm… chuông !

Một cựu Bí thư Tỉnh ủy “đánh đường” tìm… chuông !

Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng


(xem ảnh ở đây:
http://www.laodong.com.vn/Home/Mot-cuu-Bi-thu-Tinh-uy-danh-duong-tim-chuong/20102/174582.laodong


Bà con làng Hạc với niềm vui Đại hồng chung cổ kính đã... châu về Hợp Phố!

Cách đây vài năm, tình cờ gặp ông Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Phú Thọ Nguyễn Hữu Điền đang đắm say với từng diễn biến hồn nhiên ở hội bơi chải tối cổ vùng ngã ba sông huyền thoại Bạch Hạc, tôi rất lấy làm ngạc nhiên. Bởi, hình như không phải ông đang làm các nghi lễ xã giao kiểu “bắt tay tặng hoa” của một Quan đầu tỉnh đến chốn hội hè của bà con, mà ông cũng đang cuồn cuộn cơ bắp, đang gồng mình lướt sóng ở chỗ dòng đục dòng trong của sông Hồng và sông Lô đang nhập làm một. Trước đó, ông Điền và những người tâm huyết còn đi quyên góp bê tông và đất cát về đổ lên bến Bơi Chải như Đông Ki Sốt chống lại việc hai con sông Cối Say Gió ngoạm mất “di tích” có từ thời các vua Hùng dựng nước, với “vết chân thần” từng được “vua biết mặt chúa biết tên” quê mình. Và, giờ đây, khi đã nghỉ hưu, ông lại cạy cục theo các nguồn tin “thám tử”, dẫn hội đồng bô lão đi tìm 5 quả chuông khổng lồ, cổ kính, quý báu của vùng ngã ba Hạc đã thất tán gần nửa thế kỷ qua.
Điều lâm ly hơn, là cái ngày rước “Châu về Hợp Phố” đã đến…

Vùng Bạch Hạc nổi tiếng cả trong sử sách và ngoài đời là chốn địa linh nhân kiệt. Sử cũ chép, từ thời nhà Đường còn đô hộ nước ta, Thông Thánh Quán đã được xây dựng ở ngã ba Hạc. Đền Tam Giang thờ đức thánh Hạc (Thổ lệnh cao quan Bạch Hạc Đại Vương), với bước chân khổng lồ in hằn năm ngón đúng vị trí ngã ba sông (nay được khôi phục ngay gần đền Tam Giang). Từ năm 1321, chuông “Thông Thánh Quán” đã được đúc, cúng vào đình Bạch Hạc. Cách đây chưa lâu, bà con đúc bức tượng Chiêu Văn Đại Vương Trần Nhật Duật (người có 30 năm gắn bó với ngã ba sông, với nhiều võ công văn trị, từng hàng phục cả Chúa Đạo Đà Giang, sử dụng hàng binh phương Bắc giữ yên vùng phên giậu) bằng đồng nặng 5.000kg, “ngài” oai dũng đứng trên một chiến thuyền hướng ra ngã ba sông. Đây là ngã ba sông sậm đặc huyền thoại nhất, nổi tiếng bậc nhất cả nước Việt Nam. Trong “Dư địa chí”, Nguyễn Trãi viết: “Bạch Hạc thuộc đất Châu Phong, x¬ưa có cây chiên đàn, chim hạc trắng về đậu, hạc mẹ, hạc con trắng xóa cả một vùng rộng lớn, nên gọi là Bạch Hạc - Bạch Hạc chính là cố đô của nước Văn Lang, nơi các Vua Hùng tiếp nối 18 đời, khai phá đất đai dựng nên”. Nhờ ăn rễ cây chiên đàn nghìn tuổi, mà cá Anh Vũ ở ngã ba Hạc cũng trở thành thứ thời trân nức tiếng đem Tiến Vua (nay gọi tắt là cá tiến vua). Tiến sỹ Nguyễn Bá Lân (1701-1785) đã viết bài “Ngã ba hạc phú” tuyệt kỹ đến mức, tao nhân mặc khách bao đời đều đã thuộc: "Xinh thay Ngã ba Hạc/ Lạ thay Ngã ba Hạc/ Dưới họp một dòng/ Trên chia ba ngả/ Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp/ Dòng biếc lẫn dòng đào/ Lênh lang dễ biết nông sâu/ N¬ước đen pha n¬ước bạc...". Cụm di tích Bạch Hạc Tam Giang đã được Phủ toàn quyền Pháp ở Đông Dương ra quyết định liệt hạng vào năm 1925, Viện Viễn Đông Bác Cổ đã đã đưa vào kiểm kê danh mục di tích từ năm 1937, rằng: Đình Tam Giang có 3 bia đá, 5 quả chuông đồng lớn (đại hồng chung).

Xuất thân trong một gia đình nhiều đời sống ở cố đô Văn Lang, từ khi còn làm cán bộ ở TP Việt Trì (tỉnh lỵ Phú Thọ), ông Nguyễn Hữu Điền đã đau đáu với hệ thống di tích, thắng cảnh của vùng Đất Tổ, đặc biệt là quê hương ngã ba Bạch Hạc của ông. Đó là miền đất thiêng của cả trời Nam này. Cái việc ông Điền và những người có Tâm với di sản cha anh đứng ra vận động, đi “xin” tài trợ xi măng và cát sỏi hàng trăm tấn đổ bờ kè, bệ đá hòng giữ lấy vết chân thần in trên bến nước, giữ lấy bến Bơi Chải mà từ nghìn đời người Việt từng tôn vinh… đã là một “chi tiết” quá lãng mạn của thế kỷ 21 rồi. (Nhờ thế, lễ hội Bơi Chải Bạch Hạc được khôi phục vào năm 1992, sau 46 năm gián đoạn, tưởng như biến mất vĩnh viễn). Nhưng, nếu biết rõ những “trường đoạn” ly kỳ về việc truy lùng và tìm thấycác quả chuông cổ “mất dấu” khỏi cụm di tích Bạch Hạc từ nửa thế kỷ trước, các bạn sẽ còn phải ngạc nhiên hơn.

Từ trước năm 2000, bà con ở Bạch Hạc, đặc biệt là ông Nguyễn Hữu Điền đã có ý nhờ người dò la, tìm tung tích các quả chuông quý “không cánh mà bay”. Ông Lê Văn Vĩnh, 82 tuổi, phó ban quản lý cụm di tích vùng Bạch Hạc hào hứng kể: chúng tôi nhờ cả các bác xe ôm, cả các cháu đi buôn đồng nát, người lái công nông trên đường và người chở tàu phà dưới sông Lô, sông Hồng, hễ có thông tin về các quả chuông là lập tức báo về “ban chỉ huy”, sẽ có trọng thưởng. Cuối năm 2001, anh Hà Tuấn Ngọc, làm ở Đài Truyền thanh TP Việt Trì gọi điện thoại cho ông Nguyễn Hữu Điền, bảo: ở bên tỉnh… Vĩnh Phúc có một quả chuông được treo trong một ngôi chùa, rất giống như mô tả của những người Bạch Hạc đang “phát lệnh” tìm đại hồng chung. Những người (nhân tiện) đi tìm đều có thông tin, chuông cổ Thông Thánh Quán đúc năm 1321; chuông Phụng Thái Thanh Từ (đúc năm 1818); Phụng Thông Quán Chuông đúc năm 1830…; 5 quả chuông cổ quý giá của cụm di tích Bạch Hạc đều được sử sách, báo chí viết rõ từ xưa, với những mô tả tương đối rõ ràng. Thậm chí cả bức ảnh những dòng chữ khắc trên chuông cổ nhất ở cụm di tích Bạch Hạc (đúc năm 1321, đời Trần), các trung tâm lưu trữ ở Hà Nội còn lưu giữ, nhiều sách báo tạp chí đã từng đăng tải. Anh Hà Tuấn Ngọc học Tổng hợp Văn ra, yêu chữ nghĩa, lại biết chút “Nho nhe”, nên thông tin về chuông Bạch Hạc ở đất Tam Dương là rất đáng tin.

Thế là ông Điền và người tâm phúc lại “đóng vai” du xuân vãn cảnh sang xã An Hòa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Vừa vào đến cổng chùa, các bô lão lập tức ngăn không cho xem chuông cổ, bảo rằng, muốn xem cứ liên lạc với chính quyền. Bọn đạo chích cổ vật đang hành hoành, bà con đề phòng là phải, chỉ xót xa cho đền chùa miếu mạo, vì vấn đề trộm cắp nhục nhằn kia mà mất dần đi những công năng thanh tịnh, nền nã và lành lẽ nhất của chúng. Lên gặp Chủ tịch UBND xã xin phép, lại mời thêm một cụ tên là Quỳnh, làm ở Sở Văn hóa Thông tin Vĩnh Phú (cũ) có biết chữ Hán đến đọc hộ, thì đích danh là chuông của làng Bạch Hạc. Ông Điền mừng lắm, chợt nhớ mối thân tình cùng là hàng… lãnh đạo tỉnh cả, mới bèn nhờ ông Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và du lịch tỉnh Vĩnh Phúc can thiệp để “thưa chuyện” với các cụ cho nó nhẹ nhàng. Ai dè, chưa kịp đặt vấn đề, ngầm hiểu ý, các cụ ở An Hòa đã không đồng ý cho mang chuông đi bất cứ đâu. Ông Điền về bàn với các bô lão làng Hạc, đủ ban bệ đưa nhau sang An Hòa trình bày, đồng thời ông cũng cấp tốc mua từ điển Hán Việt để võ vẽ tự học… chữ viết trên chuông, học đầu tiên là phải thuộc mặt các chữ “Bạch Hạc”, hoặc “bi ký”, “chung ký” (chữ viết trên chuông) để dễ bề đi gọi “Châu về Hợp Phố”. Lòng quyết tâm còn cao hơn núi.

“Hội nghị Diên Hồng” được mở, các cụ làng Bạch Hạc ra nhời: thưa, chuông quý, người An Hòa đang giữ, chúng tôi rất tôn trọng. Nhưng sự thật là chữ trên chuông cho thấy, sử sách cũng ghi rõ, chuông “Phụng Thái Thanh Từ” này là chuông của làng Bạch Hạc đã lưu lạc sang quê hương các cụ trong những nhiễu nhương ngày cũ, thứ mà chẳng ai mong muốn; mong các cụ tạo điều kiện. Chúng tôi sẽ công đức lại cho các cụ một quả chuông khác, cũng bằng đồng, nặng 500kg như thế này, sẽ mang tên làng quê, di tích của các cụ chứ không phải đóng mác “Bạch Hạc” quê hương chúng tôi Chuông làng nào, chùa đình nào thì nơi ấy thờ nó mới linh thiêng. Vị lãnh đạo ngành văn hóa là chỗ quen biết với ông Điền, lại thấy việc mang chuông về trả đúng di tích là rất hợp tình, mới bèn đến An Hòa nói góp với các cụ một vài câu cho êm chuyện. Ai dè các cụ ở đó, vì quá quý “cổ vật” mình đang giữ, mới bèn nổi nóng, gán cho vị này cái “tội” tay trong môi giới buôn bán… cổ vật. Rõ khổ. Năm lần bảy lượt đi lại, “đàm phán”, đưa cả Giám đốc Bảo tàng Vĩnh Phúc đến, kiểm tra toàn bộ hồ sơ “cổ vật”, thì oái oăm thay, chuông Bạch Hạc đã được đăng ký trong danh mục các di sản văn hóa của tỉnh Vĩnh Phúc. Suốt 7 năm đi lại, đến năm 2008, sự việc được báo lên cả lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc, nhưng các cụ vẫn kiên quyết bảo vệ quan điểm “trơ như đá vững như đồng” của mình. Các cụ bảo với ông Điền: suốt thời gian qua, chúng tôi rất cảm kích trước mong muốn đem chuông thiêng về di tích quê hương của ông. Nhưng quan điểm của chúng tôi là không thể trả “Phụng Thái Thanh Từ” về làng Hạc. Con cháu trong làng Hạc có thể đến chùa An Hòa tham quan chuông làng mình, người làng Hạc có thể đến lấy mẫu chuông về… đúc quả mới ý xì phóc, chúng tôi sẽ tạo điều kiện.


Theo tài liệu "Việc cúng thần Thánh ở làng Bạch Hạc" do lý trư¬ởng Nguyễn Văn Lựu lập ngày 23 tháng 6 năm 1937 trình Nhà Bác Cổ (thời Pháp), Hà Nội (hiện lưu trữ tại kho Dân trí, Viện thông tin Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia) thì: đình làng Bạch Hạc xư¬a có 2 quả chuông, quả chuông lớn nhất có bài minh treo trên gác chuông cổng đình làng Bạch Hạc (như¬ đã trình bày ở phần trên).

Khi hòa bình đ¬ược lập lại ở miền Bắc Việt Nam 20/7/1954, 5 quả chuông vẫn còn tới ngày 12/5/1965, công binh người nước ngoài sang giúp ta làm đường chuyển tải giao thông trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nư¬ớc thì 5 quả chuông này đã bị họ rời đi nơi khác.


Dù rất tuyệt vọng, dù rất kỳ công lấy khuôn mẫu, quyên góp đồng đúc quả Phụng Thái Thanh Từ giống hệt quả “chuông làng Hạc thờ ở An Hòa’, nhưng ông Điền và những con dân Bạch Hạc nặng lòng với các lớp lang văn hóa ngàn năm của Ngã Ba Sông Huyền Thoại vẫn tiếp tục lên đường. Ông Điền, nhờ tự học, đã có thể đọc vanh vách những chữ Hán thường gặp ở các văn bia (như thể cái mẫu), những chữ liên quan đến chuông, bia, Bạch Hạc... (gọi là học “tủ”, để phục vụ việc đi tìm chuông, bia). Lúc bây giờ, ngẫm mới càng thấy buồn cho một thời, giặc Pháp kéo đến dựng cái bốt khổng lồ ở chính trên nền của ngôi đình làng Hạc, tiêu thổ kháng chiến, giặc Pháp lại tràn về lần nữa - nó phá không còn cái gì; sau này, vừa nhen nhóm dựng lại một chút, thì năm 1966, giặc Mỹ ném bom đánh phá dọc sông Hồng sông Lô và cây cầu Việt Trì nổi tiếng, tất cả lại như trở về “thời kỳ đồ đá”. Bao nhiêu tang thương, giặc giã và cả những mông muội với di sản văn hóa một thời đã xóa sổ di tích, đã ném những quả chuông quý vào luân lạc sau nhiều thế kỷ trở thành vật thiêng của làng. Tiếng chuông tràn ngập không gian, chuông nương theo sông Lô, sông Hồng, chạy dọc các đồng bãi phù sa… không còn nữa. Dù nói ra hay không nói ra, dù đã nhìn thấy hay chưa bao giờ nhìn thấy các quả chuông đẹp, quý, thiêng kia - thì niềm tiếc nuôi những di sản ở cụm di tích vùng Bạch Hạc vẫn hiện diện trong tất cả các con dân làng Hạc. Đặc biệt là với những người đã có tuổi và chút ít am hiểu văn hóa. “Cũng chả trách gì ai cụ thể được, chỉ trách thời thế thôi”, ông Nguyễn Tiến Phúc, 61 tuổi, trưởng ban quản lý di tích đền, chùa Bạch Hạc thời mới, nói. Vì ngay tại làng của ông Điền, cũng có mấy quả chuông của làng khác được treo ở sân Hợp tác xã, treo ở gốc gạo để làm cái kẻng đánh rầm trời lên mà. Chuông ấy, nghe nói của bà con người tận Phong Châu không biết bằng cách nào nó “lạc lối” về Bạch Hạc. Ông Phúc nhớ như in, hồi ấy, các xã viên hợp tác xã đều dùng cái bulong đường tàu (đường sắt Hà Nội, Phú Thọ, Lào Cai chạy qua đầu làng) để đánh kẻng, nện đến mức rịa cả quả chuông khổng lồ đi. Cũng chẳng ai để ý xem số phận cái kẻng - đại hồng chung kia giờ đã bị bọn thu mua sắt vụn mang đi tận đâu. Ngẫm cái cảnh, chuông cổ từng là chỗ dựa tinh thần, tiếng chuông từng là biểu tượng của tình quê ấm áp, mà đau. Có nhân chứng còn kể, hồi chiến tranh, bọn Pháp định thu gom mang toàn bộ chuông vùng đất Tổ đi đâu đó, hòa bình lập lại, Pháp cuốn gói ra đi mà không thể mang theo, cách mạng mới đem chuông phát cho mỗi xã vài quả làm… kẻng.

Có quả chuông đại “Phụng Thái Thanh Từ” cổ kính để làm lễ, có phiên bản y xì phóc để thờ ở chính di tích làng Hạc, ông Điền và các bô lão phấn chấn lắm. Chợt có anh buôn lợn dọc sông Hồng, từ Vĩnh Phúc sang Sơn Tây báo tin, có một quả chuông rất to, anh ta từng nhìn thấy nó nằm lăn lóc ở cánh đồng xã Vĩnh Linh (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc). Xăng xái lên đường, tìm khắp các ngả đồng không thấy, vào gặp chính quyền, thì anh Chủ tịch bảo: đúng, vài năm trước có quả chuông như thế, nó nằm bao nhiêu năm qua ở cánh đồng làng, chẳng ai ngó ngàng gì. Tiếc thật, các bác đến muộn rồi, nó mới chỉ biến mất cách đây chưa lâu. Lại có tin từ “mặt trận” báo về: ở ngay xã Cao Đại, ven sông Hồng, cách Bạch Hạc vài cây số, có một quả chuông với chữ Bạch Hạc hẳn hoi. Anh này làm nghề xe ôm, đã kịp học tủ vài chữ Nho để một công đôi việc hòng lĩnh trọng thưởng. Ông Điền và người thân tín đi dò la. Đúng. Quả chuông ấy nằm lăn lóc ở nhà kho của xã bao năm, chả bai biết gì về niên đại cũng như nguồn gốc của nó. Cho đến gần đây, chùa làng được tu tạo, người trụ trì mới nảy ra ý định khiêng chuông về để… thỉnh, bất cần nó là chuông đình hay chuông chùa, chuông của tỉnh mình hay tỉnh nảo tỉnh nào. Ông Điền mua lễ, mua nhang vào chùa như một người vãn cảnh phật, nhưng than ôi, chùa làng Đại Đinh (xã Cao Đại, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) cũng cửa đóng then cài thê thảm như một cái lô cốt thời chiến. Lại phải đi gọi Chủ tịch UBND xã để xin phép vào thắp nhang vái Phật (!), Chủ tịch xã líu ríu đi gọi chủ tịch Hội Người cao tuổi can thiệp. Gọi thêm người am hiểu Hán học nữa, tất cả cùng đọc, đúng là (chuông): “Phụng Thông Quán Chung”, ghi rõ ở xã Bạch Hạc, huyện Bạch Hạc, tổng Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (cũ). Các thành viên của “Hội nghị Diên Hồng” làng Hạc với đủ ban bệ tiếp tục lên đường về Cao Đại “uốn ba tấc lưỡi” thương thuyết xin rước chuông của làng mình về đúng “ngôi nhà” mà “ngài” đã sinh ra, đã “ngự” suốt nhiều triều đại. Lý lẽ rất rõ ràng: Người Pháp đã kiểm kê từ hơn 80 năm trước, các học giả Việt Nam đã mô tả, tên chuông và lý lịch chuông khắc trên cả tấn đồng cổ kia, rất rõ ràng. Bây giờ, người Cao Đại giữ được chuông là vô cùng quý hóa, làng Bạch Hạc rất cảm ơn, dám xin được thỏa thuận để rước chuông thiêng về. Một cụ đứng lên nổi nóng: “Chuông này, từ nhiều chục năm qua, vẫn bảo là của Cao Đại, sao bây giờ lại nói của Bạch Hạc, vô lý!”. Có người bảo, cái ông đọc chữ Hán là người do làng Hạc tiến cử, trong khi hội đồng giám định chuông của làng Cao Đại không có ai biết chữ Hán, chắc gì kết quả đã khách quan. Thế là cán bộ của bảo tàng Vĩnh Phúc được mời đến đọc các dòng chữ Hán viết trên chuông; anh chàng này lại trẻ tuổi, vốn Hán học quá ít, chữ trên chuông cổ hơi mờ, anh ta ngồi luận từng chữ trong sự… hồi hộp đến nghẹt thở của cán bộ làng Hạc. Nhỡ anh ta đọc sai, đọc nhầm, thì các cụ Cao Đại sẽ kiên quyết không trả chuông, thì sao? Chuông này thờ thủy thần ở ngã ba Bạch Hạc, là cổ vật trong di tích làng Hạc, “nhà Hán học” dõng dạc, không gian vỡ òa niềm vui của người làng Hạc. Kết quả là: ngày 8/1/2009, trước sự chứng kiến của đoàn đại biểu xã Cao Đại và phường Bạch Hạc (với lãnh đạo Ủy ban đàng hoàng), biên bản đã được ghi: người Cao Đại đồng ý trả quả chuông cổ nặng 500kg cho người Bạch Hạc; với điều kiện, người làng Hạc phải bỏ tiền “cung tiến” cho người Cao Đại đủ để đúc một quả chuông mới nặng 500kg. Lại nữa, làng Hạc phải đặt cọc 70% số tiền đúc quả chuông 500kg, đợi trong 70 ngày, người Cao Đại đúc được chuông mới thì làng Hạc sẽ làm lễ rước chuông của mình về. Chưa thể ngã ngũ được, làng Hạc hỗ trợ 50 - 100 hay 70% trị giá quả chuông đồng sẽ đúc nặng 500kg, ai nấy quay sang hỏi ý ông cựu Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Hữu Điền, ông Điền đứng lên: theo tôi, mỗi bên đóng góp 50% số tiền mua đồng và công thuê đúc chuông mới, còn cá nhân tôi sẽ đóng 30% trị giá quả chuông. Số tiền của tôi sẽ “cưa” đôi, tôi tặng mỗi làng một nửa (15%). Tóm lại là làng Hạc phải bỏ ra 140 triệu VNĐ để được… rước chuông làng mình về.
“Trước khi về, chúng tôi dặn dò các cụ ở Cao Đại rất rõ: bây giờ chuông Phụng Thông Quán là cổ vật, là tài sản của hai làng, các cụ phải bảo vệ thật chu đáo, để 70 ngày nữa chúng tôi xuống rước. Vừa về đến nhà, thì hội đồng bô lão Cao Đại có điện thoại lên ngay, rằng: 70 ngày chưa chắc chúng tôi đã lo được việc mua đồng, thành lập ban bệ, chửa chắc đã mời thợ thuyền để mở hội đúc chuông. Giữa lúc ấy, ngộ nhỡ chuông bị mất trộm thì toi, thì buổi này trộm cắp như rươi. Thôi. Mai, các ông bà cứ xuống rước cụ chuông về luôn đi. Một chiếc xe cẩu, cả các ban bệ với nghi lễ rinh rượp được hành quân dọc đê sông Hồng về Cao Đại, ngược Việt Trì, rước chuông cổ từ chùa làng khác về lại đền Bạch Hạc.

Có Phụng Thông Quán Chung rồi. Nhân khí thế, người làng quyên tiền, viết thư ngỏ kêu gọi tiền đúc liền tù tì hai quả chuông Phụng Thái Thanh Từ (bản gốc nằm ở xã An Hòa, Vĩnh Phúc); và Thông Thánh Quán (giờ không biết lưu lạc nơi nao!). Câu hỏi đặt ra là: không ai biết Thông Thánh Quán có còn là… quả chuông nữa hay không (có thể đã bị phá hủy, đem nấu chảy thành đồng…), không ai chụp ảnh chi tiết được hình dạng của nó, làm sao để “đúc” được? Tiền có rồi, hội đúc chuông có thể được mở bất cứ lúc nào, khi ấy, chắc chắn sẽ quyên được thêm tiền từ những người có tâm với di tích cổ vùng ngã ba sông huyền sử. Việc còn lại chỉ là nhờ chuyên gia và tìm trong sử sách những mô tả về Thông Thánh Quán (2 quả còn lại - trong số 5 quả chuông cổ được sử sách lưu truyền của Bạch Hạc - hiện không ai biết tên, không còn bài minh). Rất may, có tài liệu mô tả chi tiết của nhà sử học hàng đầu Việt Nam, GS Hà Văn Tấn và cộng sự đã công bố trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử từ năm 1966. Lại thêm thông tin rõ ràng về niên đại (thời Trần) của quả chuông, nên: khi các chuyên gia ở Trung ương được mời về “dựng” phiên bản của Thông Thánh Quán, họ đã bắt tay vào công việc một cách khá tự tin. Ngày hội đúc chuông được tổ chức, dự kiến sẽ phải mất hơn 300 triệu phục vụ cho việc ra đời hai “đại hồng chung” (phiên bản) của người Bạch Hạc, thế nhưng, chỉ trong 1 tháng, số tiền quyên được đã lên tới 400 triệu. “Có bà người Việt ở nước ngoài góp một lúc 100 triệu đồng, nhưng tôi xúc động hơn cả là những người già sống bằng… trợ cấp xã hội, họ cũng mang 10 nghìn đồng đến, gọi là góp một giọt đồng cho chuông thiêng. Như thế đủ thấy, các quả chuông cổ, tiếng chuông và huyền tích tối cổ vùng Ngã ba Bạch Hạc có vai trò lớn đến thế nào trong tâm thức và đời sống của bà con” – ông Điền nói.

Công trình của hai tác giả Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm mang tên “Bài minh trên chuông Thông Thánh Quán và một số vấn đề lịch sử đời Trần” (đã in trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, năm 1966) có đoạn viết: “Trong hơn hai vạn bản rập bi ký Việt Nam, hiện lưu trữ ở Thư viện khoa học Trung ương có bản rập một bài minh khắc trên quả chuông đồng ở Bạch Hạc. Theo ghi chú của người rập thì đó là quả chuông treo trên gác cổng đình Bạch Hạc, tổng Nghĩa An, huyện Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (nay là tỉnh Vĩnh Phúc). Căn cứ vào bài minh thì đó là quả chuông ở Thông Thánh Quán, một quán đạo giáo đời Trần ở Bạch Hạc. Bài minh viết vào năm Đại Khánh thứ 8 (1321) đời Trần Minh Tông”. Các học giả đã trình bày công trình của mình trong 8 trang tạp chí (toàn chữ, chỉ duy nhất 1 ảnh) nói về những tư liệu quý mà bài minh kể trên đem lại cho giới khoa học, như: một giải mã các huyền sử Bạch Hạc, lý do đúc chuông, các chi tiết quý giá liên quan đến các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, tài năng tâm huyết của ông Trần Nhật Duật, cùng nhiều “chi tiết” về người phương Bắc suốt nhiều đời đô hộ và gây hấn ở Việt Nam. “Như vậy bài minh trên chuông Thông Thánh Quán ở Bạch Hạc đã cho chúng ta biết thêm một số tài liệu quan trọng về một loạt vấn đề lịch sử thuộc thế kỷ 13 và 14. Những điều đó giúp chúng ta khẳng định những điều đã chép trong chính sử, bổ sung cho chính sử hoặc từ đó rút ra những điểm mà các công trình nghiên cứu trước đây chưa đề cập đến hoặc chưa trình bày đầy đủ” - các tác giả viết.

Lại một bình minh rực rỡ vùng ngã ba sông Bạch Hạc, trên Đất tổ vua Hùng với cây chiên đàn nghìn tuổi, với đàn hạc trắng phủ kín cành lá, với cá anh vũ ăn rễ chiên đàn mà nên thiêng nên quý, trở thành Cá Tiến Vua… - tất cả bước ra từ “Lĩnh Nam chích quái”, “Dư địa chí”, từ các mô tả của nhà bác học Lê Quý Đôn cùng lời ca tụng của bao đời tao nhân mặc khách. Cũng vào một buổi bình minh, tôi và ông Nguyễn Hữu Điền trở lại thăm vết chân ngài Thổ Lệnh đại vương, thăm Bến Gót (hình gót chân thần thánh), thăm bến Bơi Chải, ngã ba sông cùng hệ thống đền chùa Tam Giang, đứng suy tưởng trước uy dũng của bức tượng đồng cụ Trần Nhật Duật đứng trên mũi một chiến thuyền kiêu hùng hướng ra ngã ba sông. Bô lão làng Hạc nho nhã đón khách, 3 quả chuông khổng lồ, mỗi quả nặng hơn nửa tấn treo trang trọng trong di tích và ở cả ngoài hiên mở ra bến sông. Nơi này, cách đây chưa lâu, bị giặc giã và những ấu trĩ một thời biến thành bình địa. Giặc phá đình làng, dựng lên một cái bốt vĩ đại trên nền đất thờ Thổ Lệnh Đại Vương, bà con tạm gọi Bốt Bạch Hạc. Chiến tranh ngưng súng đạn, bốt giặc vẫn sừng sững đứng đó (không được phép phá). Bà con xây lại tất cả, thậm chí, đình phải ngự trên… tầng 2 (tầng dưới là nhà để xe) để tránh các cơn lũ ngã ba sông, và đặc biệt, để thành hoàng làng không bị thờ ở dưới chân cái ụ chiến đấu khổng lồ, cao ngỏng của quân xâm lược đó. Lòng bốt trở thành cái lò hóa vàng của đền, chùa.

Nhà cao, chùa lớn, thời buổi này thì cứ lắm tiền là xây được thôi. Nhưng, để truy lùng được những quả chuông cổ đã hơn nửa thế kỷ biến mất về cho cụm di tích Tam Giang, rõ ràng là cần rất nhiều tâm huyết. Cần một tấm lòng thật sự với di tích, di sản, với các giá trị muôn một của cha ông bao đời. Ngẫm thế, mới thấy, các nhà kiểm kê và quản lý di tích trở nên vô dụng đến mức nào trong cái việc đem “Châu về Hợp Phố”, đem chuông quý chuông thiêng về với bến nước ngã ba Bạch Hạc này. Ai đã lập hồ sơ kiểm kê quản lý cho một quả chuông quý được sử sách ghi chép rõ ràng, trên chuông có khắc đắp chữ nổi rõ ràng rằng là của người Bạch Hạc… cho bà con vùng Vĩnh Phúc quản lý? Cũng có thể, cán bộ văn hóa địa phương không biết chữ Hán, họ thấy quả chuông nào cũng tròn tròn to to, gõ kêu kêu giống quả nào…?!!

Trong niềm vui của làng Hạc, có nỗi đau của hệ thống di tích, di sản nước ta. Làng Hạc tìm được chuông của mình, nhưng chính cái quả chuông mà người làng Hạc từng dùng làm kẻng hợp tác xã, dùng bu long đường tàu gõ cho rịa vỡ năm xưa, giờ nó ở đâu? Có bao nhiêu ngôi chùa, ngôi đình, bao nhiêu di tích, bao nhiêu điệu hồn thương nhớ không gian làng quê xưa đang ao ước được “đánh đường” tìm (và tìm thấy) chuông như ông cựu Bí thư tỉnh ủy Nguyễn Hữu Điền và bà con làng Hạc? Có rất nhiều cái làng bị mất chuông, mất di sản vĩnh viễn, bởi chiến tranh và những ấu trĩ một thời. Nhưng, quả là hiếm có ông nguyên Bí thư tỉnh ủy nào nặng lòng với tiếng chuông chùa ngày cũ, dám đắm đuối đi tìm chuông cổ ‘trên từng cây số” như ông Điền.

Phú Thọ, Hà Nội, cuối năm 2009
(kèm chùm ảnh 10 chiếc)









February 2014
S M T W T F S
January 2014March 2014
1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28